Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 20: Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển dịch phôi thai

Những bài trước đã đề cập đến ngừa thai, tự nguyện vô sinh và phá thai. Trong bài này, chúng ta đề cập đến một thái độ khác đối diện với “Những buổi đầu tiên của sự sống” : Làm sao cặp vợ chồng vô sinh có thể thực hiện ước mơ có con cái ?

 Những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã tiến bộ vượt bậc trong nhiều năm nay, nhất là trong việc thụ tinh nhân tạo.

1.- Thụ tinh nhân tạo :

Ngày nay, đó là phương pháp được dùng thường xuyên nhất để chữa trị vô sinh. Trước nhất, ta hãy xem sự vô sinh do kém về mặt sinh lý hay về tâm lý của người đàn ông.

Sự thụ tinh nhân tạo cho phép một cặp vợ chồng có con bằng cách thụ tinh với tinh trùng người chồng (thụ tinh nhân tạo cùng nguồn) hoặc thụ tinh với tinh trùng của người cho vô danh (thụ tinh nhân tạo khác nguồn).

Những kỹ thuật này cho phép chủ động kiểm soát tiến trình hình thành sự sống nhưng cũng đặt ra những vấn đề to lớn về đạo đức, tâm lý, pháp lý …. Hơn thế nữa, sự thụ tinh nhân tạo được phổ biến từ từ và người ta chứng kiến sự thành lập nhiều trung tâm cho phép sử dụng tinh trùng được tích trữ lạnh. Vài quốc gia ban hành luật trong lãnh vực này.

Giáo huấn của Giáo hội trong lãnh vực này dựa vào sự xác định của mối dây liên kết giữa sự hợp nhất vợ chồng và việc sinh sản con cái, dựa trên bản chất nhân bản của hành vi giao hợp và của sự sinh sản con cái.

 Làm sao đánh giá đạo đức sự thụ tinh nhân tạo cùng nguồn ?

       Giáo huấn mới đây của Bộ Tín lý Đức Tin, Donum Vitae về “tôn trọng sự sống con người mới chớm sinh và phẩm giá của sự sinh sản” ngày 22. 2. 1987 cho câu trả lời :

     “Sự thụ tinh nhân tạo cùng nguồn giữa lòng hôn nhân không thể chấp nhận được, trừ phi phương tiện kỹ thuật không thay thế cho hành vi giao hợp, nhưng trợ giúp cho hành vi đó đạt tới mục tiêu (số 6). Kỹ thuật như thế phục vụ sự thân mật vợ chồng và sửa chữa những thiếu sót của nó. Sự đau khổ của các cặp vợ chồng vô sinh là một thực tế cụ thể. Các khó khăn của họ đã được lắng nghe trong chừng mực để giúp họ có một quan hệ vợ chồng đích thực.

Ngược lại, tình hình khác đi khá nhiều trong trường hợp thụ tinh nhân tạo khác nguồn (tinh trùng của một người cho “vô danh”, không phải của người chồng). “Việc nhờ đến phôi tử của người thứ ba, để đặt tinh trùng hay trứng, là một sự xâm phạm đến cam kết hỗ tương của đôi vợ chồng và là một thiếu sót nghiêm trọng đối với sự hiệp nhất, đặc tính cơ bản của hôn nhân” (số 2).

2.- Thụ tinh trong ống nghiệm và cấy ghép phôi thai đã thụ tinh vào dạ con (FIVETTE) :

Về vấn đề này, giáo huấn của Bộ Tín lý Đức Tin ngày 22.2.1987 đã có ý kiến. Tài liệu này xác nhận sự kính trọng đối với những phôi thai và nhắc lại sự liên kết không thể phá bỏ giữa hai ý nghĩa của hành vi giao hợp : hiệp nhất và sinh sản. Tài liệu nghiêng về sự bất hợp pháp của cấy ghép phôi đã thụ tinh vào dạ con cùng nguồn, nghĩa là sự thụ tinh nhân tạo từ chính cặp vợ chồng.

