Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 25: Cảm nghiệm luân lý

Trong phần kết của những bài học luân lý, kết luận phù hợp nhất chính là tìm hiểu xem điều gì là trọng tâm trong cảm nghiệm luân lý của con người, người tin cũng như người không tin. Cần phải chỉ ra chính những cố gắng luân lý của con người dẫn đưa đến tuyệt đối, đến Thiên Chúa như thế nào ?

1.- KINH  NGHIỆM  LUÂN  LÝ

     Hàng ngày, ai cũng cảm thấy trong tâm hồn của mình có những đòi hỏi rất mãnh liệt. Cảm nghiệm luân lý là sự tranh đấu của con người trước những đòi hỏi ấy, và cuối cùng là trước chính bản thân, truớc nhân loại. Vì con người muốn “là”, và vì mục tiêu cần đạt tới của con người là hạnh phúc, một thứ hạnh phúc chỉ có thể cảm nhận trong thân phận con người – nên con người có những cảm nghiệm luân lý. Nói về cảm nghiệm luân lý, là nói đến khả năng đón nhận những giá trị nào đó, đến khả năng đưa ra những quyết định. Cảm nghiệm về những giá trị, về những quyết định bao hàm một số khía cạnh :

a)    Điều thay đổi ý muốn và hành vi của chúng ta, đó là điều thiện hảo. “Pax et Bonum”. Dòng Phan Sinh có khẩu hiệu “Điều thiện hảo được kiếm tìm trong Hoà Bình”. Nhiều hành vi của con người được dựa trên điều thiện hảo khách quan, hiểu theo nghĩa rộng : thiện hảo của nhân loại, thiện hảo của nhiều người. Nhiều hành động cũng dựa trên sự thiện hảo của riêng cá nhân, dựa trên giá trị chúng ta yêu mến : đó là sự thiện hảo “của tôi”. Thiện hảo cũng có vẻ mặt : Thiện hảo của công lý, của tình bạn, của lòng tốt, của tình yêu, và thiện hảo có liên hệ chặt chẽ với giá trị của chân lý, của vẻ đẹp. Thiện hảo còn khoác muôn hinh muôn vẻ nữa tùy theo lịch sử cá nhân, theo những bối cảnh xã hội mà chúng ta sống.

b)    Ai cũng cho rằng chúng ta không thể hạnh phúc nếu như không để ý lưu tâm đến người khác. Quả vậy, chính qua người khác mà điều thiện hảo được cụ thể hoá. Bộ mặt người khác luôn luôn chất vấn chúng ta. Nó phản ánh tâm trạng, cảm xúc qua nụ cười, tiếng khóc …. Nó tác động đến ý thức của chúng ta , nó bắt chúng ta phải đối diện với những lựa chọn, những giá trị. Nó đòi chúng ta phải ý thức trước những hạn chế và phải vượt qua những hạn chế đó. Theo triết gia Levinas, gương mặt con người làm thức tỉnh trách nhiệm ở tầm mức tuyệt đối, tầm mức cao nhất.

   c)   Cảm nghiệm luân lý luôn đặt chúng ta đối diện với sự tự do. Con người luôn luôn tự do trong những lựa chọn, những phản ứng của mình. Con người có quyền tạo ra những giá trị, có quyền đi vào thế giới của sự thật, của vẻ đẹp, của sự thiện hảo một cách cá nhân và chủ động. Tự do là khả năng sáng tạo, là lựa chọn giữa xấu và tốt, là chọn những gì chúng ta cho là và muốn là đang khi tính đến những hậu quả tức thì hoặc lâu dài đối với bất kỳ hành vi nào. Nhà văn Saint Exupéry có viết : “là người khi có trách nhiệm”. Ý thức trách nhiệm cá nhân là một trong những giá trị mà con người ngày nay đang tìm kiếm lại.

Đơn cử một thí dụ về tầm quan trọng của việc ý thức trước những hậu quả của hành động, đó là nhà Vật lý Sô Viết (cũ) A . Sakharov, một trong những người phát kiến ra bom hạt nhân.

A. Sakharov dành cả cuộc đời cho nghiệp vật lý. Năm 1953, trong lần thử nghiệm bom hạt nhân đầu tiên, Sakhrov nhận thấy những con chim chết rất tội nghiệp (cánh bị thui cháy, mắt bị mù ….). Việc này đã khiến ông có ý thức đến những thực tại nào đó. Vài năm sau, tức năm 1957, ông đã viết một bài báo mô tả những hậu quả khôn lường của bom hạt nhân : hậu quả lớn gây biến đổi gien. Những tuyên bố của ông đã khiến giới khoa học lưu tâm. Nhưng cũng vì những tuyên bố đó, ông bị tước mất quyền công dân và chính trị, mất tất cả danh dự và quyền lợi. Ông phải đương đầu với những thế lực đe dọa chống lại ông và gia đình. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục tranh đấu và năm 1975, ông được giải Nobel Hoà Bình.

Tùy theo khả năng, mỗi người chúng ta cũng phải ý thức về khả năng và giới hạn của chúng ta. Con người khao khát điều thiện hảo bằng nhiều cách thức : bằng tài năng của mình, con người phục vụ người thân và đồng loại bằng niềm tin, bằng tình yêu, bằng đức tin, con người tìm ra những lý do để sống có ích. Không những cảm nhận mà con người còn thực hiện được điều thiện hảo. Rõ ràng một đời sống tôn trọng lề luật (luật của Thiên Chúa), một đời sống tự do và có trách nhiệm là đời sống luân lý cao nhất, lý tưởng nhất. Nhờ công nghiệp của Đức Giêsu, nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, nhờ bạn bè (trong sự hiệp thông với các thánh), chúng ta có thể đạt được lý tưởng này.

2.- KINH NGHIỆM LUÂN LÝ VÀ KINH NGHIỆM THIÊN CHÚA

     Nếu sống luân lý theo kiểu “nghĩa vụ bắt buộc” và nhất là “nghĩa vụ ấy” chỉ là sự võ đoán, không dựa trên đời sống, thì lối sống ấy sẽ đưa con người đến ngõ cụt. Đứng trước cái “bạn phải”, con người chỉ có thể trả lời “tôi không thể”. Đưa vào ngõ cụt vì sống kiểu này là sống trong sợ hãi, lo lắng. Lối sống này được thể hiện trong sự căng thẳng giữa lành và dữ : “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm” (Rm 7, 15) . Nhưng thánh Phaolô và người tín hữu đã thấy nơi Đức Giêsu một sức mạnh thần linh, một sức mạnh biến đổi chúng ta. Chính vì thế, thánh nhân luôn có kinh nghiệm về sự bình an và niềm vui.

Cảm nghiệm luân lý có thể bóp méo khuôn mặt của Thiên Chúa, nếu như không được thanh luyện trong chân lý và tình yêu. Thường đối với nhiều người, Thiên Chúa như là một kẻ bắt chẹt, một nhà luật pháp chỉ có cấm đoán, một đấng thưởng phạt. Kinh thánh và truyền thống Kitô hữu giúp chúng ta có một lối nhìn khác về Thiên Chúa. Phải nhìn Người như là một vị Thiên Chúa Cha, Cha của Đức Giêsu, Thiên Chúa tình thương và nhân hậu.

“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 23, 37).

 Câu Kinh thánh này là một đòi hỏi về tình yêu, về sự đón nhận người khác. Thiên Chúa dựng nên chúng ta là do tình yêu, và Người để chúng ta tự do lựa chọn : “Nếu các ông ở lại trong Lời của Tôi, thì các ông thật là môn đệ Tôi”, các ông sẽ biết Sự Thật và Sự Thật sẽ giải phóng các ông.”(Ga 8, 31 – 32).

Lời dạy này của Đức Giêsu không giới thiệu Thiên Chúa như một nhà lập pháp. Đức Giêsu không nói với chúng ta rằng : “Các con phải” nhưng là “Các con có thể”. “Với Thầy, anh em có thể” . Lời nói ấy của Đức Giêsu là chiếc chìa khoá. Chắc chắn thánh Phaolô đã có kinh nghiệm ấy như được mô tả trong những lá thư của Người.

Thánh Phaolô đã có ý thức rất sáng sủa về sự năng động này. Thánh nhân đã công bố vấn đề này. Bằng đức tin và lòng tin tưởng, thánh nhân đã nói cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể nối kết, gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô, thánh nhân đã kêu gọi sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng yêu mến và cứu vớt chúng ta (Rm 1, 16 – 17). Đức Giêsu ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta. Thánh Thần sẽ giúp đỡ, hướng dẫn và hoàn tất nơi chúng ta công việc thánh hoá. Thánh nhân viết : “Bây giờ (nghĩa là với và trong Đức Giêsu Kitô phục sinh), chúng ta có thể sống trong bình an và được mở lối vào với Thiên Chúa.” (Rm 5, 1 – 2).

Trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh Phục sinh. Và như vậy, chúng ta có thể : “sống với Thiên Chúa”, “sống với Chúa Cha” theo hình ảnh và gương sáng của Đức Giêsu Kitô (Rm 6, 10 – 11). Qua Đức Kitô, chúng ta có thể sống một đời sống mới (Rm 6, 4). Đời sống mới chính là Đức Kitô, Đấng đã cứu vớt, đưa chúng ta ra khỏi tối tăm mà đưa đến cùng Thiên Chúa. Đấng hoà giải cho bản thân chúng ta và cho tha nhân. Không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Ga 2, 20) . Trong những kinh nghiệm của thành Phaolô, của các tác giả Tin Mừng, của các thánh nam thánh nữ, chúng ta thấy các vị trình bày cho chúng ta không gì hơn ngoài đường giải thoát.

3.- NƠI MỞ LÒNG RA VỚI THIÊN CHÚA

Vậy đâu là nơi mở lòng ra với Thiên Chúa trong ý thức luân lý ? Mở lòng ra với Thiên Chúa chính là nơi “Bạn phải” chuyển thành “Bạn có thể”, nét đặc trưng của sự gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu đã  nói : “Ngoài Ta ra, các con không thể làm gì được” (Ga 15, 5) .Đức Giêsu là nội công chủ yếu cho chúng ta, vì Người là lối diễn tả tuyệt hảo cho tình yêu, cho lòng lân tuất vô biên. Người cho chúng ta thấy Tình yêu Thiên Chúa luôn đi bước trước, Người là Đấng cứu độ, thứ tha và nhiệm vụ của chúng ta là đóng góp mở mang Nước Thiên Chúa. Thánh Phaolô mô tả biến cố trở lại của mình như là một khám phá thấy Đức Giêsu Kitô hiện diện nơi bản thân, nơi cuộc sống của mình.

Khi chúng ta có những cảm nghiệm về ơn nhưng không, về vẻ đẹp của vạn vật, của con người, là lúc chúng ta đang đi trên con đường về với Thiên Chúa. Cảm nghiệm về sự thiện hảo, về vẻ đẹp đưa chúng ta vượt ra khỏi bản thân . Tuy nhiên con người luôn luôn muốn đi xa hơn nữa. Đức Giêsu đã tỏ lộ cho chúng ta một thế giới bên kia và hướng dẫn chúng ta bước đi trên con đường của chân lý, của sự sống. Chúng ta có đường đến với Thiên Chúa, đến với Chúa Cha, nhưng chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa nhân lành vô cùng, tốt đẹp dường bao.

Với Kitô hữu chúng ta, nhận mình là một thụ tạo của Thiên Chúa, nhận mình có những cảm nghiệm luân lý đó là những điều kiện liên kết các tín hữu lại với nhau. Mối liên kết này chính là Đức Giêsu Kitô. Qua cuộc sống. Qua sự lựa chọn, qua thái độ của chúng ta, Thiên Chúa kết nối chúng ta lại, qua những hành động, tư tưởng, chúng ta “thể hiện” những gì của Thiên Chúa, chúng ta minh chứng cho Ngài. Với người Kitô hữu, không có thứ luân lý giống như trong sách vở. Cuối cùng, trong những lề luật, chính Đức Giêsu sẽ là người chất vấn chúng ta, thúc đẩy chúng ta tự do thi hành trách nhiệm.           

                                                    *************  

Bạn đã hoàn tất 25 bài cours “Một số vấn đề luân lý”. Bạn vui lòng đọc lại toàn bộ các bài học để nắm chắc hơn nội dung chúng ta trao đổi trong khóa học này.

Chúc Bạn luôn vui tươi, bình an và hăng say trong việc học hỏi và khám phá Lời Chúa.

Nhóm Giáo chức Công Giáo Giáo phận Sàigòn

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn