Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 21: Công bằng xã hội và Kinh Thánh

Trong các bài tiếp sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về công bằng xã hội theo quan điểm của Giáo hội. Công bằng xã hội bao gồm nhiều lãnh vực : hoạt động kinh tế, tổ chức chính trị, giao tiếp và văn hoá.

 Công bằng là một thực tại sống rất cụ thể. Trước vài tình huống,vài dữ kiện của cuộc sống, vài kiểu cách hành động, chúng ta nói rất tự nhiên : “Thật công bằng !” hoặc “Thật bất công !”. Một tình cảm trong ta đã được diễn tả qua các lời thốt ra như thế. Chỉ sau khi sự việc xảy ra chúng ta mới phân tích cảm nhận công bằng hoặc bất công, và công bằng trở thành một nố, một quan niệm. Cảm nhận công bằng nơi ta là một phản ứng hiện hữu. Nó làm cho ta khám phá ra ta là ai và điều ta phải làm. Sự tìm kiếm và yêu sách của công bằng thường gắn liền với một lý tưởng công bằng mà chúng ta đang có nơi mình, và cũng là ấn tượng hay thực tại bất công mà ai đó đang chịu đựng.

Vì thế, cách đặt vấn đề về công bằng và bất công mở ra vấn đề đạo đức, luân lý. Đòi công bằng giả thiết một khả năng phân biệt, phán đoán một hành động, một tình huống là tốt hay xấu, là phá hoại đối với ta hay với tha nhân.

1.- Công bằng của Giavê và công bằng của con người trong Cựu Ước :

a)  Trên nền tảng giao ước :

          Theo tập tục Do thái, được diễn tả rõ ràng trong sách Thánh, con người chịu trách nhiệm về các đồi bại luân lý và về sự bất công. Tuy nhiên, Kinh Thánh xác nhận sự tự do và lòng tốt tiên khởi của con người.Từ đó, một vấn nạn luôn tồn tại trong con người : con người nhận biết mình được tự do và cùng lúc bị sự tự do ấy giam cầm . Sự xung đột này được thánh Phaolô diễn tả như sau : “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu : vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi không muốn, thì tôi lại cứ làm.”  (Rm 7, 15) .

 Giải thoát nào mà ta hy vọng ? Đó là sự giải thoát mà dân Do thái đã sống như một giao ước giữa Thiên Chúa và Dân của Người và rộng hơn nữa là với tất cả nhân loại. Giao ước này không phải là giao ước pháp lý giữa Thiên Chúa và con người cho bằng sự dấn thân – đoan hứa của Giavê hướng tới Dân và các tôi trung của Người : Chính Thiên Chúa lập nên công bằng và là sự công bằng cho chúng ta. Thiên Chúa là Đấng Công Chính. Lời đáp trả của chúng ta là một sự tin tưởng thủy chung.

b)  Hai mức độ chất vấn :


     Giao ước với Thiên Chúa và các mối quan hệ cụ thể với tha nhân. Đối với dân Israel, công bằng liên kết chặt chẽ với Giao ước : là công bằng nếu hành động theo Giao ước và là bất công nếu phá hủy nó. Kinh thánh mô tả tội như là sự đổ vỡ chính yếu của Giao ước hay là sự bất công chính yếu. Bởi tôi, con người từ chối việc nhận biết mình do Thiên Chúa tạo thành :”Adam, ngươi ở đâu ?” . Câu này cho thấy con người xa lìa Thiên Chúa. Khi con người lắng nghe Thiên Chúa với lòng tin tưởng, con người sống và bước đi trên con đường ánh sáng. Bởi tội, con người cũng xa lìa anh em và cô lập chính mình : “Abel, em ngươi đâu ?”. Thiên Chúa hỏi Cain. Câu này cũng cho thấy tội lỗi làm tổn thương con người trong tương quan với người khác.

Đối với dân Israel, công bằng và bất công cùng lúc chạm đến mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân (tương quan xã hội). Các tiên tri như A mốt và Giêrêmia, là những người bênh vực mạnh mẽ quyền của người bé mọn, người nghèo, người ngoại kiều. Trong giao ước cũ, công bằng xã hội đặt nền tảng trên sự lo lắng cho người nghèo. Vì thế, sự liên đới, bình đẳng và chia sẻ mang một ý nghĩa to lớn.

c)   Một con đường không tưởng tượng nổi :

     Đối diện với sự chất vấn song phương về việc kính trọng quyền của Thiên Chúa và quyền của người nghèo – chất vấn mang tính qui tắc trong Luật và biểu trưng cách sống động trong khuôn mặt của Người Công Chính  Đau khổ – chúng ta bị cám dỗ hoặc là thất vọng vì không bao giờ đạt tới sự kính trọng đầy đủ các quyền đó hoặc là tự phụ vì đạt tới bằng chính nỗ lực cá nhân. Cả hai cách này đầu đi đến thất bại và đi vào ngõ cụt.

Vì thế, cuộc lưu đày ở Babylon tạo ra một ấn tượng khó quên. Mở sách Isaia các chương từ  40 đến 66, sự công chính của Thiên Chúa đã được mặc khải, không phải chỉ là công bằng thưởng phạt của một quan toà mà là một sáng kiến vượt bậc của lòng nhân từ và trung tín : Thiên Chúa công chính, đúng mực, yêu thương, tha thứ, bao dung. Thay vì lên án kẻ có tội, Thiên Chúa tiếp tục tỏ ra là cha của họ, yêu thương họ. Thiên Chúa duy trì giao ước với dân Người. Người nhận về phần mình những đổ vỡ, bất công của con người. Thiên Chúa đã chọn con đường không thể tưởng tượng nổi : Người chiến thắng sự dữ bằng lòng trung tín. Một hoán đổi dí dỏm của công bằng ! Cái nhìn trong Kinh Thánh về công bằng của Thiên Chúa và công bằng của tín hữu hầu như không có một điểm chung nào với cái nhìn chúng ta thường có về công bằng. Chúng ta thường nghĩ rằng phải trả cho mỗi người cái gì là của họ.

2.    Công bằng trong giao ước mới :


     Sự công chính này đã được hoàn thành trong Tân ước và trước tiên là trong kinh nghiệm của chính Chúa Giêsu. Ngài đi theo lộ trình của sự công bằng cho đến lúc xảy ra cuộc thương khó, cái chết và phục sinh. Bằng cách hoàn thành nơi mình tất cả di sản của Cựu ước. Chúa Giêsu mời gọi con người tiến bước trong việc thay đổi thái độ và con tim. Ngài nhấn mạnh đến những điểm cơ bản của Luật Môsê và các Ngôn sứ. Ngài đòi con người phải biết từ bỏ : “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt7, 33) . Vậy, trước hết phải được đầy tràn Thiên Chúa và như Chúa Giêsu, “ đi đến cùng Cha” (Ga 14, 12). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là rời xa anh em, rời bỏ bổn phận cụ thể của mình, nhưng là mở lòng ra cho những ước muốn và hành động to lớn hơn, cần kíp hơn : “Tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người” . Trước nhất phải mở lòng ra cho Thiên Chúa, tin cậy nơi Người, để cho người hành động trong ta.

Chúa Giêsu tự giới thiệu mình là sự công chính, là người đã hoàn thành giao ước : “Chính Thầy là con đường,là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Chúa Giêsu là sự công chính,là sự thánh hoá của chúng ta : “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới” (2 Cr 5, 17).

 Vì thế, nhãn quan của người Kitô hữu về công bằng hết sức đặc biệt, Công bằng đối với người Kitô hữu không phải là một đồ vật đi tìm hay là một thứ thực hành luân lý. Nó là một mối tương giao cá nhân với Đức Kitô, một tương giao của lòng tin và niềm trông cậy nơi Đức Kitô (Ga 3, 6 – 7). Thánh Phaolô nói con người đã nên công chính bởi đức tin (có nghĩa là con người đã được giải thoát khỏi sự giam cầm của tội lỗi và sự chết) thì có khả năng sống như người công chính.

Một quan niệm về công bằng như thế bao hàm một số ý chí cụ thể :

1)  Trước hết nó đòi buộc phải phân biệt vai trò cao quí của Giáo hội với vai trò của Quốc gia : Giáo hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô, cơ quan sống động và là nguồn mạch sự sống, bày tỏ chiều kích thiêng liêng vàđạo đức của công bằng. Giáo hội soi dẫn và ban tặng con đường cứu rỗi, còn quốc gia có trách nhiệm về công bằng chính trị (bảo đảm hữu hiệu các quyền lợi).

2)  Hơn nữa, công bằng theo Phúc âm là công bằng được triển nở bằng tình huynh đệ của tất cả mọi người, nhất là những người bé mọn nhất. Không có não trạng chủ – tớ cho bằng : “người này là tôi tớ của người kia”.

3)  Sự công bằng này đã được Đức Kitô sống và làm cho trọn vẹn, Giáo hội và người Kitô hữu sống đức công bằng như một sự việc đã có rồi, một thực tại đã có và sẽ đến : ơn ích và sự tha thứ có thể thực sự thay đổi lịch sử.

3.- Ba lãnh vực căn bản của công bằng xã hội :

     Trong ba bài tới, chúng ta sẽ đề cập đến những lãnh vực chính của công bằng xã hội : kinh tế, chính trị, văn hoá và giao tiếp. Để hiểu rõ từng lãnh vực khác nhau, chúng ta cần hiểu ba sự kiện, ba cấp độ tạo nên công bằng xã hội : sức mạnh – quyền lợi – giá trị .

- Sức mạnh : Khái niệm “sức mạnh” bao gồm mọi thứ sức mạnh : tài nguyên, kinh tế, kỹ thuật và những cái khác. Mỗi nước, mỗi nhóm cộng đồng sở hữu một tổng thể “sức mạnh” có khả năng gây ảnh hưởng hoặc thay đổi “tình trạng của sự vật”, tình hình đất đai của một nước, các đặc trưng nhân khẩu học, cá tính dân tộc ……

- Quyền lợi : Một lãnh vực khác là quyền lợi (tích cực), tiêu biểu là quyền chính trị và trạng thái các quyền. Xác định quyền lợi trong nước và quốc tế là đảm bảo cho tự do và các điều kiện để nó tồn tại.

- Giá trị : Lãnh vực thứ ba là văn hoá, ý nghĩa và giá trị. Trong mọi xã hội đều nổi lên các gưong mặt của những nhà tư tưởng, nhà thông thái, thi sĩ, các vị thánh, nghệ sĩ, ngôn sứ, người chân thật ….. Tất cả những khuôn mặt đó nói lên các giá trị mà quốc gia hoặc nhóm xã hội đang chia sẻ. Các khuôn mặt đó công bố những khát vọng đặc biệt mang tính cộng đồng.

Ba điều nói trên (sức mạnh, quyền lợi, giá trị) hoạt động không ngừng và tác động lên nhau. Nó không ngừng ngầm cám dỗ đời sống xã hội của ta và vì thế tác động đến các nỗ lực công bằng.

CÂU HỎI BÀI 21

1.- Chúa Giêsu đã mặc khải trọn vẹn “sự công chính của Thiên Chúa”. Đọc lại cuộc đời của Chúa Giêsu trong sách Tin Mừng. Bạn hãy nêu lên hai trường hợp mà bạn cho rằng Chúa Giêsu đã hoàn thành sự công bằng đích thực.

2.- Bạn hãy kể một hay hai ví dụ cụ thể chứng tỏ Giáo hội và người Kitô hữu đã góp phần thiết lập công bằng và hoà bình trong các mối tương quan giữa con người với con người và giữa các quốc gia với nhau.