Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 20: Niềm tin của Mẹ Maria

Hiện diện âm thầm, thường là im lặng. Mẹ Maria đã làm cho đời sống của mình thật sinh động và phong phú, bởi một sức mạnh niềm tin vẹn tuyền và lòng mến. Mẹ đã sẵn sàng “nắm bắt” và phục vụ ý định của Chúa. “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”
(Lc 1,38) và Mẹ luôn lưu tâm đến các nhu cầu của con người. “ Họ hết rượu rối” (Ga 2,3)


Maria, Mẹ đầy phúc, đối với chúng ta, Mẹ là “ Người đã tin vào sự ứng nghiệm những gì Chúa đã nói với Mẹ”, như bà Elisabeth đã công bố: “Em thật có phúc vì tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45). Niềm tin của mẹ, đôi khi gặp phải sự tối tăm (Lc 1, 29 ; 2,50), nhưng luôn vững vàng (Lc 1, 45 so với Lc 1,20). Và mặc dù không hiểu hết những gì sẽ xãy ra cho Mẹ, Mẹ cũng không bao giờ hồ nghi.

“ Nhờ ánh sáng các ngôn sứ, Mẹ Maria bắt đầu hiểu mầu nhiệm xãy ra nơi Mẹ : mầu nhiệm Chúa làm người, mầu nhiệm nhập thể mà có Thánh thần đến nơi Mẹ, thực hiện nơi Mẹ. Dĩ nhiên, mầu nhiệm mà Mẹ bắt đầu cảm nghiệm đó đòi hỏi Mẹ phải vượt lên trên sự suy nghĩ của một người bình thường để có thể đạt tới thánh ý Thiên Chúa. Và vì thế mà Mẹ hằng suy gẫm trong lòng, trong bóng mờ gắn liền với niềm tin. Có nhiều điều Mẹ không hiểu đuợc ( Lc 2,50) theo như Luca tâm sự về phần cuối của giai đoạn che phủ. Mẹ chỉ hiểu từ từ sau này, sau Phục sinh và Hiện xuống, khi Mẹ nhận được Thánh Thần cách đầy trọn” (R.Laurentin)

Ngay lúc truyền tin, Chúa Thánh Thần đến với Mẹ Maria và sự hiện diện của Đấng Tối cao che phủ Mẹ (Lc 1,35). Mẹ nhận được ơn làm một động tác đức tin đối với Lời Chúa. Tiếng “Vâng” của Mẹ là vô điều kiện. Và qua tiếng “Vâng “ đó Mẹ phó mình cho Thiên Chúa; từ đó, Ngôi Lời của Chúa mới có thể đến với ta và cho ta lên tới Chúa.

Chúng ta phải nhận biết rằng, không ai trong chúng ta có thể thưa vâng với Chúa cách trọn vẹn như Đức Maria. Không ai trong ta có thể hoàn toàn làm theo ý Chúa, nghe theo tiếng Chúa tuyệt đối như Mẹ. Niềm tin của mẹ Maria đi trước và vượt xa niềm tin của chúng ta.

Tuy nhiên, ta cũng cần nhận thấy rằng, nhờ Mẹ Maria mà con đường giữa Chúa và loài người đã được mở ra. Nhờ niềm tin của Mẹ mà chúng ta cũng tới chỗ có khả năng thưa vâng với Lời Chúa, khiến cho Lời Chúa đên với ta và lôi kéo ta lên tới Chúa.

“Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho thầy bú mớm.” Nhưng Người đáp lại “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28).

“Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” ( Mc 3,35)

Qua việc hiến mình liên lĩ và tuyệt đối mỗi lúc của cuộc đời, Mẹ Maria đã không hề gây ngăn trở việc Chúa đến với con người. Đôi lúc không hiểu và mặc dù đau khổ, Mẹ vẫn tháp tùng Con cho đến tận cùng sứ mạng. Và khi đứng dưới chân thập giá, Mẹ đã thực hiện đúng như lời ông già Simêon tiên báo: ” lưỡi gươm đâm thâu lòng Bà để tâm tư nhiều người được tỏ lộ ra” (Lc 2,35).

