Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 20: Sơ lược lịch sử đời tu

Sau khi Chúa Giêsu lên trời và Chúa Thánh Thần ngự xuống trên cộng đoàn các tín hữu tiên khởi ở Giêrusalem, ta thấy họ đáp lại lời mời gọi của Chúa sống triệt để các lời khuyên phúc âm. Sách Công vụ mô tả đời sống của họ như sau: sống chung, bẻ bánh, chia sẻ của cải (Cv 2, 42-47; 4, 32-37)

Từ những thế kỷ đầu của Giáo Hội, các trinh nữ và những nhà khổ chế đã dấn thân vào con đường từ bỏ. Sau những thế kỷ đầu tiên bị bắt bớ, nhiều người nam cũng như nữ sản sinh ra một lối sống hoàn toàn hiến dâng cho Chúa, lối sống khiết tịnh, cầu nguyện, từ bỏ và bác ái.

Từ thế kỷ thứ 3, một số người rút lui một mình vào sa mạc (tu rừng) trong khi những người khác họp nhau lại thành cộng đoàn (tu trong cộng đoàn). Từ đó khởi động cuộc phiêu lưu lạ lùng của các đan sĩ.

Đời đan tu lan nhanh ở phương đông nhờ thánh Basile (mất năm 379). Thánh Benoit (mất năm 543) sáng lập lối sống đan viện ở phương tây. Các tu viện mọc lên nhanh chóng ở Châu Âu và trở thành thành trì của đức tin cũng như thành nơi ẩn náu của nền văn minh, trái tim sống động của Kitô giáo.

Bắt đầu từ thế kỷ thứ 10, các tu viện quy tụ lại với nhau. Dòng Cluny quy tụ tới hơn một ngàn nhà. Vài dòng đan tu khác được thành lập vào thế kỷ 11 (Camaldules, Chartreux).

Từ thế kỷ 12, có vài canh tân, nhất là trong việc tìm kiếm một đời sống giản dị hơn. Chính trong giai đoạn này mà ta tìm thấy những vị thánh như thánh Bernard và sự canh tân theo kiểu của Dòng Xitô (Dòng Xitô được thành lập vào năm 1098).

Đầu thế kỷ 13, toàn dân Kitô Hữu muốn có sự đổi mới về mặt tinh thần. Thánh Thần đáp lại ước muốn sâu xa của Dân Chúa, bằng cách khơi dậy những con người có khả năng đem lại sự đơn sơ và sức mạnh của Tin Mừng, ngay giữa một thế kỷ mà văn minh đô thị và đối lưu hàng hóa đang phát triển mạnh. Đó là Thánh Phanxicô thành Assisie, “người tình của Bà Chúa Nghèo”, và thánh Đaminh. Hai vị thánh này hình thành một kiểu tu trì mới. Các Dòng ăn mày Phan sinh và Đaminh, không đất đai, không của cải, chuyên chăm rao giảng Tin mừng và sống giữa dân chúng. Vào thời kỳ này, đời tu được tổ chức có hệ thống: có ba lời khấn rõ ràng, tổ chức việc quản trị nội bộ có tính tập trung.

Vào thế kỷ 16 xuất hiện các Dòng giáo sĩ triều (Việt Nam quen gọi là Dòng Tên, hay Dòng Chúa Giêsu thành lập năm 1540 do thánh Ignace de Loyola) gồm hầu hết là linh mục nhằm mục đích thánh hóa đời linh mục của họ. Lo lắng cho sự tự do và hiệu quả của việc tông đồ, họ bỏ bớt một số đặc điểm quan trọng của đời đan tu như là: hãm mình đền tội, hát kinh nhật tụng, tổ chức tu nghị. Vào thế kỷ 17, Thánh Vincent de Paul cho ta một hình thức lịch sử của việc tận hiến cho Chúa trong hoạt động tông đồ.

Sự phát triển của đời tu nữ khó thấy hơn. Từ trước tới giờ các Dòng nữ chỉ là Dòng nhì của một Dòng nam (tên gọi Dòng nhì này không thích hợp ngày nay nữa). Vào thế kỷ 16, xuất hiện những Dòng nữ độc lập, đáng kể nhất là các Dòng có mục đích tông đồ và bác ái (Dòng Ursulines ở thế kỷ 16, Dòng Nữ tử Bác ái thế kỷ 17).

Sau những sóng gió của cuộc Cách Mạng Pháp, nở rộ các hội dòng nam nhất là hội dòng nữ đa số nhắm vào việc tông đồ hay bác ái (gíao dục, phục vụ người nghèo v.v…)

VÀI ĐOÀN SỦNG LỚN CỦA ĐỜI SỐNG TU TRÌ (P.C 1-14)

Những hội dòng dấn thân làm việc tông đồ:

Hoạt động tông đồ là trọng tâm của đời sống tu trong các hội dòng này tùy theo đoàn sủng của vị Sáng Lập. (Thí dụ đoàn sủng của Dòng Don Bosco nam và nữ (còn gọi là Don Bosco Salêsiên) là yêu thương thanh thiếu niên nghèo, cùng khốn, bị bỏ rơi). Bí quyết để thực hiện sự kết hợp giữa đời tận hiến và hoạt động tông đồ là sự kết hiệp thân tình với Chúa Kitô.

Những dòng tu sống trong đan viện và tu viện

Tự bản chất, đời sống đan viện không chỉ đơn thuần là chiêm niệm hay hoạt động, nhưng là cả hai với dấu nhấn đặt trên “việc phụng sự Thiên Chúa Cao cả, cách khiêm tốn nhưng đồng thời cao quý, trong phạm vi đan viện” (P.C 9). Đan viện và tu viện có những đặc điểm riêng như: đời sống chung rất quan trọng, các đan sĩ sống ổn định trong đan viện, lòng mong muốn tách biệt với thế gian qua các giờ kinh nhất định trong ngày.

Những hội dòng sống đời tu trì giáo dân

Đời sống này “tự nó làm thành một bậc sống đầy đủ để khấn giữ các lời khuyên phúc âm” (P.C 10) và rất hữu ích cho nhiều hình thức hoạt động tông đồ. Thí dụ như các hội dòng của các sư huynh.

Các tu hội đời

“Những tu hội đời, tuy không phải là dòng tu, nhưng cũng có lời khấn thực sự và trọn vẹn, và được Giáo Hội công nhận để giữ các lời khuyên phúc âm ở giữa đời.” (P.C 11) Sứ mạng của họ là làm việc tông đồ giữa đời và như phát sinh từ lòng đời, không cần thiết phải sống thành cộng đoàn.

Các diễn giải trên đây cho thấy các hình thức khác biệt sống ơn gọi trong Giáo Hội. Điều cơ bản vẫn là một: hiến thân cho Thiên Chúa qua việc bắt chước Chúa Kitô khó nghèo, khiết tịnh và tuân phục. 

CÂU HỎI BÀI SỐ 20

1. Trong Tân Ước, nhiều người nam nữ gặp gỡ Chúa Giêsu đã có một kinh nghiệm riêng và trở thành chứng nhân của Ngài. Họ mang chứng tá nào? Sứ mạng của họ là gì? (viết thật ngắn gọn)

- Viên sĩ quan cận vệ của nhà vua (Ga 4, 50-53)

- Người bại liệt (Mt 9, 6-7)

- Mat-thêu (Mt 9, 9-13)

- Người đàn bà Ca-na-an (Mt 15, 28)

- Người phụ nữ Samari (Ga 4, 7-29)

2. Ngày nay nhiều người nam nữ có kinh nghiệm về Chúa Giêsu… Họ trở thành chứng nhân như những nhân vật trong Tin mừng… Bạn có thể đưa ra một trường hợp mà bạn biết? (hoặc là sưu tầm trên sách vở, hoặc là trên thực tế. Nhưng không phải là truyện các Thánh)


Bài đọc thêm

MỘT SỐ DÒNG DÀNH CHO GIÁO DÂN TẠI THẾ

DÒNG BA CÁT MINH

Dòng Ba Cát Minh là một tổ chức tập hợp những anh chị em giáo dân sống ở giữa đời, theo đuổi sự hoàn thiện phúc âm theo đường lối tu đức của Thánh Têrêsa Avila.

Thành viên của Dòng Ba được gọi nên thánh theo đoàn sủng và giáo huấn của Đấng Thánh Sáng Lập Dòng với những đặc điểm: Tin tưởng và phó thác vào tình thương của Thiên Chúa, thực hành nguyện ngắm, khổ chế do việc từ bỏ mình, quảng đại trong đức ái huynh đệ và nhiệt thành làm việc tông đồ. Các giá trị này được thực hiện trong cuộc sống thân tình với Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, và dưới sự phù trợ từ mẫu của Người. Thành viên Dòng Ba được tổ chức thành huynh đoàn để sống và biểu lộ sự hiệp thông trong cùng một lý tưởng, giúp nhau về phần thiêng liêng và giữ mối liên hệ với toàn Dòng, sinh hoạt mỗi tháng một lần.

Nội quy của Dòng Ba bao gồm những điểm chính như sau:

Việc thiêng liêng: Nguyện gẫm mỗi ngày nửa giờ, đọc và suy niệm Thánh kinh, đọc các giờ Kinh phụng vụ gồm Kinh Sáng, Kinh Chiều và Kinh Tối. Được phép thay thế các giờ Kinh phụng vụ bằng: 7 kinh Lạy Cha (Kinh Sáng); 15 kinh Lạy Cha (Kinh Chiều); 7 kinh Lạy Cha (Kinh Tối). Tham gia các việc đạo đức trong họ đạo như các tín hữu khác. Hăng say trong công tác tông đồ của xứ đạo.

Sinh hoạt: Hằng tháng hay dịp lễ của Dòng, các thành viên Dòng Ba quy tụ nhau để: học Luật Dòng, tĩnh tâm, cử hành nghi thức mặc áo, khấn.

Gia nhập: Ứng viên không giới hạn tuổi tác, không mắc lời khấn trong một Dòng khác, tự mình tìm hiểu hoặc có sự giới thiệu để tiếp xúc với một huynh đoàn. Sau 12 lần tham dự các buổi họp hàng tháng, ứng viên được nhận vào giai đoạn tập sự bằng nghi thức mặc áo. Sau 2 năm thụ huấn được tuyên hứa tạm. Tiếp theo là 3 năm thụ huấn để được khấn tạm. Sau 1 năm khấn tạm sẽ được tuyên khấn vĩnh viễn.

Thành viên Dòng Ba Cát Minh được hưởng nhờ mọi ơn ích thiêng liêng thông hiệp với Dòng Nhất và Dòng Nhì.

DÒNG PHAN SINH TẠI THẾ

Phan sinh tại thế đã xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ thứ 16. Đa số là những người hướng thiện muốn tận hiến trong Dòng Phan sinh, nhưng vì hoàn cảnh không thể vào Dòng Nhất hoặc Dòng Nhì, nên đã vào Dòng Ba, theo linh đạo Phan sinh, có luật Dòng Ba giúp phương tiện nên hoàn hảo. Phan sinh tại thế có người là Dòng Ba biệt lập, có người cùng nhau tập hợp thành huynh đệ đoàn. Những người này chủ yếu là giáo dân, tuy nhiên cũng có các vị thừa sai, các linh mục triều và các vị cao cấp trong hàng giáo sĩ.

Linh đạo của người Phan sinh tại thế là một dự phóng đời sống tập trung vào con người Đức Kitô bằng cách đi theo vết chân Người hơn là một chương trình chi tiết để thực thi. Toàn bộ dự phóng của người Phan sinh tại thế là làm sao để trở nên giống như Đức Giêsu Kitô, Đấng đã xuống thế làm người. Cuộc đời của Người đã được ghi chép lại trong phúc âm. Vì thế, người Phan sinh tại thế phải học, phải biết và phải tuân giữ Phúc âm. Cuộc đời tại thế vốn đa dạng, biến đổi không ngừng. Người Phan sinh tại thế sẽ tùy theo hoàn cảnh địa vị Chúa ban cho mình để vận dụng ứng xử trong cuộc đời sao cho phù hợp với tinh thần Phan sinh. Cuộc sống tai thế của mỗi thành viên tuy có khác nhau, nhưng tất cả có chung một chọn lựa, một lý tưởng. Chính vì lẽ đó đời sống Huynh đệ đoàn là cần thiết để nâng đỡ nhau cùng tiến bước.

Các giai đoạn huấn luyện bao gồm:

1/ Thời kỳ khai tâm: gồm 3 tháng dự thính và 6 tháng tìm hiểu

2/ Thời kỳ huấn luyện khởi đầu: 2 năm (có thể kéo dài thêm 6 tháng)

3/ Dấn thân tuyên khấn: từng năm một 3 lần, sau đó khấn trọn. Ứng sinh không thể dưới 20 tuổi trọn khi tuyên khấn.

4/ Huấn luyện thường xuyên: người Phan sinh tại thế luôn chú tâm nâng cao trình độ về mọi mặt hầu có thể chu toàn sứ mạng của mình trong Hội Thánh và xã hội.

Anh chị em Phan sinh tại thế gắn bó chặt chẽ với Dòng Nhất và Dòng Nhì, tạo thành đại gia đình Phan sinh do Thánh Phanxicô sáng lập.

HUYNH ĐOÀN GIÁO DÂN ĐA MINH VIỆT NAM

Do Bí tích Thánh Tẩy, người giáo dân được mời gọi nên Thánh. Một số giáo dân được Chúa Thánh Thần tác động, muốn sống ơn gọi của mình theo tinh thần và đoàn sủng Dòng Anh Em Thuyết Giáo. Họ loan báo tin mừng cứu độ của Chúa Kitô cho mọi người qua việc tham gia vào sứ vụ tông đồ của Dòng bằng đời sống cầu nguyện, hiệp thông huynh đệ, học hỏi và hoạt động tông đồ theo hoàn cảnh riêng.

Anh chị em Dòng Ba Đaminh sống thành huynh đệ đoàn, kết hợp với Chúa, tuân giữ các lời khuyên phúc âm theo gương các thánh, luôn chuyên cần học hỏi để thi hành sứ vụ tông đồ của mình và tương trợ lẫn nhau.

Các giai đoạn huấn luyện bao gồm:

1/ Thời kỳ tìm hiểu: ít nhất 6 tháng. Ứng sinh phải hội đủ các điều kiệu quy định và nằm trong độ tuổi từ 17 đến 60.

2/ Thời kỳ dự tuyển: Thời gian tập từ 1 đến 2 năm, để thấm nhuần tinh thần Đaminh, đồng thời để Dòng biết rõ khả năng và thiện chí của họ.

3/ Thời kỳ tuyên hứa: Sau thời gian tập, tuyển sinh tuyên hứa lần đầu 3 năm. Sau 3 năm, có thể xin tuyên hứa vĩnh viễn hoặc có thể tuyên hứa lại từng năm nhưng không quá 3 lần.

Trong suốt quá trình huấn luyện, đoàn viên tham gia sinh hoạt hàng tháng với huynh đoàn và được hưởng mọi ơn ích thiêng liêng của Dòng, nhưng chỉ là thành viên chính thức sau tuyên hứa cách hợp pháp.