Quan điểm này không được những người cay đắng đau khổ vì vô sinh chấp nhận. Nhưng phải nhìn nhận điều này : đối với hàng ngàn cặp vô sinh, kỹ thuật thụ thai trong ống nghiệm là phương cách duy nhất để thực hiện ước muốn có con của họ.

Ta hãy đọc chứng từ của một người, vừa là thầy thuốc vừa là mẹ gia đình công giáo. Bà đã chọn phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

ĐÂY LÀ CHỨNG TỪ

Với tư cách là một bác sĩ, đã phục vụ một nghiên cứu khoa học, với tư cách là một người mẹ Công giáo đã trải nghiệm cách chữa trị này, tôi xin nêu ý kiến về vấn đề Fivette có nghĩa là thụ tinh trong ống nghiệm và cấy ghép phôi thai. Bài của tôi gồm hai phần : Khía cạnh y khoa và khía cạnh cá nhân.

1.- Khía cạnh y khoa :

Trước khi đề cập khía cạnh đạo đức của vấn đề, phải biết khía cạnh thực hành, có nghĩa là toàn bộ các dữ liệu thật . Những bản sao kèm theo đây mô tả những dữ liệu này, và tóm tắt lịch trình phải theo trong điều trị, khá nặng nề chịu đựng.

 Đây là một phương pháp chũa trị bệnh vô sinh phụ nữ. Phương pháp mà chúng tôi sắp mô tả làm đoản mạch (ngăn chặn) nơi thụ tinh bình thường (ở vòi Falloppe) vì nhiều lý do : vòi bị nghẽn do nhiễm trùng, bị viêm màng tử cung v.v… , bị thai ngoài tử cung hay bị vô sinh tự phát có nghĩa là không rõ lý do.

Loại chữa trị này có vài rủi ro : đòi hỏi một hoặc nhiều lần nhập viện, khá đắt, phải lập lại nhiều lần nếu thất bại, đòi hỏi nhiều nghị lực tinh thần.

 Từ khi người ta lấy được trứng chưa rụng nhờ phương pháp hút qua siêu âm, rủi ro do giải phẫu đã bớt và dù luôn có một rủi ro nào đó, đây không phải là một phương pháp quá nguy hiểm cho sức khỏe người phụ nữ. Theo tôi, nguy hiểm chính là ở chỗ có thể mang thai với nhiều thai nhi, có nghĩa là một bụng chửa hai con hoặc nhiều hơn nữa và như thế là có nguy cơ sinh con non. Như thế, nguy hiểm là sinh non kéo theo con bị chết, nằm viện kéo dài trong khoa săn sóc đặc biệt và rủi ro di chứng thần kinh lâu dài. Không nên quên rằng : nếu những đứa bé sinh ra trong điều kiện tốt, và sống sót, thì chăm lo cùng lúc cho hai, ba, bốn bé cùng một lứa tuổi cũng là một gánh nặng nề và đầy thử thách. 

 Cũng nên lưu ý rằng không có nhiều trẻ dị tật trong đám trẻ sinh trong ống nghiệm hơn trẻ được sinh bình thường.

Những nhóm mà tôi biết, tôi nghĩ là họ nghiêm túc. Tôi tin, dù không có bằng chứng, là họ tôn trọng ý nguyện của những người muốn có con trong việc xử lý các trứng và phôi thai dư thừa (chúng được đông lạnh, có thể cho một phụ nữ khác, có thể dùng cho thí nghiệm …..). Tuy nhiên, việc xử lý này cũng có rủi ro. 

Tôi nghĩ rằng, rủi ro sau cùng mà nhân loại gánh chịu với phưong pháp thụ thai bằng cách hút trứng từ người phụ nữ là có khả năng bị thao túng về vấn đề di truyền mà ta chưa lường được những hậu quả về lâu về dài : đứa bé được sinh ra từ người mẹ không phải là mẹ di truyền (nghĩa là cho trứng), đứa bé sinh ra từ cha và mẹ không phải là cha lẫn mẹ di truyền (cho trứng và tinh trùng), đứa bé có cha mẹ di truyền nhưng phát triển trong bụng mượn của một phụ nữ và sau đó được cha mẹ di truyền nuôi dưỡng, và tại sao trong tương lai, lại không có việc đưa gien vào trong trứng chưa được thụ tinh, với mục đích loại bỏ một bệnh di truyền, hay với mục đích loại bỏ một đặc điểm di truyền, đặc biệt với chủ ý tốt (để tối ưu hóa nòi giống) hay chủ ý xấu (một dạng đấu tranh chủng tộc, làm giảm tiềm năng một chủng tộc … )

Suy cho cùng, mọi khám phá mới để phát triển nhân loại đã đưa ta trở lại với câu nói nổi tiếng : “Khoa học không lương tâm chỉ là sự đổ nát của linh hồn”.

 2.- Khía cạnh cá nhân :

Như nhiều người phụ nữ khác, tôi và chồng tôi cùng ước ao có những đứa con trong khung cảnh đời sống bình thường, ổn định và được cưới nhau. Đối với chúng tôi, sự chữa trị vô sinh bằng phương pháp Fivette là mức đến một hành trình dài nhiều năm mà chúng tôi đã hoài công tìm hiểu tại sao chồng tôi và tôi không có con. Chúng tôi lọt vào vấn đề vô sinh tự phát. Một loạt ấn tượng cách chữa trị ít nhiều được khoa học biện minh đã đưa chúng tôi đến thất bại, và như vậy, phương pháp Fivette là sự cầu cứu sau cùng trước khi chọn nuôi con nuôi. Những năm đó đã làm chúng tôi suy sụp, đôi khi cay cú, và thường khó chịu trước các gia đình có con cái. Chúng tôi còn cảm thấy mình là người bên lề đối với gia đình và công việc làm của chúng tôi.

Với vai trò bác sĩ, tôi lo cho con cái người khác. Tôi ước ao có một đứa bé thật sự của chúng tôi . Tôi muốn biết tận nội tâm tình cảm của tất cả những người đàn bà mà tôi gặp hằng ngày với trẻ sơ sinh của họ.

Tôi đã được chữa trị theo phương pháp này, từ 4 năm, vào lúc mà những tuyên bố của Toà Thánh Rôma chưa nói rõ về Fivette. Dù gì đi nữa, tôi cũng làm trái luật Toà Thánh. Không một giây phút nào tôi tưởng tượng được là Thiên Chúa không cho tôi có con bằng cách ấy. Tôi tiếp tục tin rằng Chính Thiên Chúa đã cho tôi đứa bé trai mà tôi đã dâng cho Người mỗi buổi tối khi cho bé vào giường ngủ.

Tuổi tác tôi, nghề nghiệp tôi và những ràng buộc gia đình gia đình khác không cho phép tôi lập lại  cách điều trị này. Tôi hạnh phúc với đứa con trai duy nhất của mình. Đứa bé nghịch ngợm của chúng tôi đã thay đổi cuộc đời của chúng tôi.

Tôi luôn không hiểu tại sao những chức sắc tôn giáo không cho phép chữa trị theo phương pháp Fivette đối với các cặp vợ chồng ổn định, mỗi người thật sự là cha mẹ di truyền của đứa trẻ.

Tôi có ý kiến ra sao với tư cách là một phụ nữ của thế kỷ 20, đã kết hôn, Công giáo, có trình độ đại học, nghiên cứu khoa học, sống giữa một thế giới vô thần? 

Tôi nghĩ rằng Fivette là một tiến bộ và phải được áp dụng cho những người ý thức được những rủi ro gặp phải (thất bại, sinh non, thai nhiều con …) và ý thức rằng những lần điều trị rất khó chịu.

Fivette có thể là con đường đưa tới những thao túng mà người ta chưa lường được hậu quả (mẹ mang thai hộ, sử dụng các phôi thai …). Như Giáo hội xác nhận, tôi tin rằng, phải nhấn mạnh để người trong cuộc biết làm cha mẹ một cách có trách nhiệm. Giáo hội phải là người tư vấn. Giáo hội phải cảnh báo, nhắc nhở nhưng không được ngăn cấm một cách đơn giản.

Giáo hội cần thôi xem các tín đồ như những người có tội hoặc vô trách nhiệm. Giáo hội cần để cho mỗi người khả năng chọn lựa, trước Thiên Chúa, tùy theo lương tâm của mình. Cá nhân mà nói, tôi không bao giờ ước muốn một thụ tinh nhân tạo của một người cho vô danh. Tôi nghĩ rằng nguyên tắc bà mẹ mang thai hộ là một lầm lạc tâm lý nhưng nếu có ai đó sống trong tình yêu thì tại sao ngăn cấm họ điều đó ?

Tôi nghĩ rằng vấn đề phôi thai dư thừa là một vấn đề sai. Trong thiên nhiên, có vô số trứng đã thụ tinh và đã bị mất đi một cách tự nhiên lắm lúc trước khi người phụ nữ nhận ra mình đã mang thai. Và ai lại lên án những vụ xẩy thai ?

Cấy vào hơn ba phôi thai là vô nghĩa vì mang thai nhiều con có rủi ro nghiêm trọng. Vậy phải bằng lòng chọn giải pháp đông lạnh với số dôi ra. Kỹ thuật này khó chịu đựng đối với nhiều phôi thai, nhưng đối với tôi, đó là một kỹ thuật đúng đắn hơn phương pháp giết chết một số phôi thai khi nó bị dôi ra sau nhiều tuần thai nghén.

Kết luận :

FIVETTE là một trong nhiều chữa trị vô sinh và là một cách chữa lành thể chất và tâm lý cho nhiều cặp vợ chồng. Tất nhiên đó cũng là cánh cửa mở ra nhiều tình huống tâm lý và nhiều vấn đề đạo đức mà người ta chưa lường hết tác động. Fivette đơn giản cho một cặp vợ chồng ổn định nằm trong trường hợp cha mẹ có trách nhiệm. Tôi không hiểu tại sao những nhà chức sắc Rôma cấm đoán phương pháp này. Không có gì để sợ rằng phương pháp sinh sản này sẽ lan rộng phổ biến vì tôi tin rằng nhân loại sẽ luôn luôn thích khoái cảm của hành vi tình dục hơn là những lo âu và rủi ro của Fivette !

CÂU HỎI BÀI 20

1.- Xin cho biết quan điểm của bạn sau khi đọc bài 20 này ?

2.- Qua chứng từ cụ thể trong bài, bạn có nghĩ rằng nói cách nào đó, thụ tinh trong ống nghiệm cùng nguồn có thể là một chứng cứ tình yêu hôn nhân có trách nhiệm, và cũng là một chứng cứ hiệp thông  với Thiên Chúa không ?

(Lưu ý: Thụ tinh cùng nguồn : tinh trùng của người chồng, trứng của người vợ. Thụ tinh khác nguồn : có yếu tố của người thứ ba xen vào )


Bài 20 – Đọc thêm

THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM

  1. Một số thông tin

Theo tự điển Quid 1996 (tr.148 la), Louise Joy Brown ở nước Anh là người đầu tiên đã được thụ tinh trong ống nghiệm, sinh ra ngày 25-7-1978. Cha mẹ là R. Edwards và P.Steptoe. Lấy một trứng noãn của mẹ cho thụ tinh ( ngày 10-11-1977) với tinh trùng của chồng hoặc của một người thú ba vô danh (?) ở phòng thí nghiệm. Để trứng đã thụ tinh phát triển trong ống nghiệm = in vitro 3 ngày. Sau đó cấy thử vào tử cung bà mẹ lúc tế bào đầu tiên đã phát triển thành 8 tế bào.

Ở Việt Nam, Bệnh viện Từ Dũ Sàigòn đã cho sinh ra thành công một cháu bé theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cách đây vài năm. Và theo tin tức, bệnh viện đã thực hiện 220. Đã có 16 cháu bé chào đời và còn 16 ca cón trong bụng mẹ tiếp tục ra đời trong năm 2000. Đến nay đã có 2000 bé chào đời.

Theo thống kê ở tự điển Quid thì ở Pháp từ 1982 đến 1992 đã có 20000 cháu bé sinh ra theo phương pháp này, quen gọi là FIVETTE = Fiv. Thống kê còn cho biết vài chi tiết chết 2,4%; dị tướng 2,8% ; sinh đôi 20% ; sinh ba 4% . Mỗi vụ thụ tinh in vitro tốn 50000 FF.

