Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 22: Đạo đức và kinh tế

Theo cách tiếp cận phỏng chừng ban đầu, hoạt động kinh tế có thể được định nghĩa như một tổng thể các quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng những “sản phẩm” và những “dịch vụ”, cho phép các cá nhân, các tập thể xã hội được triển nở và có cuộc sống thoải mái.

Ngày nay, để có được những “sản phẩm”, những “dịch vụ” giúp cho cuộc sống “hạnh phúc” phải nhờ vào trung gian, vào sự cộng tác của nhiều lãnh vực của đời sống kinh tế : công việc của từng cá nhân, tổ chức xã hội, hệ thống công nghiệp, hệ thống ngân hàng, thương mại quốc tế, vận chuyển, bảo hiểm …. Những lãnh vực đa diện này của đời sống kinh tế và xã hội này tương tác qua lại với nhau. Không có một nền kinh tế lành mạnh, thì một đất nước không thể có được những “sản phẩm”, những “dịch vụ” thiết yếu. 

     Chúng ta chỉ đề cập đến ba trục lớn của đời sống kinh tế : việc làm, sự tăng trưởng và tiền te.. Trong mỗi lãnh vực này đều có những vấn đề luân lý đặt ra cho chúng ta. Xét kỹ, chúng ta thấy vấn đề ở đây là quan niệm về con người về thế giới.

1.- Việc làm :

     Chúng ta sử dụng hạn từ “việc làm” với nghĩa rộng nhất có thể : không chỉ dừng ở việc chân tay, mà cả việc lao động trí óc của các giáo sư hay của những nhà nghiên cứu, việc nội trợ của người mẹ trong gia đình, hay việc chăm sóc của y tá hoặc của cộng tác viên xã hội. Công việc bao hàm tất cả các hoạt động nhằm sản xuất hay góp phần công sản xuất những sản phẩm hữu ích cho con người, cho xã hội.

Trong những năm gần đây, việc làm đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết khi nạn thất nghiệp gia tăng một cách đáng lo ngại. Có công ăn việc làm là một đòi hỏi dễ hiểu, là một quyền lợi chính đáng. Quyền được lao động không có nghĩa là chấp nhận làm bất cứ việc gì và bằng bất cứ giá nào ! Không được phép làm ngơ trước những công việc khó khăn mà nhiều người ngày hôm nay vẫn phải gánh vác trong những điều kiện khắc nghiệt, trước kiểu trả lương rẻ mạt, hoặc phải chịu những luật lệặng nề nhất. Quyền đuợc lao động cũng là quyền có một việc làm có tính nhân văn, có tương lai.

Đức Cố Gioan Phaolô II viết : “Lao động mang dấu ấn đặc thù của con người, của nhân loại, dấu ấn của một cá nhân đang hoạt động trong một cộng đồng nhân loại”. (lời mở đầu của thông điệp Laborem exercens, năm 1981). Chúng ta lao động trong tinh thần nhân đạo, trong chiều kích nhân văn. Dù làm gì đi chăng nữa (xây dựng, giáo dục, chăm sóc …. ), thì cũng chính là chúng ta đóng góp sức mình xây dựng thế giới, kiến tạo một đời sống tốt hơn cho con người.

Theo quan điểm này, thì lao động không chỉ để kiếm “cái ăn”. “Lao động là một lợi ích của con người, một lợi ích của nhân tính họbởi vì, nhờ lao động, không những con người chỉ biến đổi thiên nhiên bằng cách ứng dụng nó vào nhu cầu của họ, mà họ còn có thể tự thực hiện chính mình với tư cách là một người và hiểu theo một ý nghĩa nào đó, “họ trở nên người hơn” (số 9). Lao động về mặt chủ quan giúp con người thăng tiến, còn về mặt khách quan, lao động giúp con người đạt tới một kết quả nào đó.

 Mang trên mình dấu ấn của tội lỗi cá nhân và cơ cấu, con người cảm nhận thấy gánh nặng của công việc, thấy mệt nhọc trong những hoàn cảnh làm việc của mình.. Cách này, cách kia, công việc có thể là một thứ nô lệ (St 3, 19). Duy chỉ Đức Kitô mới thực sự giải phóng con người. Công nghiệp của Người cũng động chạm đến lao động. Đức Kitô luôn “làm việc”, như Cha của Người cũng “luôn luôn làm việc” (Ga 5, 17). Đây là công việc của Tình yêu, của sự liên kết. Công việc của chúng ta có thể là một sự thông phần vào công việc của Đức Kitô. Mọi công việc được  thúc đẩy và xuất phát từ nội tâm, được thực thi trong sự hiệp nhất với Đức Kitô, là một sự cộng tác vào công trình sáng tạo và cứu chuộc.

Để mỗi người có một việc làm thực sự nhân bản, thì đòi buộc ai ai cũng phải luôn quan tâm đến vấn đề này. Trong bất cứ công việc nào, tôn trọng con người vốn là hình ảnh của Thiên Chúa. Điều này hàm ý đôi khi phải phân phối lại công việc, sao cho ai cũng có công ăn việc làm. Trong mục đích này, điều nên làm là quan tâm đến mức lương chính đáng. Khám phá sự cần thiết của việc điều tiết tiêu dùng, thực hành một sự tiết kiệm nào đó và đôi khi phải chấp nhận hy sinh. Đó là cách sống theo các mối phúc.

2.- Sự phát triển

Một vài năm sau Công Đồng, qua thông điệp Phát triển các Dân tộc (Populorum Progressio ) của Đức Phaolô VI năm 1967, Giáo hội đã có những tuyên bố đóng góp cho vấn đề phát triển. Thông điệp được soạn thảo xoay quanh hai chủ đề lớn : sự phát triển toàn diện con người và sự phát triển tình liên đới nhân loại.

Vì muốn thuyết phục mọi người về tính khẩn thiết của tình liên đới, Đức Thánh Cha đã trình bày sự phát triển như là “hành trình bước từ những điều kiện sống thiếu nhân bản lên những điều kiện nhân bản hơn”, và ngài còn xác định rõ những đặc tính của việc phát triển này. Cuộc sống thiếu nhân bản là cuộc sống thiếu điều kiện vật chất và đạo đức, là cuộc sống trong những cơ cấu áp bức. Còn cuộc sống nhân bản là cuộc sống có nhu cầu đầy đủ, có điều kiện để thủ đắc kiến thức, văn hoá, là cuộc sống có sự tôn trọng nhân phẩm,và thừa nhận những giá trị tối cao..

Ngày nay, trong những đất nước nghèo, những nước đang phát triển, những nước được gọi là thế giới thứ ba còn tồn tại nhiều vấn đề rất trầm trọng trong lãnh vực kinh tế. Và không chỉ có những vấn đề về kinh tế, mà ngay những diện mạo kinh tế của những nước này cũng là một vấn đề cần phải lưu tâm. Quả vậy, chính vì kinh tế mà phát sinh ra những hệ quả xấu : đói khổ, suy dinh dưỡng, nhà cửa lụp xụp, đời sống ngắn ngủi, thất nghiệp nhiều và nạn mù chữ. Tuy những vấn đề này vẫn còn đó, nhưng tệ hơn đó là hiện đang có một cuộc khủng hoảng về ý thức tập thể còn lớn hơn cả những thực tại và những nguyên nhân của nó.

Hai mươi năm sau khi công bố thông điệp Populorum Progressio, tức năm 1987, Đức Cố Gioan Phaolô đệ II đã ban hành thông điệp Những vấn đề Xã hội (Silicitudo rei socialis) đề cập chủ yếu đến khái niệm về sự phát triển. Bên cạnh những lý do không đem lại phát triển, Đức Thánh Cha còn nêu lên những vấn đề khác như : sự khác biệt đã có và đang có xu hướng gia tăng giữa Bắc và Nam, sự đối nghịch giữa khối Đông và khối Tây, những cuộc chạy đua vũ trang và buôn bán vũ khí, những cản trở chính trị gây trở ngại cho sự hợp tác, tình liên đới giữa các nước. Cũng trong bức thông điệp, Đức Thánh Cha còn đề cập đến vấn đề địa lý, nhưng mặt khác ngài cũng thừa nhận đã có những tiến bộ trong lãnh vực phát triển, dù còn những bấp bênh, những hạn chế, những thiếu sót so với nhu cầu thực sự.

Theo Đức Thánh Cha, phát triển không chỉ giới hạn ở chuyện tăng thêm nhiều của cải vật chất và những dịch vụ, mà nó còn bao hàm tạo điều kiện để “nhân vị” được phát triển, được thăng tiến, triển nở. Để rồi qua đó, Đức Thánh Cha đã phân định rõ ràng bản chất luân lý của việc phát triển thực sự. Một dấu hiệu minh chứng Giáo hội có đóng góp về mặt luân lý cho việc phát triển đó là nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa việc trung thành tuân giữ tất cả những quyền con người (cả quyền tự do tín ngưỡng) và sự phát triển thực sự của con người và của các dân tộc.

Thông điệp còn chỉ ra những trở ngại của trật tự luân lý đi ngược với sự phát triển (như “cơ cấu của tội lỗi”, nhu cầu độc chiếm lợi nhuận, khát khao quyền lực), cũng như những đường hướng phải đi qua. Vấn đề này, Đức Thánh Cha đề nghị hãy chân nhận tình liên đới giữa con người, giữa các dân tộc, và tình đoàn kết. Với riêng người Kitô hữu, thông điệp đề ra những nghĩa vụ đối với đức bác ái và công bình. Tất nhiên những đường hướng này chỉ có thể xảy ra khi đã có một sự hoán cải về tâm tình và não trạng.

Giáo hội Công giáo không phải là một chuyên viên về phát triển, nhưng trước tầm quan trọng và tính sống còn của vấn đề này, Giáo hội mong muốn có những đóng góp của mình..

3.- Làm thế nào để sử dụng tốt  của cải vật chất ?

1)    Nguy hiểm của giàu có :

 Giàu có luôn luôn quyến rũ, Kinh thánh, nhất là các sách Tin Mừng, đã cảnh báo điều này. Đức Kitô đã có những lời lẽ cay nghiệt đối với những người giàu có. Người đã không ngừng đưa ra những lời cảnh giác đối với tiền bạc đối với việc tìm kiếm của cải trần gian. “Không ai có thể làm tôi hai chủ – Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa  vừa làm tôi tiền của được”. (Mt 6, 24). “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.”(Mt 6, 21). Phải hiểu những lời lẽ này theo đúng nghĩa đen không ? Tất nhiên, những lời lẽ này tỏ bày cho những ai giàu có, những ai có quá nhiều nhu cầu, một ý nghĩa tinh thần nào đó để họ sống. Vì thế, trong Giáo hội đã có một số người sống “những lời khuyên Phúc âm” cách triệt để. Họ chính là những mẫu gương và động lực cho tất cả mọi người.

Vậy, nguy hiểm ở chỗ nào ? Nguy hiểm ở chỗ quá quyến luyến với của cải sẽ khiến người ta trở nên khô cứng, thờ ơ trước những nhu cầu của tha nhân, ngay cả của những người thân quen nhất. Nó cũng khiến chúng ta khép kín tâm hồn trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Nó dễ đưa đến chỗ trộm cắp và gian trá (gian lận thuế khoá ….)

2)    Tinh thần Tin Mừng :

Tin Mừng là toàn bộ những lời giáo huấn và cuộc sống của Đức Giêsu. Ngay từ thời sơ khai, các môn đệ đã cố gắng thực hiện những lời dạy về của cải và tiền bạc của Đức Giêsu. “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, để mọi sự làm của chung, Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu”.(Cv 2, 44 – 45) . Nhưng khó khăn vẫn còn đó : ông Khanania và bà vợ Xaphira hẳn nhiên có quyền giữ tài sản của mình lại, nhưng họ đã giả vờ như là đã dâng hết tất cả (Cv 5, 1 – 11) . Trong các thư, thánh Giacôbê đã nhấn mạnh tới sự cần thiết của việc thể hiện niềm tin vào Đức Kitô bằng hành động : “Những ai biết làm điều tốt mà không chịu làm thì mắc tội” (Gc 4, 17).

 Theo gương Đức Giêsu, thánh Phaolô đã sống nghèo khó và thậm chí đôi khi còn sống trong cảnh khốn cùng. Thánh nhân làm việc bằng chính đôi tay để trang trải cho những nhu cầu bản thân, và để không thành gánh nặng cho cộng đoàn thánh nhân thường lui tới. Thánh nhân không thủ đắc bất cứ thứ của cải vật chất nào khác ngoài Đức Kitô. Bởi vậy, thánh nhân đã không ngừng nhắn nhủ các tín hữu vào lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện về giới răn mới của Đức Kitô : Đức Ai chính là thước đo mọi sự.

3)    Người Kitô hữu và giầu có :

Ngày nay có hàng triệu triệu Kitô hữu sống trong sung túc dư giả. Trong Giáo hội, họ có nhiệm vụ góp phần thăng tiến, cổ võ cho việc truyền giáo cũng như sự phát triển. Chắc chắn những Hiến chế lớn của Giáo hội đã và đang khởi xướng nhiều sáng kiến cho các hoạt động phát triển. Người tín hữu phải có nhiệm vụ cổ vũ, hỗ trợ những sáng kiến ấy và đồng thời cũng lưu tâm đến những hoạt động của những nhóm mà mình tin tưởng.

Tiền bạc là một yếu tố quan trọng trong đời sống kinh tế. Vấn đề là phải đầu tư vào những doanh nghiệp xã hội hữu dụng. Việc này còn có cơ sở hơn là chuyện “làm phúc”. Ai cũng nhận thấy những tác hại của việc tích luỹ của cải, không đầu tư, nó có thể gây tác hại lớn cho nền kinh tế nhân loại (sự lạm phát).

Tinh thần của Đức Giêsu và của Giáo hội đòi buộc chúng ta phải cảnh giác trước vấn đề tiền bạc. Chúng ta là những nhà “quản lý” chúng. Của cải chỉ giúp để thăng tiến sứ vụ của Giáo hội, cũng như cho sự phát triển.

CÂU HỎI BÀI SỐ 22 

Bạn chọn một trong hai câu sau đây :

2.- “Vào Nước Thiên Chúa thật khó biết bao ! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10, 24 – 25). Lý do nào khiến của cải vật chất trở thành trở ngại cho niềm tin ? 

3.- Bạn có thể đưa ra một thí dụ về cách sử dụng đúng đắn của cải và tiền bạc ?