Do đó tiếng vâng của Mẹ Maria trở nên điều khả dĩ cho bất kỳ ai muốn thưa vâng với Chúa. Qua tiếng vâng của Mẹ, được lập lại nhiều lần cho tới thập giá, nơi Mẹ hiệp nhất với Con, phó mình cho Chúa Cha, Mẹ Maria chỉ cho chúng ta con đuờng của tiếng Xin Vâng. Vì thế, khi nguyện cầu với Mẹ Maria, chúng ta kêu xin Mẹ dẫn ta vào tận trong con tim rộng mở của Mẹ, nhờ đó chúng ta có thể đạt tới được nơi mà tội nhân hầu như không thể tới nổi : cung thánh những đau khổ của Chúa Con.”

Mẹ Maria chỉ đuờng cho chúng ta , con đường Mẹ đã đi trên dấu chân của con Mẹ. Và Mẹ cho ta đuợc bước theo Mẹ. “Ông Tô-ma nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ? Đức Giêsu đáp :Chính Thầy là con đuờng, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy “ (Ga 14,5-6)

Con đường mà Chúa Giêsu vạch ra là con đường dẫn Người từ Cha đến thế gian và về lại với Cha. “Thầy từ Cha mà đến và đã đến trong thế gian và bây giờ Thầy bỏ thế gian mà về với Chúa Cha “ (Ga 16,28)

Chúa Con lên với Cha Người, có kéo theo cả thụ tạo, với Mẹ Maria, với giáo Hội, với tất cả những ai được Người Con cứu bằng tình yêu lớn lao của Người.

Và đây là lời kinh yêu thương (Lời nguyện hiến tế) thốt lên từ lòng Chúa Giêsu :” Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành “(Ga 17,24)

CÂU HỎI BÀI 20

1/ Bạn hãy đọc những câu Tin Mừng sau đây của Thánh Luca và Thánh Gioan , và dựa vào đó cho biết đức tin của mẹ Maria có những phẩm chất gì ? Trả lời thật ngắn gọn

a) Lc 1,38 b) Lc 1,39 c) Lc 2,22 d) Ga 2,3

2/ Tại sao nói Đức Maria dự phần vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa ?
 


Bài đọc thêm

ĐỨC MARIA TRONG ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH


“ Đứng gần thập giá có thân mẫu đức Giêsu và bà chị của thân mẫu Người là bà Maria vợ ông Cơ-lô-phát cùng bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu:” thưa bà đây là con bà”. Rồi Người nói với môn đệ:” Đây là mẹ của anh”. Kể từ giờ phút đó, người môn đệ rước bà về ở nhà mình.” (Ga 19,25-27)

Ngay từ sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa đã tiên báo về Đức Maria: “ Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi với người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống người ấy. Dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi.” (St 3,15)

Bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và Đức Maria đã là mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Đấng Cứu Thế. Người là Mẹ Thiên Chúa vì Chúa Giêsu do chính Mẹ sinh ra để làm người như chúng ta.

Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu đã hân hoan đón nhận lời công bố của Người từ trên thập giá mà xưng tụng Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, là Đấng trung gian chuyển cầu và là gương mẫu cho Giáo Hội về tinh thần sống đức tin, sự khiêm cung khó nghèo hay thương xót, giúp đỡ, ủi an và lòng khâm phục đối với Thiên Chúa.

1. ĐỨC MARIA LÀ NGƯỜI PHỤ NỮ ĐẦY ƠN PHÚC

Giáo hội đã muợn lời truyền tin của sứ thần Ga-bri-en và lời chào mừng của bà Elisabeth để làm thành kinh kính mừng ca ngợi Đức Mẹ cùng cầu xin Người bảo trợ cho ta trước mặt Thiên Chúa.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa trời ở cùng Bà, bà có phúc lạ hơn mọi người nữ…”(Lc 1,28-42)

Tín hữu đọc kinh này mỗi ngày là có ý không ngừng chúc tụng Đức Mẹ trong đời sống của mình.

2. ĐỨC MARIA LÀ NGƯỜI DỰ PHẦN VÀO CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ

Hội Thánh kính yêu Đức Maria không phải do cảm tính mà chính vì địa vị cao trọng của Đức Mẹ trong chương trình cứu độ. Sách tân ước thuật lại rõ hơn về vai trò của Đức Maria trong biến cố truyền tin (Lc 1,26-38), trong lần thăm viếng bà Elisabeth (lc 1,39-45) và qua lời cụ già Simêon. Tiếp đến là sự can thiệp của Đức Mẹ trong tiệc cưới Cana (Ga 1,12). Cuối cùng là giây phút Người đứng dưới chân thập giá để nhận lời trối trăng của Đức Giêsu (Ga 19,25-27)

3. HỘI THÁNH TUYÊN XƯNG NIỀM TIN VÀO ĐỨC MARIA

Trong chhương trình cứu độ loài người, Đức Maria được trao cho nhiệm vụ đặc biệt là làm mẹ Đức Kitô, làm Mẹ giáo Hội và làm Mẹ loài người. Vì Vậy, Người rất được tôn kính và trọng vọng, dưới nhiều hình thức và danh hiệu khác nhau.

3.1 Công bố các tín điều

Hội Thánh tin rằng Đức Maria đã được Thiên Chúa ban cho nhiều đặc ân và những đặc ân sau đây đã trở thành định tín

3.1.1 Đức Maria trọn đời đồng trinh do Công đồng Constantinope công bố năm 381
3.1.2 Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa do Công đồng Êphêsô III công bố năm 431
3.1.3 Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên tội do Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố năm 1854
3.1.4 Đức Maria hồn xác lên trời do Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố năm 1950

4. ẤN ĐỊNH NHỮNG LỄ KÍNH, LỄ TRỌNG VẾ ĐỨC MẸ TRONG PHỤNG VỤ

Những lễ này gốm có lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Maria thăm viếng bà Elisabét, lễ Đức Mẹ lên trời, lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, lễ Mai khôi, lễ Đức Mẹ Vô Nhiểm Nguyên tội.

5. KÍNH NHỚ TRONG THÁNH LỄ

Trong thánh lễ Hội thánh kính nhớ Đức Mẹ trong kinh Tạ ơn.

6. NHỮNG KINH ĐẶC BIỆT KÍNH ĐỨC MẸ

Gồm có kinh Truyền Tin và kinh Mai Khôi
6.1 Kinh Truyền Tin : giúp tín hữu suy gẫm về việc Ngôi Lời nhập thể và xin ơn giữ nghĩa cùng Chúa luôn để mai ngày được hưởng phúc vinh quang.
6.2 Kinh Mai Khôi : là cách cầu nguyện theo nội dung Tin Mừng và được coi như bản tóm lược cuộc đời Chúa Cứu Thế
Mai khôi có nghĩa là một loại ngọc quí và cũng là tên của một loại hoa hồng đẹp. Có lẽ tùy địa phương, người ta đọc trại ra là Mân côi, Văn côi, Môi khôi. Kinh chính của chuỗi mai khôi là kinh Kính Mừng, đuợc lặp đi lặp lại. 150 kinh Kính Mừng được ngắt thành từng chục một và chia đều thành ba ý chính diễn tả 3 giai đoạn trong cuộc đời Chúa Cứu Thế.

· Niềm vui vủa thế gian đuợc đón Thiên Chúa đến ( Năm Sự Vui)
· Cuộc đời rao giảng của Đức Kitô ( Năm Sự Sáng – mới được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thêm vào năm 2003)
· Các nỗi đau thương của Đức Kitô trong cuộc thọ hình ( Năm Sự Thương)
· Vinh quang phục sinh của Đức Kitô ( Năm Sự Mừng)

Kinh Lạy Cha đọc chen giữa mỗi chục là để phân biệt các biến cố trong từng giai đoạn. Còn kinh Sáng Danh là để ca tụng Thiên Chúa Ba Ngôi kết thúc mỗi biến cố và giai đoạn.

(Giáo lý đại cương dành cho người lớn – NXB Đức Tin & Văn Hóa 2004)
 


Bài đọc thêm
THÁNH GIUSE VÀ BA CON ĐƯỜNG

Thánh Giuse là con người thinh lặng. Nhưng Ngài là Thầy dạy nhiều nhân đức.

Năm nay mừng lễ Ngài tại Việt Nam trong tình hình mới, tôi cùng với những kẻ mến Ngài cùng nhau cầu nguyện và suy nghĩ. Chúng tôi khẩn khoản xin Ngài chỉ bảo cho biết điều gì mà Ngài thấy là cần để ý nhất cho cuộc sống đạo hôm nay. Tôi suy gẫm và giờ đây tôi mạo muội chia sẻ.

Tôi thấy cuộc sống Thánh Giuse được chi phối bởi ba con đường .

Cuộc sống của Thánh Giuse với ba con đường

1/ Con đuờng sinh sống của Thánh Giuse

Đọc phúc âm, chúng ta nhận ra phần nào hình ảnh sinh sống của thánh Giuse.

Ngài đã sinh sống đúng như một người lao động bình thuờng. Người kiếm sống một cách cần cù với nghề thợ mộc. Ngài hòa nhã với xóm làng. Ngài giữ luật nước đi về Bêlem để đăng ký. Theo lệnh Chúa, Ngài đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trở về Galilê, định cư tại thành Nazarét. Ở đó Ngài lo cho gia đình một cuộc sống tương đối đầy đủ. Ngài đuợc mọi người đồng hương coi là một người công chính.

Như vậy, con đuờng sinh sống của Thánh Giuse kể là ổn định, bảo đảm được nhân cách cho tất cả gia đình.

2/ Con đuờng giữ đạo của Thánh Giuse

Thánh Giuse đã thực hiện mọi điều luât đạo bấy giờ truyền dạy. Ngài để Chúa Hài Đồng chịu phép cắt bì, đúng ngày, đúng cách. Ngài đem Chúa Hài đồng lên Giêrusalem để tiến dâng lên Thiên Chúa. Hằng năm Ngài cùng với Đức Mẹ và Chúa Giêsu trẩy hội đến Đền Giêrusalem mừng lễ Vượt qua.

Con đường giữ đạo của thánh Giuse đuợc coi là đúng đắn, trọn vẹn theo luât đạo.

Ngài kính trọng các hình thức luật đạo. Trong mọi hình thức đó, Ngài dâng lên Chúa tất cả tấm lòng tin cậy mến, tôn thờ tạ ơn Chúa và yêu thương phục vụ tha nhân.

3/ Con đuờng thiêng liêng của Thánh Giuse

Tôi gọi con đuờng thiêng liêng của Thánh Giuse là sự Ngài tin tuyệt đối Chúa Giêsu chính là con đường cứu độ nhân loại. Niềm tin này đưa Ngài vào sự sống mới. Ngài gắn bó mật thiết với chúa Giêsu, khiêm nhường vâng phục thánh ý Chúa Cha. Sự sống mới không ngừng thôi thúc Ngài từ bỏ mình, sẵn sàng chịu mọi sự khốn khó, để cộng tác vào chương trình cứu thế của chúa Giêsu.

Con đường htiêng liêng này rất âm thầm, nhưng biến đổi toàn diện đời Ngài. Ngài sống cho ơn gọi đó. Hạnh phúc của Ngài là được đi trên con đường thiêng liêng cao cả ấy. Ngài biết con đường thiêng liêng này đòi Ngài phải tỉnh thức lắng nghe ý Chúa, khiêm tốn thực thi ý Chúa trong mọi sự, can đảm bỏ ý riêng. Nhưng nhờ ơn Chúa, Ngài đã trung thành với con đường này từng giây từng phút suốt trọn đời Ngài.

Cuộc sống Thánh Giuse là đã đi theo ba con đường trên đây một cách hài hòa, với nhiều tỉnh thức và khôn ngoan, nhất là với đức ái quên mình.

Bây giờ, chúng ta thử nhìn vào chính mình và cộng đoàn ta, để xem cuộc sống hiện nay của ta có giống cuộc sống của Thánh Giuse không.

Cuộc sống của chúng ta với những con đường

1/ Con đuờng sinh sống của ta

Ta phải sống. Nên ta lo chọn một con đuờng để sinh sống, sao cho an cư lạc nghiệp. Nỗi lo đó là chính đáng. Nhưng trên thực tế hôm nay, đang xãy ra nhiều điều đáng ngại. Có những người lười biếng, không phấn đấu làm ăn lương thiện. Lại có những người chạy theo con đường làm ăn sinh sống với nhiều tham vọng không chính đáng. Được cái này lại muốn thêm cái kia. Ngày đêm bơi lội trong những bận tâm về của cải và danh vọng.

Phong trào hưởng thụ và cạnh tranh kinh tế đang thúc đẩy con người dốc hết sức mình vào hiệu năng vật chất. Xa xỉ kéo theo xa xỉ. Phí phạm đòi thêm phí phạm.

Tham vọng không biên giới. Hưởng thụ không có chỗ dừng. Nhiều điều lừa dối ta, Nhưng lại nói là để phục vụ cuộc sống. Do đó, rất nhiều người không còn để tâm đến việc đạo.

2/ Con đường giữ đạo của ta

Thực ra phần đông còn giữ đạo. Nhưng biết bao người giữ đạo cho có lệ. An tâm với hình thức. Bỏ nhiều điếu căn bản. Nhất là lỗi phạm đức ái một cách ngon lành.

Đáng ngại nhất là người trong đạo bị dụng-cụ-hóa, để cho ma quỷ tự do lôi kéo vào những chương trình đen tối, gây nên gương mù gương xấu.

3/ Con đường thiêng liêng của ta

Nếu tôi không lầm, thì con đường htiêng liêng hiện nay đang bị nhiều cộng đoàn coi rất nhẹ. Con đường thiêng liêng, mà thánh Giuse đã tha thiết trung thành là sống mật thiết với Chúa Giêsu, luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Con đuờng ấy trước đây đã được nhiều giáo dân, nhât là nhiều tu sĩ giáo sĩ nêu gương. Nhưng nay mẫu gương đời sống khó nghèo, chiêm niệm, cầu nguyện, hy sinh, khổ hạnh đang có nguy cơ trở nên khan hiếm.

Hiện nay cơ sở đạo ta được mở mang hơn. Tổ chức đạo ta được tưng bừng hơn. Nhân sự đạo ta được tăng số hơn. Thiết tưởng tất cả sẽ tốt hơn, nếu con đường thiêng liêng cũng được phát triển sâu rộng, nhất là nơi những người tu, đặc biệt là nơi các đấng bậc trong đạo.

Phần đông chúng ta tưởng rằng: vấn đề giải phóng con người tùy thuộc ở vấn đề tăng trưởng kinh tế,thay đổi cơ chế xã hội, tự do tín ngưỡng. Thiết nghĩ đó chỉ đúng một phần. Theo tôi yếu tố quan trọng để cứu độ con người và thế giới vẫn là con đường thiêng liêng. Thánh kinh dạy như thế. Kinh nghiệm lịch sử minh chứng điều đó. Tại Việt Nam, nhiều nơi coi đạo như đang lên, nhưng thực sự đang xuống, vì bỏ con đường thiêng liêng.

Xin Thánh Giuse thương dẫn dắt mỗi người chúng ta đi đúng những con đường mà Chúa muốn, nhất là biết tha thiết với con đường thiêng liêng cứu độ, mà xưa Ngài đã gắn bó.

Xin Thánh Giuse chia sẻ đức ái của Ngài một cách đặc biệt cho các gia trưởng, và một cách đặc biệt hơn nữa cho các mục tử tại Việt Nam hôm nay.

+GM G.B Bùi Tuần
 


Bài đọc thêm
NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Mầu Nhiệm Thiên Chúa thuộc về thượng trí của Thiên Chúa. Đã là thần trí thì luôn luôn vượt quá lý trí của con người. Và để kết hợp với thần trí, con người buộc đi sâu vào trong đức tin. Chỉ nhờ lý trí kết hợp trong đức tin, con người mới cảm nghiệm được thế nào là ân ban. Khi đón nhận ân huệ của Thiên Chúa thì con người phải tự hạ, tự thu nhỏ lại không phải vì mặc cảm tự ti mà chỉ vì Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng Toàn Năng cao cả. Còn ta là thụ tạo nhỏ bé được hình thành trong tình yêu nâng cao để ta không còn là nô lệ mà là tự do đáp trả lại tình yêu mời gọi sự tự do của đức tin.

Chắc một điều, thánh Giuse là người rất tự do bởi Người đã chọn một cuộc hôn nhân khác thường. Một cuộc sống lệ thuộc bởi Lề Luật nhưng người đã tự do chọn lựa không hòan toàn đi vào trong trói buộc như nô lệ của qui định xã hội mang đậm nét tôn giáo Do Thái lúc đó. Người thành hôn với bà Maria theo luật buộc nhưng lại không bị trói buộc, vì sự tự hiến sống trinh khiết trọn vẹn cho Thiên Chúa và vì mọi người đang đón đợi Đấng Cứu Thế như một sự đáp trả trong tình yêu mà chỉ trong đức tin mới sống được tự do đến như thế.

Từ lối sống khiết tịnh trao ban trong tự do đáp trả lại tình yêu Thiên Chúa mà thánh Giuse được gọi là người công chính. Không chỉ với tiếng gọi trên mà Người còn thể hiện tình yêu đối với tha nhân, cụ thể là với người bạn kết hôn với mình nữa. Với tình yêu nồng nàn, thánh Giuse đã không thi hành theo luật hiện hành là có quyền tố cáo sự bất trung nơi bà Maria. Thay vào đó, Người âm thầm lặng lẽ chấp nhận phần thua thiệt, sự thiệt hại danh dự về cho mình. Người đã chọn sự tự do không ồn ào, âm thầm để đem lại sự tự do cho bà Maria.

Từ ân ban được từ bỏ cái bản tính xác thịt, Người lại tiếp tục nhận đuợc ân ban yêu thương người khác. Đức ái đã triển nở đầy đủ cả hai hướng: thanh dọc của Thập Giá và rồi lại thanh ngang nữa. Như vậy thánh Giuse đã sống thập giá của đời mình trước cả khi tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô. Sống thập giá phải là người tràn đầy Thánh Thần Chúa cũng như thánh Phaolô đã mặc khải:

“Thiên Chúa là Thần Khí và ở đâu có Thần Khí của Chúa ở đó có tự do” (2Cr 3, 17).

Với một vài chữ “ông Giuse, chồng bà Maria là người công chính”, thánh Luca đã đủ để nói lên tất cả sự vuợt trội của cha thánh Giuse. Dù nằm trong kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa nhưng Ngài vẫn luôn mời gọi sự cộng tác của con người. Đặc biệt thánh Giuse, người cha nuôi Chúa Giêsu, đã tự do đón nhận ân huệ của Thiên Chúa và khi đứng trước Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu, người vẫn luôn lắng nghe, vẫn cầu nguyện và cầu nguyện. Khi nghe được tiếng đáp trả của Thiên Chúa qua sứ thần trước khát khao sống thánh ý Chúa, Ngài đã vâng theo. Quả là mẫu gương sống công chính để tiếp nhận mầu nhiệm Nhập Thể.

Tôi phải sống thế nào để đón nhận mầu nhiệm Quang Lâm mà nhập thể cũng là một lần Đến của Chúa Giêsu. Để được nhập thân xác và tâm hồn của tôi vào trong mầu nhiệm Phục Sinh vinh hiển của Chúa, không còn cách nào khác là hãy sống tự do thập giá Đức Kitô mà thánh Giuse sẽ giúp tôi bằng cách chiêm ngắm đời sống công chính của Ngài cho tường tận.

Lạy Chúa Giêsu Tình Yêu của con, Chúa là hiện thân Mầu Nhiệm Thiên Chúa, là thần trí và là quyền năng của Ngài. Xin biến đổi con luôn mãi bởi con đã quá đau khổ trong thân xác yếu hèn dù Chúa đã soi rọi vào đức tin của con rằng: “Đau khổ quả là điều hữu ích để giúp con học biết Thánh chỉ Ngài” (Tv 118, 71).
Lạy Thánh Cả Giuse, Ngài đã đau khổ khi bị dằn vặt bởi mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu, đã đau khổ khi đời sống khiết tịnh đang bị phá vỡ bởi hai tiếng “xin vâng” của mẹ Maria, xin Ngài tăng thêm sức mạnh cho con để con được trở nên công chính và biết thu nhỏ mình lại hòng cho chúa Giêsu lớn lên trọn vẹn và thập toàn trong con. Sống Thập Giá Chúa Kitô là sống công chính vậy. Amen.

Mùa vọng, 18/12/2006

Phêrô Vũ văn Quí CVK64