Thụ tinh trong ống nghiệm có thể kéo theo việc mang thai và đẻ mướn với bao ràng buộc phức tạp về pháp lý, về xã hội. Năm 1977 ở Anh, bà Mary Beth Whitehead (29 tuổi)  hợp đồng chửa và đẻ con mướn cho vợ chồng William Stern (41 tuổi) và Elizabeth Stern (41 tuổi). Sinh ra cháu Melissa, bà Mary đòi quyền làm mẹ nó. Sau tòa án đã phải can thiệp, bắt trả bé Melissa cho vợ chồng Stern theo hợp đồng với số tiền 18 000 USD. Lại nữa nhiều nơi đã thành lập ngân hàng phôi người, ngân hàng tinh trùng, để xử lý khi cần thụ tinh in vitro. Theo thống kê của Quid thì từ 1985 đến 1991 đã có 22 000 phôi người dự trử cho 5500 đôi vợ chồng. Năm 1992 : 6500 phôi cho 1400 cặp và 3800 phôi trử lạnh.

  1. Thụ tinh trong ống nghiệm là gì?

Linh mục Hoàng Quốc Trương, một nhà sinh học đã viết cho báo CG và DT :

Thụ tinh trong ống nghiệm là dịch từ = test tube insemination, artificial insemination, nghĩa là thực hiện phối hợp tinh trùng với noãn cầu ngoài hệ sinh dục nữ, tức là trong ống nghiệm.

Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thoạt đầu đã được thực hiện để chữa trị chứng hiếm muộn, như trường hợp những cặp vợ chồng lấy nhau đã từ lâu mà không có con . Lúc đó, hai vợ chồng tới bệnh viện phụ sản, các chuyên viên sẽ lấy tinh trùng của người chồng chứa trong tinh dịch (semen) và lấy noãn cầu đã đến thời kỳ rụng trứng (ovulation) cho phối hợp trong ống nghiệm chờ cho trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, rồi cho trở lại vô tử cung của người vợ. Trứng sẽ bám vào vách tử cung và phát triển bình thường.

Trong trường hợp người vợ không có khả năng mang thai, hay không muốn mang thai (vì sợ bị sẩy thai) thì trứng thụ tinh được cấy vào tử cung của một phụ nữ khác thụ thai dùm, với điều kiện sau khi đẻ, phải trả lại đứa con cho cha mẹ thực thụ. Thụ tinh nhân tạo cũng áp dụng trong trường hợp tinh dịch không bình thường, như trường hợp loãng tinh dịch (sperm inssufficiency) – Một phân khối tinh dịch bình thường phải chứa ít nhất là hai triệu tinh trùng khỏe mạnh. Trường hợp loãng tinh dịch một phân khối tinh dịch chứa 100-200000 tinh trùng, để mẫu đạt hai triệu tinh trùng/phân khối. Sau đó tiến hành thụ tinh nhân tạo.

Nhưng nếu số tinh trùng trong tinh dịch quá ít, hay toàn là tinh trùng yếu ớt, bệnh hoạn, không có khả năng thụ tinh thì sao? Lúc đó phải nhờ đến ngân hàng tinh trùng (sperm bank) chuyên bảo quản các mẫu tinh trùng trong phòng lạnh, do các người cho (sperm donor) đã được xác định rất kỹ là không có bệnh di truyền, có hệ gien tốt... Căn cước của người cho được giữ kín, đề phòng rắc rối có thể xảy ra sau này. Với mẫu tinh trùng nay, thực hiện thụ tinh nhân tạo, rồi cấy trứng thụ tinh vào tử cung của người vợ.”

  1. Kitô hữu nghĩ gì về thụ tinh in vitro ?

Thông thường Giáo hội Công Giáo không chấp nhận cách sinh con in vitro, vì cớ tình yêu vợ chồng bị tổn thương, tình mẹ con cha con bị hề hấn, nhiều lạm dụng cho thương mại đứa con hoặc “cho thuê tử cung” với giá hậu hĩ, gây lộn xộn xã hội do quyền lợi và nghĩa vụ đối với đứa con được sinh ra...

