Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 23: Người tín hữu và chính trị

     Chúng ta thường nghe được những câu phản ứng : “Tôi á hả, tôi không bao giờ thèm làm chính trị”. “Chính trị quả là thối nát … ”.Người ta cho rằng chính trị là nơi tìm kiếm quyền lực, là thế giới của vụ lợi, của tham vọng, của gian lận. Một số tín hữu sợ chính trị, có lẽ vì đã chứng kiến thấy những tiền lệ, những hậu quả do những ý thức hệ muốn chế ngự tinh thần, muốn đè bẹp niềm tin của tín hữu và Giáo hội. Số tín hữu khác thì nghĩ rằng tốt hơn là cứ sống niềm tin, đừng màng tới chính trị. Phải chăng những tư tưởng ấy cũng là cách làm “chính trị” theo kiểu đà điểu ?

Bình thường, chính trị là quản trị tài sản chung, điều hành và trông nom trật tự công cộng, xây dựng đời sống ấm no cho nhân dân. Ngày nay, những trách nhiệm chính trị càng ngày càng nặng, vì những quyết định cùng lúc đụng chạm tới sự sinh – tử, tới thể chế gia đình, tới cuộc sống kinh tế xã hội, tới giáo dục, tới chính sách quốc tế. Hơn nữa, nếu như trước đây, chính trị hầu như thuộc quyền Nhà Nước (Etat), thuộc bộ máy chính quyền, thuộc các bộ, thì ngày nay chính trị như là công việc của mọi người. Mọi người đều có quyền biểu quyết. Chúng ta có khả năng sáng tạo, khởi kiến, vấn đề là phải chú tâm trau giồi, học hỏi.

Đề cập đến vấn đề luân lý chính trị, trước tiên chúng ta tìm hiểu Chúa Giêsu  đã nhìn chính trị như thế nào , và thái độ của Người ra sao ? Sau đó, chúng ta tìm hiểu xem Giáo hội ngày nay quan niệm về chính trị như thế nào ? Và Giáo hội khuyên nhủ con cái mình về chính trị ra sao ?

1.- Đức Giêsu với chính trị

Trong thời đại của Đức Giêsu, Người vừa thâm nhập, lại cũng vừa xa lánh chính trị. Người thâm nhập vào đời sống chính trị vì Người sống trong xã hội đó. Người gắn bó với những tập tục, thừa nhận những luật lệ, những phong hóa đương thời. Tuy nhiên, sự liên đới, gắn bó ấy cũng được thể hiện qua việc Người chối từ tất cả những gì đóng khung con người trong óc bè phái. Đức Kitô giữ một khoảng cách nhất định, Người tham gia vào một phái nhưng không phải là “đảng viên”.

 Nếu nghe những lời và quan sát thái độ ứng xử của Người, chúng ta sẽ phát hiện thấy 4 điểm sau :

a)    Đức Giêsu chống đối mạnh mẽ sự lạm dụng quyền lực, lối thi hành cách cứng ngắc, hay chỉ đặt nặng trên quyền lực : “Anh em biết, thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân …. Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em.”(Mt 20, 25 – …) Người cũng cảnh giác cá môn đệ : “Hãy coi chừng men Hêrôdê” (Mc 8, 15) và còn báo trước cho họ biết những ý hướng xấu xa của một số lãnh đạo mà Người biết trước những mánh lới của họ. Như vậy, Đức Giêsu đề cao lối thực thi quyền lực như người phục vụ.

b)    Đức Giêsu thừa nhận tính hợp pháp của chính trị và Người cũng xác định những giới hạn của nó : “Hãy trả cho César những gì thuộc César, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc Thiên Chúa” (Mc 8, 15). Người kêu gọi hãy phân biệt quyền bính chính trị với một thứ quyền lực khác, một lề luật khác, đó là lề luật, đó là lề luật của Thiên Chúa, một lề luật được khắc ghi trong cung lòng, có nhiệm vụ khai sáng các lương tâm. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ các tín hữu Rôma cũng với tâm tình này : “Cần phải phục tùng các chính quyền, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm.” (Rm 13, 5). Giống Đức Giêsu, thánh Phao lô tôn trọng những quyền hành được thiết định.

c)     Mặt khác, Đức Giêsu không bao giờ thừa nhận có sứ mạng chính trị. Người đã chối từ khi người ta có ý định chân nhận Người như là một vị Ngôn sứ. Một vị Vua (Ga 6, 14 – 15). Đức Giêsu không muốn lãnh đạo đất nước, cũng không muốn đứng đầu các phong trào giải phóng, hay khôi phục lại đất nước Israel. Người đã trả lời quan Tổng trấn Philatô : “Nước tôi không thuộc về thế gian này.”(Ga 18, 36). Bởi đó, cần phân biệt trật tự, phạm vi nào thuộc chính trị còn trật tự, phạm vi nào thuộc tôn giáo.

d)    Tuy nhiên, trong tư cách là một công dân bình thường, Người đã có những cử chỉ mang ý nghĩa chính trị rõ ràng. Người nộp thuế, Người không đồng ý việc tẩy chay, loại trừ. Và khác với cách sống của người đương thời, Người đi gặp gỡ những người bệnh, những phụ nữ, những người thu thuế, những kẻ tội lỗi …. Người không chấp nhận những rào cản các cộng đồng con người đã dựng lên để thủ thế, để tách biệt nhau. Người kêu gọi mọi người hãy chân nhận lẫn nhau. Cuộc Cách Mạng mà Người loan báo không giống như người đương thời nghĩ . Cuộc Cách mạng của Người là cách mạng của tình yêu thương, một cuộc cách mạng đổi tận căn rễ : yêu thương và tôn trọng mọi người.

      Chúng ta có bổn phận chuyển tải những lời dạy của Người cho những hoàn cảnh mới, cho những hoàn cảnh chính trị hiện nay. Giáo hội hằng hiện tại hoá những lời giáo huấn của Tin Mừng.

 2.- Người tín hữu và cộng đồng chính trị

     Cũng như tất cả mọi người, người tín hữu sống trong thế giới, và thấy được vị thế của mình giữa lòng xã hội. Đức tin cho người Kitô hữu biết ý nghĩa cùng đích của lịch sử, nhưng không cho thấy những ý nghĩa ấy trong những giai đoạn cụ thể. Vì thế, chính trong khung cảnh bình thường và chung cho tất cả mọi người mà người tín hữu được mời gọi tìm ra vị thế của mình với người khác giữa lòng cộng đồng chính trị. 

Đối với Giáo hội, cộng đồng chính trị là một điều rất quan trọng. Quả thế, vấn đề là ở chỗ nhìn nhận lẫn nhau trong sự bình đẳng, nhìn nhận ai cũng có khả năng thi hành sự tự do của mình, ai cũng có giá trị ngang nhau, đồng thời cũng chân nhận nhau như là những “người anh em”, cho dù đôi khi chia rẽ, hoặc chống đối nhau do quyền lợi. Cộng đồng chính trị là mối liên hệ nảy sinh giữa những con người với nhau, nhờ vào sự hợp nhất, sự đồng tâm chống lại những thế lực gây chia rẽ, những thế lực tiềm tàng (tính độc tài). Cộng đồng chính trị bảo đảm mối tương quan hoà bình và an ổn gữa các công dân, tạo ra tình huynh đệ, nền hoà bình, tình tương thân tương ái giữa các cá nhân, các huyện lỵ, các bang …. Là một sứ mệnh rất cao cả.

     Trong Tông huấn Hoà bình trên trái đất (Pacem in Teris) (1963), Đức Gioan XXIII đã cho thấy quan điểm của Giáo hội về cộng đồng chính trị. Cộng đồng chính trị là một công việc, là “bổn phận”, “là nghĩa vụ của con người” (số 60). “Vai trò của những nhà lãnh đạo trước tiên phải đảm bảo sự nhìn nhận, tinh thần tôn trọng lề luật, việc hoà giải lẫn nhau và bày tỏ chính kiến, và theo đó tạo điều kiện để mỗi công dân dễ dàng hoàn thành những nghĩa vụ của mình”. (ibi)

Đức Gioan XXIII đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự tôn trọng quyền con người, và coi đây như là mục đích của Nhà Nước. Người cũng xác tín rằng cộng đồng chính trị tồn tại là nhờ vào sự tương tác qua lại giữa quyền lợi và bổn phận. Bổn phận là tôn trọng những quyền của người khác. Như vậy, với quan niệm này, cộng đồng chính trị đã mất đi tính thực dụng và vụ lợi của nó : cộng đồng chính trị là để phục vụ con người, con người được tôn trọng trong tất cả bản chất của nó.

Một trong những giá trị quan trọng nhất được Giáo hội đưa ra ánh sáng trong hoàn cảnh hiện nay đó là tự do. Tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do trong truy tìm chân lý. Đức Phaolô VI đã nói nhà nước không nên áp đặt ý thức hệ bằng cách gầy dựng nền chuyên chính độc tài. “Áp đặt ý thức hệ quả là một điều tệ hại nhất” (Thư gửi Hồng y Roy, năm 1971, Octogesima adveniens, số 25). Công đồng Vaticano II khẳng định chân lý chỉ dựa trên chính sức mạnh của chân lý, sức mạnh ấy thấm vào tinh thần “vừa êm dịu vừa mãnh liệt”  (Tuyên ngôn về tự do tôn giáo Diognitatis Humanae, số 1).

     Giáo hội dứt khoát chống lại mọi kiểu quyền lực và đấu tranh để mọi người có thể được tham gia vào đời sống cộng đồng chính trị. Mỗi công dân đều có những trách nhiệm và bổn phận.. Mỗi người chúng ta phải đảm nhận những trách nhiệm này theo tinh thần Kitô giáo, cả mặt nội bộ (chính sách nội)  cùng bên ngoài (chính sách ngoại giao, mở ra với quốc tế, thế giới thứ ba …. ). Trong một vài nước, một số đảng phái chính trị bảo vệ quan niệm Kitô giáo về cuộc sống. Các Kitô hữu không nhất thiết phải bước theo hình thái ấy. Dầu vậy, những đảng phái ấy thường hữu dụng đối với một số mục tiêu nhất định nào đó.

Giáo hội cảnh giác đề phòng chống lại ý thức hệ muốn thiết lập một nhà nước có quyền tối cao, muốn sùng bái nhà nước. Quyền bính là nhằm để phục vụ cộng đồng, chứ không phải để hạn chế phẩm chất công dân. Về mặt văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo, chấp nhận đa diện là liên kết. Mặt chính trị cũng vậy, chấp nhận nhiều cấp độ quản trị trong đời sống chung là liên kết, là hiệp nhất, và điều quan trọng là việc quản trị này phải được tôn trọng trong trật tự của nó (nguyên tắc “bổ trợ” ).

Giáo hội bảo vệ con người chống lại những lạm dụng thái quá của nhà nước, khích lệ sự “kháng cự thụ động” trước khi nghĩ tới áp dụng những hình thức đấu tranh võ trang. Thường các Giáo hội, các Kitô hữu là cội nguồn hứng khởi, cội nguồn đổi mới trong đời sống chính trị của các đất nước.

3.- Tình huynh đệ trong chính trị

     Hiện nay, các cộng đồng chính trị phải đương đầu với nhiều khó khăn trong việc gầy dựng một xã hội hài hoà giữa những tầng lớp quần chúng tương đối khác nhau, một phần do truyền thống vốn đã có nhiều hình thái văn hoá, phần khác do những dân nhập cư có những văn hoá khác biệt, thậm chí đối chọi nền văn hoá bản địa. Điều quan trọng là phải cảnh giác trước những phân rẽ có thể xảy ra, đồng thời cũng phải để ý đến việc duy trì một bầu khí tôn trọng và huynh đệ giữa những người không cùng niềm tin, không cùng lối sống.

Các Kitô hữu, vì rằng họ sống trong một Giáo hội phổ quát ( “công giáo”, nghĩa là trải rộng trên khắp hành tinh), có một sứ mệnh và một kinh nghiệm đặc biệt trong lãnh vực này, là sự tôn trọng lẫn nhau và mở rộng lòng ra với người khác. Đây là một mảnh đất mà trong đó tâm hồn người tín hữu là men trong một khối bột.

“Tình huynh đệ” ở đây không thể là một hạn từ sáo rỗng. Tin tưởng trong tình huynh đệ giữa một chế độ chính trị, hay nói rộng hơn giữa một đời sống xã hội là tin rằng ở đó đã có Vương quốc của Thiên Chúa. Làm cho một tổ chức chính trị không còn chỉ là một tổ chức vụ lợi, song là một tổ chức huynh đệ là một cách rao giảng Tin Mừng, một cách phát triển thế giới và thắp sáng thế giới này.

Nhờ Tin Mừng và nhờ đời sống Kitô giáo, nhờ những giáo huấn của Hội thánh, não trạng, thái độ của chúng ta đối với chính trị dần được thay đổi. Nếu đối chiếu đời sống với Tin Mừng, chúng ta sẽ được mời gọi xem xét, nghĩ lại. Tham gia vào đời sống chính trị là đá thử vàng. Mỗi người phải nghiêm túc xét lại mình đã có những đóng góp gì cho cộng đồng chính trị, những đóng góp ấy đã xứng đáng hay chưa.

CÂU  HỎI  BÀI 23

Bạn chọn 1 trong 2 câu sau đây :

1.- Với tư cách là người Kitô hữu, bạn có đóng góp nào làm cho xã hội được công bằng và thấm nhuần Kitô giáo ?

2.- Tình huynh đệ phải chăng là một hạn từ sáo rỗng trong đời sống xã hội và chính trị ? Hãy nêu ra một vài cử chỉ huynh đệ có thể hay đã thực hiện được ở Việt Nam (hoặc nơi bạn đang sinh sống)

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn