Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 3: Ơn gọi và sứ vụ của Thánh Phaolô

I.    BIẾN CỐ TRÊN ĐƯỜNG ĐI ĐA-MÁT

Là người Do thái trung thành, đầy nhiệt huyết, Phaolô nghĩ mình đang làm việc bổn phận khi ngược đãi, bắt bớ, xiềng xích môn đệ Chúa Giêsu và giải họ về Giêrusalem.

Một hôm trên đuờng đi Đa-mát, Chúa Giêsu đã tỏ mình ra với ông trong ánh sáng, làm cho ông hiểu rằng ông đang bách hại chính Ngài. Đấng Phục sinh giao cho ông sứ vụ: mang Danh Ngài đến trước mặt các dân ngoại (Cv 9,15)

Biến cố Đa-mát này được Thánh Luca kể lại 3 lần trong sách Công vụ :9,3-9 ; 22,6-11; 26,11-18 và chính Thánh Phaolô kể lại một lần trong thư gửi tín hữu Ga-lát 1,6-24

Trong cái nhìn Kitô giáo, người ta có xu hướng xem Thánh Phaolô là một trong “những kẻ trở lại” lớn nhất. Tuy nhiên, từ biến cố đã thay đổi Sa-un từ một kẻ bách đạo thành một chứng nhân kiên cường của Đức Kitô, ta phải nói về “sự trở lại” hay “ơn gọi” ?

Phải hiểu rõ về từ “trở lại”. Thật ra Phaolô không chối bỏ Do thái giáo để đi vào Kitô giáo như một đạo giáo mới. Cuộc đời của ông có nhiều yếu tố Do thái giáo. Ông không thể phân biệt chính xác giữa hai đạo giáo. Phaolô là và vẫn là Do thái, nhưng cuộc biến đổi thâm sâu mở ra nơi ông là: ông không còn đặt niềm tin tưởng, liên quan đến ơn cứu độ, vào những đặc quyền Do Thái của ông, nhưng cậy dựa vào một mình Đức Giêsu, Đức Kitô Cứu Độ.

Nói một cách khác, kể từ biến cố Đa-mát, Phaolô biết được rằng ơn cứu độ của ông không nằm ở chỗ giữ luật cách nghiêm nhặt, nhưng ở Lòng tin vào Đức Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất. Vì thế, những thuận lợi mà ông có được dưới danh nghĩa Do thái, ông xem như không còn giá trị gì trước sự khám phá ra Đấng Phục sinh, Ngưồn Cứu Độ duy nhất chân thật. (Pl 3,8)

Được bắt và được tăng sức bởi cái kinh nghiệm đã biến đổi ông, Phaolô trở thành một người “được gọi” cho một sứ vụ đặc biệt là đem Tin mừng cho dân ngoại đến tận cùng trái đất. Thánh nhân cũng đã trình bày ơn gọi của mình trong đoạn tự thuật Gl 1,6-24:

-         trong bối cảnh các ơn gọi tiên tri

-         theo một thị kiến: thị kiến của Con Thiên Chúa

-         cho một sứ vụ: loan báo Tin mừng cho dân ngoại

II . TÔNG ĐỒ CỦA MUÔN NUỚC VÀ NHÓM MƯỜI HAI

Được Thiên Chúa chọn, Phaolô nhận lấy danh hiệu “Tông đồ của dân ngoại” (Dt 11.13). Ông thông phần  các quyền lợi và đặc ân với các tông đồ khác:” …nhận ra ân huệ Thiên Chúa đã ban cho tôi, các ông Giacôbê, Kêpha và Gioan, những người được coi là cột trụ, đã bắt tay tôi và ông Bác-na-bê để tỏ dấu hiệp thông …” (Gl 2,9). Hoạt động tông đồ bao gồm trong việc loan báo sứ điệp, trong việc nối kết vào truyền thống và thành lập các giáo đoàn kitô hữu. Sứ điệp chỉ có MỘT vì chỉ có một Tin Mừng :duy nhất là sự kiện Chết-Sống lại của Đức Kitô. Đó là trái tim của sứ điệp của Phaolô.

Truyền thống thì đang hình thành vào lúc Phaolô viết: điều mà Phaolô truyền đạt, chính ông đã lãnh nhận (1 Cr 11,3; 15,3-8) : đó chính là Tin mừng “của ông”( 1 Cr 15,1)

Thành lập và điều hành giáo đoàn cũng là công việc riêng biệt của các tông đồ. Tất cả các giáo đoàn riêng lẽ hợp thành một Hội thánh. Phaolô thuyết phục rất nhiều về điều đó như ta thấy trong 1Cr, 2Cr “…gửi Hội thánh của Thiên Chúa ở Cô-rin-tô …”

Sứ vụ tông đồ của Phaolô đồng thời cũng là “đặc sủng” vì chính Chúa Kitô Phục sinh ủy nhiệm cho ông, và “hợp thể chế” vì ông nối kết mình vào hàng ngũ các tông đồ.

Cũng không có sự trái ngược nào giữa sự độc lập tinh thần và sự tùng phục nhóm tông đồ. Chính nhóm tông đồ nhận sự phong phú tinh thần và Phaolô hành động như người đại diện đem sự phong phú ấy tặng cho dân ngoại.

III.         ƠN GỌI CỦA PHAOLÔ VÀ ƠN GỌI CỦA CHÚNG TA.

Phaolô là tông đồ của thời bắt đầu. Ơn gọi của ông là độc nhất. Tuy nhiên, việc tông đồ đã khởi sự phải được tiêp nối. Chính người kitô hữu chúng ta phải theo đưổi công việc này.

Chúng ta cũng đuợc kêu gọi bởi ân sủng của Thiên Chúa để nhận biết Đức Kitô và đuợc Người nắm bắt. Chúng ta được gửi đi để loan báo sứ điệp đã lãnh nhận và làm chứng nhân tin mừng cho Đấng Phục sinh, để linh hoạt các cộng đoàn kitô hữu bằng cách trung thành với Thầy: một sự trung tín năng động, sáng tạo, thích nghi với thời đại và văn hóa.

1.    Trong bối cảnh các ơn gọi tiên tri

Thánh Phaolô đã liên hệ đến ơn gọi tiên tri khi ông nói “ Ngay từ trong lòng mẹ Thiên Chúa đã gọi tôi (Gr 1,5 và Is 49,1). Như các tiên tri, ông nhận ra như một tiếng gọi trở thành “người mang Lời Thiên Chúa”. Cũng vậy,Tin mừng mà ông rao giảng không phải là do “loài người”, nhưng đã được “Đức Giêsu Kitô mặc khải” (Gl 1,11-12). Ta tìm thấy cùng một kiểu nói ở câu 16 :” Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin mừng về Con của Người cho các dân ngoại”

Phaolô tự đặt mình vào hàng ngủ các tiên tri đuợc Thiên Chúa kêu gọi, tuyển chọn từ trong lòng mẹ, nhưng chính xác hơn nữa, Phaolô tự đặt mình trong sự viên mãn của các tiên tri. Chính Đức Kitô vinh quang đã “chộp” lấy ông và ông rao giảng chính Đức Kitô Phục sinh, Vinh hiển.

Tiên tri là một bộ phận của ơn gọi tông đồ. Đặc sủng tông đồ bao trùm tất cả ba đặc sủng mà Thánh phaolô liệt kê ra (1 Cr 12, 28-30; Rm 12,6-8; Ep 4-11). Trong bảng liệt kê này đặc sủng tông đồ bao giờ cũng đi đầu, theo sau mới là đặc sủng tiên tri.

2.    Được gọi qua một thị kiến

Cách mà Đấng Phục sinh tỏ mình ra cho Phaolô, ông gọi đó là một thị kiến: “Tôi không tự do ư? Tôi đã không thấy Đức Giêsu Chúa chúng ta sao? “(1Cr 9,1). Và còn nữa :” Đức Kitô đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt … Sau hết, Người hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.” (1 Cr 15,5-8). Phaolô không trông thấy Chúa Giêsu tại thế như các tông đồ đã nhìn thấy, ông nhìn thấy Đấng Phục sinh cũng chính là Giêsu mà Nhóm Mười hai đã gặp và theo trên các nẻo đường Palestine. Phaolô trông thấy Chúa, Chúa đã hiện ra cho ông. Ngài cũng mặc khải cho tôi (Gl 1,6): mặc khải ghi dấu ấn sự hiện diện của Đức Kitô và qua Đức Kitô đến với dân ngoại.” Thiên Chúa của ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Kitô (2 Cr 4,6). Phải chăng điều này đã khiến ông thốt lên :” Tôi sống, nhưng không phải tôi sống mà chính Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20)

Sự mặc khải hoàn toàn là ơn của Thiên Chúa. Phaolô nhấn mạnh khía cạnh ân sủng này:” Ngài kêu gọi tôi, do bởi ân sủng Người” (Gl 1,15) …   “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa (1 Cr 15,10) … Thiên Chúa ban cho tôi ân sủng này là loan báo cho các dân ngoại Tin Mừng về sự phong phú khôn lường của Đức Kitô” (Ep 3,8).

Tât cả đã được ban cho ông để trở nên cho muôn dân dấu chỉ của Thiên Chúa giàu lòng Thương Xót mà sáng kiến của Người luôn luôn đi trước mọi tìm kiếm của con người. Nơi ông, “kẻ rốt hết”, sự phong phú của ân sủng đã tỏ hiện, từ người bách hại giờ đây trở thành nhân chứng cho Tin mừng. Đối với Phaolô đó là ơn của Thiên Chúa thông qua Đấng Kitô Phục sinh đã hiện ra cho ông. Sứ vụ gắn liền với ơn gọi tông đồ.

3.    Cho một sứ vụ đặc biệt

Nơi các tiên tri, thị kiến và sứ vụ thì không thể tách riêng ra được. Với Phaolô cũng thế:” … mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin mừng về Con của Người cho các dân ngoại ….” (Gl 1,16)

Phaolô, do ơn gọi, cũng trở thành “chiếc bình được lựa chọn để mang Danh ta đến dân ngoại (Cv 9,15)

“Đối với tôi, rao giảng Tin mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.” (1 Cr 9,16). Tin mừng là một sự cần thiết bắt buộc ông cách “sống động” như tiên tri Giêrêmia (Gr 20,9).

Phaolô là người được gọi theo cách thức của Người Tôi Tớ Isaia mà Thiên Chúa muốn làm thành ” ánh sáng muôn dân” để cho “ơn cứu độ của người vươn tới tận cùng trái đất (Is 49,6). Phaolô cũng nhận ra người Tôi Tớ mang Tin Mừng đến cho muôn dân (Rm 15, 20-22). Người Tôi Tớ, không phải ở chỗ của Đức Kitô nhưng là bước đi theo Người.

CÂU HỎI BÀI SỐ 3

Ơn gọi và sứ vụ của Thánh Phaolô.

Đọc thật kỹ và thấm nhuần đoạn văn Pl 3,4-16

  1. Những lý do nào khiến Phaolô tự tin vào chính mình?
  2. Nhân danh ai/ cái gì , ông đã từ bỏ sự tự tin này?
  3. Được biết Đức Kitô là một thắng lợi lớn. Vì sao? Bạn hiểu câu 9 và câu 10 Thánh Phaolô muốn nói gì ?
  4. Thánh Phaolô diễn tả sự năng nổ của việc ông trở lại từ câu 11 đến câu 16 như thế nào?

 

Bài số 3 – Đọc thêm

BIẾN CỐ NGÃ NGỰA: LỄ THÁNH PHAOLÔ TRỞ LẠI 

Đọc lại cuộc đời Thánh Phaolô, ta nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ lùng.

Đọc Công vụ Tông tồ từ chương 8 trở đi, ta sẽ bắt gặp một Saolô, ở Tacxô, là người Do thái, trí thức,thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái – Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Phaolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Têphanô và rong ruổi mọi đường Đamát truy lùng các Kitô hữu. Được ơn trở lại qua cú ngã ngựa trên đường Đamat, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô,Tông Đồ dân ngoại. Từ đây cuộc đời của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca.Thiên anh hùng ca của vị tông Đồ đã sống và đã chết cho Đức Kitô.

Cuộc sống bôn ba vì Nước trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ, đói khát,trần truồng, nguy hiểm,gươm giáo? … Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tương lai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác,không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta” (Rm 8,35-39).

Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống đã viết rắng: nét đẹp nhất nơi Phaolô là cú ngã ngựa lịch sử. Cuộc đời Thánh Phaolô có nhiều hình ảnh đẹp. Chẳng hạn khi ngài xuất thần thì được đưa lên tầng trời thứ ba; chẳng hạn khi ngài ứng khẩu rao giảng Tin Mừng nơi Nghị viện Hylạp; chẳng hạn khi Ngài lênh đênh trên biển đi tìm vùng đất mới đem về cho Chúa bao nhiêu linh hồn; và còn rất nhiều hình ảnh đẹp khác nữa. Nhưng tại sao Giáo Hội không chọn trong số những hình ảnh đẹp ấy, mà lại lấy hình ảnh ngã ngựa để đem mừng kính trong một ngày lễ? Thưa vì đó là một biến cố quan trọng phân chia cuộc đời ngài ra làm hai nửa theo hai hướng đối nghịch nhau, nhưng cùng làm nên một cuộc đời có tội lỗi và ân sủng, có yếu đuối và sức mạnh, đồng thời cũng có thất bại và thành công.

Hai hình ảnh ấy dường như hội tụ lại trong hình ảnh thánh Phaolô ngã ngựa mà Giáo hội mừng kính hôm nay.

Cú ngã ngựa cũng là ngã rẽ cuộc đời.

Về danh xưng, nửa đời trước là Saolô với một câu hỏi “tại sao?” đang cưỡi ngựa vút lao đi tìm giải đáp cho cuộc đời; còn nửa đời sau là “Phaolô” đã trở thành chiếc phao cứu tử cho cả lô linh hồn ngài gặp trên đường truyền giáo.

Về vị thế, nửa đời trước là một người Biệt phái chính cống, được giáo dục đường hoàng bởi ông thầy trứ danh Gamaliel, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau là một vị Tông đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như ngài thú nhận “tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi”

Về hoạt động, nửa đời trước là một chàng thanh niên tin tưởng cuồng nhiệt vào luật lệ Do Thái, tự tay vấy máu trong những cuộc bách hại Kitô hữu, cụ thể là cộng tác vào việc ném đá Stêphanô và tự ý đến xin các Thượng tế cấp giấy phép cho mình được quyền bắt bớ bất cứ ai tin vào Chúa Kitô nơi Hội đường Do Thái; thế mà nửa đời sau lại trở thành một người hăng say can đảm tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô mà ông đã bách hại trước đó, bất kể ánh nhìn e dè nghi ngại của những người Kitô hữu và bất kể sự nguy hại tính mạng so những người Biệt phái cũ của ông.

Về tình cảm, nửa đời trước là một Saolô mù quáng hận thù, nhưng từ khi gặp được ánh sáng Chúa Kitô bao phủ, ông đã bị choáng ngợp mù lòa, để cặp mắt mình được thanh tẩy, mở đầu cho một nửa đời khác bước đi trong ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa.

Về hướng đi bản thân, nửa đời trước là một Saolô kiêu căng tin vào sức mạnh của con người, đang xây dựng nhũng mưu đồ tiến thân của mình, bất kể những khổ đau của người khác; nhưng nửa đời sau là một Phaolô bị quật ngã biết mình yếu đuối, nên chỉ tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, đang gieo bước hân hoan trong ý hướng hiến thân phụng sự Thiên Chúa bất kể những đau khổ mình phải chịu: “Tôi có thể làm mọi sự trong Đấng là sức mạnh tôi”.

Tóm lại, biến cố ngã ngựa là một tổng hợp tiêu biểu cho cuộc đời Thánh Phaolô. Nó nói lên sự thất bại của mưu đồ của con người và xác định sự thành công trong ý hướng Thiên Chúa. (x Bài giảng Chúa nhật tháng 01.2008)

Biến cố ngã ngựa đã ghi dấu đậm nét trong cuộc đời Phaolô. Sách Công vụ Tông đồ kể lại: thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông.Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó. Từ đó trở đi,Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô.Từ đó trở đi,chỉ có Chúa Kitô là đáng kể. Khi đã biết Chúa Kitô thì “ Những điều kể được như lợi lộc cho tôi đó,tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Đức Kitô.Mà chẳng những thế, tôi còn coi mọi sự hết thảy là thua lỗ,là bất lợi cả,vì cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô,Chúa tôi.Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự và coi là phân bón cả, để lợi được Đức Kitô,và được thuộc về Ngài,không có sự sông chính của riêng tôi,sự công chính nại vào Lề luật, song là sự công chính nhờ vào lòng tin của Đức Kitô …( Pl 3,7-9).Từ đó trở đi,Phaolô hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự duy nhất,sự bình đẳng,tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người:  “vì anh em,phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô,thì đã được mặc lấy Đức kitô: không còn Do thái hay Hy lạp;không còn nô lệ hay tự do;không còn nam hay nữ;vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu (Gal 3,27-28).Vì Đức Kitô là “tất cả mọi sự và trong mọi người” ( Col 3,11). Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô.Biết mình đã tin vào ai,Phaolô đã sung sướng sống nghèo,lấy việc lao động mà đổi miếng ăn,không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cor 9,3-18; 2Cor11,8-10), sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô.Phaolô không ngại trở nên hùng hồn kể về những “… lao tù đòn vọt, bao lần suýt chết,năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một,ba lần bị đánh đòn,một lần bị ném đá,ba lần bị đắm tàu,một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi. Phải chịu đủ thứ nguy hiểm bởi “phải thực hiện nhiều cuộc hành trình,gặp bao nguy hiểm trên sông,nguy hiểm do trộm cướp,nguy hiểm do đồng bào,nguy hiểm vì dân ngoại,nguy hiểm ở thành phố,trong sa mạc,ngoài biển khơi,nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em;phải vất vả mệt nhọc,thường phải thức đêm,bị đói khát,nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng ( 2 Cor 11 23-27).Phaolô ra vào tù nhiều lần. Có lần Ngài viết từ ngục thất cho Timôthê,người môn đệ có khi không khỏi nao núng: “anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta,cũng đừng hổ thẹn vì tôi,là kẻ bị tù vì Ngài”. Phaolô không hổ thẹn vì tôi biết tôi đã tin vào ai …(2 Tim 1,8-12).Vì đức Kitô “tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi,nhưng Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích” ( 2Tìm 2,9). Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “ Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2 Cor 12,9).Không gì có thể làm nao núng lòng tin ấy ”chúng tôi bị dồn ép mọi mặt nhưng không bị nghẽn;lâm bĩ nhưng không mạt lộ;bị bắt bớ nhưng không bị bỏ rơi;bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt”( 2cor 4,8-9) Phaolô nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức ”Khốn thân tôi,nếu tôi không rao giảng Tin mừng”( 1Cor 5,14)..Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài  “tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa,là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi”( Gal 2,20). Những cú ngã ngựa trong đời tín hữu.

Biến cố ngã ngựa đã chia đôi cuộc đời Thánh Phaolô.Từ một kẻ thù Chúa đã biến ngài thành một người bạn, một người tình. Từ một người đi lùng bắt những Kitô hữu, Chúa đã biến ngài trở thành người rao giảng về Người và sãn sàng chết vì Người.

Phaolô đã viết những lời thật cảm động: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (xem 2 Tm 4,6-8 Rm 8,18-19.32.33.38.39)

Nhìn vào biến cố “ngã ngựa” của Thánh Phaolô để rồi nhìn lại cuộc đời mình, biết đâu ta cũng gặp nhan nhản nhũng cú “ngã ngựa”. Có nhũng cú ngã ngựa trong đời sống thiêng liêng liên hệ với Chúa; có nhũng cú “ngã ngựa” trong đời sống tình cảm liên hệ với tha nhân; có những cú ngã ngựa trong đời sống chiến đấu nội tâm; và có nhũng cú ngã ngựa trong đời sống xác thân bên ngoài như công ăn việc làm, học hành, danh dự, tình yêu, tương lai, hạnh phúc, sức khỏe…

Nhưng điều quan trọng là đừng nhìn “ngã ngựa” chỉ như một thất bại để rồi cuốn theo thất vọng quỵ ngã không gượng dậy được. Hãy nhìn “ngã ngựa” như một thất bại cho một thành công lớn hơn trong ơn thánh. Ăn trái cấm là một thất bại của Ađam Evà trong quyền làm chủ, nhưng lại là một điều kiện bật mở chương trình cứu độ với việc Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. “Tội hồng phúc” là thế. Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một thất bại đau đớn trước mặt trần thế, lại là một thành công trong chiến thắng cứu độ vinh quang. Và cú “ngã ngựa” của Thánh Phaolô hôm nay là một thất bại chấm dứt cuộc đời săn bắt Kitô hữu, nhưng lại là một thành công mở đầu cuộc sống lên đường truyền giáo của vị tông đồ.

Như vậy người ngã ngựa không chỉ nhìn vào mình để cay cú cuộc đời, mà nhìn vào Chúa để tìm sức mạnh đứng lên trong ánh sáng niềm tin. Nếu “ngã ngựa” là điều không thể tránh được, thì điều quan trọng là luôn sẵn sàng để biết đứng dậy. Không phải khi ngã người ta trở nên mạnh mẽ mà là khi biết đứng dậy người ta mới chứng minh được bản lĩnh mạnh mẽ của mình.

LM. Giuse Nguyễn Hữu An