Giáo hội chỉ chấp nhận việc sinh con bằng giao hợp tính dục bình thường . Không chấp nhận có con bằng mua bán hay hiến tặng tinh trùng ở “một ngân hàng tinh trùng”, với những “người cho” được chọn lọc và không lấy tiền (ví dụ tình nhân – người thông minh để chọn giống ưu việt), hay với những “người bán” với giá hậu hĩ. Không chấp nhận được còn vì những vấn đề pháp lý phức tạp, vô luân, có khi còn gây ra thảm kịch. Ví dụ : mẹ gà con vịt- mẹ “nuôi mướn” lại đòi quyền làm mẹ thật đang khi mẹ thật lại mất đi cái khổ đồng thời cũng là cái hạnh phúc “mang nặng đẻ đau”. Càng không thể chấp nhận được khi dùng các phôi người vào việc thí nghiệm khoa học, vào việc chọn giống người ưu việt, kèm theo hủy diệt những phôi yếu kém .

Không thể chấp nhận, vì tất cả những gì liên hệ đến người mẹ cung cấp noãn, đến người cung cấp tinh trùng, đến đứa con, đến phụ nữ cho thuê tử cung, đều vô luân, vi phạm đến phẩm giá làm người. Càng vi phạm đến phẩm giá làm vợ chồng, cha mẹ, con cái. Bào thai, con người tí hon khi đó giống như một chất liệu của phòng thí nghiệm, có thể mua bán, có thể sử dụng tùy tiện. “Cha” , “Mẹ” bé cũng chẳng tha thiết vì lẽ tinh trùng hay noãn có thể không thuộc về hai vợ chồng; đứa con lúc đó không thể coi là con của họ theo đầy đủ ý nghĩa. Thậm chí đứa bé sinh ra có thể là đứa con ngoại tình gián tiếp do noãn hay tinh trùng được cung cấp bởi tình nhân.

Cũng phải thêm rằng việc sử dụng  tinh trùng hay noãn của những người vô danh thì nếu những đứa bé chào đời đều được thụ tinh bởi một người “cha’ hay cùng một ‘mẹ” thì khi lớn lên mấy đứa đó tình cờ gặp gỡ, kết duyên vợ chồng sẽ phạm tội loạn luân mà không biết. Và điều này theo khoa học, có thể gây dị tật cho con cháu về sau. Đối với các bà mang thai dùm, có thể là người dưng nước lã (cho thuê tử cung), có thể là người thân như mẹ, chị em ruột, cô dì , thì có thể đoán ra mối liên hệ xã hội và tâm lý bấy giờ sẽ phức tạp biết bao, đặc biệt là khi người mang thai dùm lại là mẹ ruột của bà “mẹ” cho noãn !

Tuy nhiên, mong muốn có con là sự ước muốn chính đáng của vợ chồng. Vì đứa con là biếu hiện, là  thành quả của tình yêu thắm thiết giữa hai người. Song đôi khi họ không thể có con vì trục trặc cơ thể như ống dẫn trứng fallope bị tắc nghẽn mà không thể xử lý bằng giải phấu, thì sự can thiệp y học để giúp đôi vợ chồng có con, không bằng giao hợp âu yếm, song bằng một cách thế nào đó cho đôi bạn vẫn bảo toàn được tình yêu cho vợ chồng lẫn đứa con sẽ sinh ra, thì hành vi đó còn được coi là hợp luân lý. Cha Th.Rey Memet thuật lại : “ Ngày 25-7-1978, bé Louise Joy Brown đã ra đời tại Oldham, Anh quốc. Em là đứa trẻ đầu tiên trong lịch sử được cưu mang ngoài dạ mẹ em. Đức Hồng Y Albino Luciani, vị Giáo hoàng Gioan Phaolô I tương lai, đã gởi điện chúc mừng hai cha mẹ may mắn này mà sự hiếm hoi đã làm họ đau khổ bấy lâu nay.”

Gm. Nguyễn Bình Tĩnh

Giáo phận Đà nẳng

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí