Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 2: Tin Mừng và các thể văn

I.  Tin Mừng và những sách Phúc Âm.

Rất lâu trước khi đuợc viết ra, sách Phúc Âm chính là Tin Mừng mà Đức Giêsu loan báo và sau Người, các môn đệ và tông đồ dân ngoại Phaolô tiếp tục rao giảng. (Mc 1,14-15; Rm 1,16; 1Cr 4, 15; Ga 2, 2)

Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giêsu đến miền Galilê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Ngài nói: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. (Mc 1, 14-15)

Theo lẽ thường thì chữ “Tin Mừng” khiến ta nghĩ đến một bản văn, một chuyện lịch sử được biên soạn theo 4 hình thức khác nhau: “theo” Marcô, “theo” Luca, “theo” Matthêu, “theo” Gioan. Tất cả 4 tác phẩm đó là 4 cách thức để nói về một Tin Mừng duy nhất: TIN MỪNG ĐỨC GIÊSU KITÔ.

MÁC-CÔ là người sáng tạo ra thể văn mới này. Chính ông đã mở đầu câu chuyện kể khi  viết: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”. (Mc 1, 1)

Mác-cô không nói về Đức Giêsu của thời quá khứ, nhưng thường nói thời hiện tại. Cách nào đó thì đây không phải là thứ văn chương vụng về. Nhưng thực ra, đó là dấu chỉ của một niềm xác tín thâm sâu: Đức Giêsu hiện đang sống và luôn hiện diện trong cộng đoàn tin và cử hành phụng vụ.

II. Thể văn “Tin Mừng”.

Qua câu chuyện kể, các thánh sử muốn khắc họa lại chân dung của Đức Giêsu, cuộc sống và lời giáo huấn của Người.

Đức Giêsu được nói đến, chính là Đức Giêsu của lòng tin, Đức Giêsu Kitô Phục Sinh. Những chuyện kể của các ông sống động từ cả hai xu hướng: chúng liên hệ tới một số sự kiện trong cuộc đời Đức Giêsu, đồng thời chúng cho những sự kiện đó một ý nghĩa, giải thích dưới ánh sáng đức tin của các ông nơi Đức Kitô Phục Sinh.

Đó là hai yếu tố cấu thành những câu chuyện kể trong Tin Mừng, không đối chọi nhau: ý nghĩa tham dự vào trong chính biến cố.

Sách Tin Mừng cũng là những câu chuyện kể mang một hình thái văn chương đặc biệt. Một cách nào đó, chúng cũng là sách giáo lý với một ý hướng ngầm mang tính tiểu sử. Không thể nói thực chất đây là những câu chuyện mang tính lịch sử hay tiểu sử . Do đó, sẽ rất khó mà phác họa ra tiểu sử Đức Kitô khởi đi từ 4 sách Tin Mừng.

Ví dụ, khi đọc Tin Mừng Gioan, ta nhận ra ý định của thánh sử rất khác. Dẫu vậy, các sách Tin Mừng không coi thường tính lịch sử: trong nhiều điểm, chúng ám chỉ đến điều này một cách chắc chắn.

Tin Mừng hơn hẳn một cuốn sách lịch sử. Ở đây, ta khám phá ra nhiều điều khác hơn là “bức ảnh” của Đức Giêsu. Trong niềm tin vào sự Phục Sinh và dưới ánh sáng của Thần Khí, các môn đệ, những người đã biết rất rõ về Đức Giêsu, nói cho chúng ta biết Người là ai, làm thế nào các ông từng chút khám phá ra mầu nhiệm của Người, Người đã thay đổi điều gì trong cuộc sống của các ông.

Các ông không cho chúng ta “ chứng cớ”. Các ông nói cho chúng ta về Người mà các ông đã đặt trọn niềm tin và tình yêu mến.

Vì vậy các ông mời chúng ta đọc Tin Mừng.

III. Các  thể văn trong sách Tin Mừng.

          Chúng ta hãy làm quen với cách viết sách Tin Mừng của các thánh sử. Trong các sách đó, chúng ta khám phá ra nhiều cách thể hiện, nhiều hình thức văn chương khác nhau.

          Người ta kể lại một tai nạn xe cộ cho một người bạn và cho một hãng bảo hiểm không cùng một cách thức như nhau! Thể loại văn chương cũng khác nhau như thế.

Các thánh sử chịu ảnh hưởng văn phong của thời đại. Đôi khi, các ông tường thuật những lời rao giảng cùng việc làm của Đức Giêsu cách tự do hơn, theo bút pháp riêng.

a)  Những phong cách văn chương.

Có một số văn phong vào thời Đức Giêsu. Các thánh sử đã sử dụng chúng. Ví dụ:

* Chuyện kể về phép lạ gồm 5 điểm:

-         Dẫn nhập giới thiệu sự việc. (Thường là một tình trạng suy kiệt)

-         Yêu cầu can thiệp (một tiếng gọi, một tiếng kêu la) biểu lộ niềm tin của người cầu xin hay của người chung quanh.

-         Sự can thiệp của người mà người ta cầu mong một phép lạ.

-         Kết quả xẩy ra.

-         Phản ứng của những người chứng kiến. (sợ hãi, thán phục …)

* Dụ ngôn, thể văn thông dụng để răn dạy hay để dẫn dắt thính giả biết tự đánh giá

* Chuyện kể về ơn gọi hay tiếng gọi, thường ngắn gọn và rập theo khuôn mẫu về ơn gọi trong Cựu Ước.

* Trong số những diễn từ, loại phổ biến nhất: diễn từ cáo biệt. Một nhân vật quan trọng biết mình sắp sửa ra đi và ông ta đã để lại những huấn lệnh cho các môn đệ của mình (như trong Ga 13 và 17).

* Cuộc tranh luận hay đối chất giữa các nhà thông luật, giữa các thầy rabbi.

  Mô hình thường theo phương cách sau đây:

-     Một hành vi, một lời nói của Đức Giêsu kích thích sự ngạc nhiên.

-     Cuộc tranh luận bắt đầu.

-      Cuộc đối chất thực sự xẩy ra đúng thời điểm: phải chọn lựa và thường thì lúc bấy giờ, những nhân chứng tự tách ra. (như trong Mc 2, 5-11: tranh luận về Thiên Chúa và sự tha tội nhân việc chữa lành người bại liệt)

* Câu văn trong ngoặc nhằm nhấn mạnh một lời nói quan trọng trong câu chuyện. Lời nói đó làm nổi bật lên giá trị của câu văn.

(Xem Mc 12, 13-17 để làm nổi bật giá trị là câu 17; Mc 2, 15-17 để làm nổi bật giá trị là câu 17).

* Những lời trôi nổi, nghĩa là những ngôn từ của Đức Giêsu mà người ta đã quên ngữ cảnh và những lời đó bây giờ được gắn kết vào trong diễn từ hay vào trong chuyện kể, khi có thể. (Mt 8, 11-12)

b)  Những thể văn khác nhau.

“Thể văn” ở đây có nghĩa là cách thức diễn tả nhằm đạt được một kết quả nào đó. Người ta dùng một vài cách, một vài hình ảnh nào đó để gây ấn tượng nơi độc giả.

* Thể văn thần hiện: (tiếng Hy Lạp: “théos” = Thiên Chúa; “phaneim” = biểu lộ)

Ví dụ: Tại núi Sinai: lửa, sấm chớp, sự rung chuyển của núi nhằm diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa ở đó.

Trong ngày lễ hiện xuống: những hình lưỡi lửa biểu lộ sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần trên từng vị tông đồ.

Xin xem thêm những chuyện kể về phép rửa, về sự biến hình, về sự sống lại của Đức Giêsu.

* Thể văn khải huyền: ( tiếng Hy Lạp: “apocalupsein” = mặc khải, vén màn che phủ) nhằm giải thích một niềm tin chắc chắn, niềm hy vọng trong lúc đang bị hiểm nguy đe dọa hay trong thời kỳ đau khổ.

Ví dụ: Sách ngôn sứ Danien hay một vài diễn từ trong Tin Mừng (Mc 13)

* Cách kể tư tưởng: Thay vì trình bày tư tuởng một cách trừu tượng, người ta thường kể một câu chuyện để hiểu rõ tư tưởng đó.

*Thể văn Midrash: (tiếng Hy Lạp: “darash” = tìm kiếm) Tìm trong Sách Thánh xem vấn đề có liên quan đến hiện tại như thế nào; nó hiện thực thế nào cho chúng ta. Ví dụ : Người ta tìm được trong Sách Thánh những qui tắc để hành động, những câu chuyện để cảm hóa...

Những chuyện kể thời thơ ấu của Đức Giêsu (Mt) có những nét giống thể văn “Midrash” (xem Ga 6).

KẾT LUẬN

         Có lẽ những điều đó làm bạn cảm thấy rắc rối chăng! Bạn chớ lo âu và đừng thối chí. Mọi sự sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta nghiên cứu bản văn và tìm ra những thí dụ phù hợp.

         Vào lúc này, điều cần thiết là phải ý thức rằng không phải nắm bắt được câu chuyện theo sát mặt chữ hay ở bình diện lịch sử là tốt. Các thể văn  cho chúng ta hiểu rằng đôi khi chữ nghĩa muốn nói một cái gì khác hơn là cái chúng “có vẻ” muốn nói .

CÂU HỎI BÀI SỐ 2

CHUYỆN KỂ VỀ PHÉP LẠ: TRẬN CUỒNG PHONG ĐÃ LẶNG YÊN

Hãy đọc Mc 4, 35-41

1.    Hãy tìm trong câu chuyện kể về phép lạ, 5 điểm đã liệt kê trong bài học (số III. phần a –chuyện kể về phép lạ)

2.    Tại sao Đức Giêsu đe dọa cơn bão như đe dọa một quỷ dữ?

3.    Câu 40: từ “nhát” được dùng ở đây cũng xuất hiện 3 lần trong Tân Ước: Ga 14, 27; 2Tm 1, 7; Kh 21, 8.

     Đây là loại nhát sợ nào?

4.    Đoạn nào theo sau câu chuyện này trong 3 sách Tin Mừng nhất lãm?

5.    Tất cả điều đó có giải thích được sự sợ hãi của môn đệ, sự phản kháng của quỷ dữ không?

6.    Tại sao Marcô kể lại câu chuyện này?  Với câu 40, ý nghĩa của câu chuyện là gì? Và nếu không có câu 40 ?


Bài đọc thêm

MỘT QUAN ĐIỂM VỀ Ý NGHĨA CỦA TIN MỪNG
ĐỐI VỚI CHÚNG TA NGÀY NAY.

Tin Mừng Marcô gần nguồn gốc hơn cả. Nhưng trong ý nghĩa nào? Đức Giêsu đã chết vào những năm 30–33. Những lá thư đầu tiên của Thánh Phaolô, những thư gửi cộng đoàn Thêxalônica, được xác định vào năm 51. Những thư cuối cùng, do chính ngài viết hay do một trong những môn đệ của ngài, được ghi nhận muộn hơn vào những năm 61-63. Khoảng 30 năm trôi qua và trong khoảng thời gian đó, những cộng đoàn kitô hữu tiên khởi tự xây dựng lên từ một lời loan báo lạ lùng và không mong đợi: con người có tên là Giêsu đã bị đóng đinh vào thập giá dưới thời quan Philatô, đã trỗi dậy từ trong kẻ chết. Thiên Chúa đã phục sinh ông ta. Tin đó được một vài phụ nữ tiết lộ vào sáng ngày lễ Vượt Qua và lan truyền trong các môn đệ, những người sau đó đã loan đi khắp vùng đồng bằng Địa Trung Hải cho đến thủ đô đế quốc là Rôma. Tin đó làm khơi dậy khắp nơi những nhóm nam nữ chấp nhận một lối sống khác hẳn; để tưởng nhớ đến con người đó, họ đã bẻ bánh, chia sẻ của cải, xây đắp cho nhau trong yêu thương.

Trong các thư của mình, Thánh Phaolô soạn thảo ý nghĩa thần học của sự sống lại và đề nghị những đáp trả cụ thể dẫn đưa vào đời sống của bất cứ ai quyết định để cho niềm tin sống lại tác động đến mình. Những tiêu chuẩn mới , một lối sống gây kinh ngạc, cho họ nhìn thấy áng sáng trong một thế giới mà các tôn giáo và mọi thứ triết học sát cánh bên nhau. Lời loan báo  sự sống lại đã thấm nhập vào trong tim các tín hữu.

Lập tức, lương tâm trở nên sống động mà Đức Giêsu Kitô tiếp tục công trình của Người giữa những thân hữu, nhưng bằng một cách thức mới mẻ hơn, sâu thẳm hơn nhờ sự hiện diện và sức mạnh cùa Thần Khí, Đấng mà Người đã lãnh nhận từ Chúa Cha và thông chia cho thân hữu qua cái chết trên thập giá: Thần Khí của các mối phúc thật

Là người phát ngôn của cộng đoàn gần gũi với mình, nên Marcô đã liên kết vào trong tác phẩm của mình, (khoảng năm 70) sự hiện diện của cộng đoàn kitô hữu với những huấn từ và việc làm của Đức Giêsu Nazaret mà họ tuyên xưng là Đức Kitô và là Đức Chúa. Cho dù thuộc quan điểm nào đi nữa thì Tin Mừng của Marcô vẫn thể hiện được bề dầy lịch sử, dù cho có hiện tượng tách biệt nó ra khỏi biến cố sáng lập và thời gian đó đã liên kết gắn bó Tin Mừng của Ngài với đời sống cộng đoàn kitô hữu. Những giáo đoàn này đã phát sinh ra nhờ Tin Mừng đó.

Do đó, tác phẩm của ngài không đơn thuần là ghi lại tiểu sử của Đức Giêsu Nazaret, như người ta có thể đọc tiểu sử trong một tờ báo nào đó. Qua những việc làm và hành vi của Đức Giêsu mà ngài tường thuật, Marcô làm chứng về sự sống lại từ cõi chết của Người và về đời sống của những cộng đoàn mà Thần Khí của Người đã tác động trong suốt hơn 30 năm qua.

Công trình viết sách đó thật ấn tượng. Cấu trúc văn chương trong Tin Mừng của Marcô là một tỏa sáng đáng ngạc nhiên. Trước tiên, những chữ mở đầu là sợi chỉ xuyên suốt của tác phẩm: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1, 1). Hai danh hiệu được hòa quyện trong phần thân của sách.

Phần khai mở dẫn người đọc đi vào trọng tâm của câu chuyện. Nơi sông Giođan, Gioan Tẩy Giả loan báo Đức Giêsu đang đến và làm phép rửa bằng nước cho Người. Rồi Đức Giêsu đựơc thúc đẩy đi vào hoang địa bởi Chúa Thánh Thần (1, 1-12). Đang khi chịu phép rửa, “tầng trời xé ra”, Thần Khí Chúa ngự xuống trên Người và có tiếng từ trời phán bảo “Con yêu dấu”. “Tầng trời xé ra”, một thành ngữ mạnh mẽ được lấy lại từ lời kinh cổ mà Isaia dâng lên Giavê: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống...” (Is 63, 19) Lời cầu nguyện của Isaia sau cùng đã đựơc nhận lời; trong Đức Giêsu, Thiên Chúa “ngự xuống” để giải thoát dân Người; thời kỳ đã mãn.

Bấy giờ, phần đầu câu chuyện được khai mở. “Đức Giêsu đến miền Galilê” và kêu gọi những môn đệ đầu tiên theo Người (1, 14-20). Người rao giảng nơi vùng lân cận, khử trừ ma quỷ và sai các môn đệ đi rao giảng. Hầu như tại những nơi đi Người qua, lời và các việc Người làm đều đem lại sự sống. Trong suốt thời gian dài cùng đồng hành với Người, Phêrô đi đến lời tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô” (8, 29). Ngài tôn vinh Đức Giêsu cùng danh xưng như Marcô đã ghi lại trong điểm mâu chốt của Tin Mừng: “Đức Kitô” nghĩa là Đấng Xức Dầu, Đấng Cứu Thế, Đấng mà các ngôn sứ đã loan báo và là Đấng mà dân Israel mong đợi.

Phần hai của câu chuyện bắt đầu với thời điểm đựơc ấn định (8, 31). Đức Giêsu quyết định lên thành Giêrusalem, cùng cho các môn đệ của Người biết mình sẽ bị giết và sống lại sau ba ngày.

Khi vào thành, Người đối diện với các kỳ mục và Pharisêu trong Đền Thờ, rồi bị kết án, bị đóng đinh và mai táng bên ngoài thành (15, 46). Ngay lúc Người hấp hối trên thập giá, màn trong Đền Thờ “xé ra” làm hai từ trên xuống dưới.

Từ lâu, đã không còn nghe được lời Thiên Chúa; nay trời và đất giao nhau rõ rệt. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu đã nhận ra: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (15, 31). Một người ngoại giáo, đến lần mình, cũng thốt lên lời tuyên xưng đức tin. Người đó đã nhận ra chính Đức Giêsu là Đấng đến với mình. Do đó, phần cuối Tin Mừng vẫn thể hiện đựơc nguồn khởi sự từ những chữ đầu tiên: “Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”. Vả dường như đã nói lên trọn vẹn. Trừ một chi tiết: viên đại đội trưởng suy diễn còn khiếm khuyết, làm như mọi sự đã chấm dứt đối với Đức Giêsu. Dường như....

Vì câu chuyện vẫn còn tiếp tục. Lời loan báo của Gioan Tẩy Giả, nơi phần đầu Tin Mừng, bây giờ phù hợp với lời nhắn bảo của người thanh niên nói với cac phụ nữ đến mộ vào sáng ngày lễ Vượt Qua: “Người đã chỗi dậy... Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phêrô rằng: “Người sẽ đến Galilê trước các ông, ở đó, các ông sẽ đựơc thấy Người như Ngừơi đã nói với các ông.” (16, 7). Sự khởi đầu mới, đúng hơn là lời mời gọi trở về những nơi chốn ban đầu, khi “Đức Giêsu đến Galilê” (1, 14).

Theo cấu trúc mà Marcô ghi dấu nơi Tin Mừng, thánh nhân dĩ nhiên mời gọi độc giả hãy trở về miền Galilê như các tông đồ và hãy chia sẻ những cảm nghiệm mà Đức Giêsu đã làm cho họ đựơc sống. Nhưng chính vì khởi đi từ Tin Mừng Phục Sinh mà mỗi người hãy xây dựng lại cho mình hướng đi. Công trình biên soạn đã được thực hiện như ta vừa cảm nhận, thì đến lần mình, người đọc cũng phải có nhiệt tâm để đọc, suy gẫm như thế.

Đọc, suy gẫm và cầu nguyện Tin Mừng ngày nay, trong sự bề bộn của cuộc sống, luôn là lời mời gọi cần phải nắm vững hai yếu tố: gặp gỡ Đức Giêsu Nazaret và cảm nhận đựơc những kinh nghiệm của cộng đoàn đã liên kết chặt chẽ lại với nhau bởi Đức Kitô Phục Sinh. Ta cần phải đọc Tin Mừng Đức Giêsu Kitô trong một câu chuyện kể được xác tín bởi 2 yếu tố lịch sử đã đựơc kết hợp nhuần nhuyễn lại với nhau. Điều đó sẽ luôn là lời chất vất của Đức Giêsu mà dường như chính Marcô đã thấu hiểu và đã diễn giải cho chúng ta khi đọc lại cuộc đời của Người dưới ánh sáng liên kết với Đức Giêsu và dưới ánh sáng Phục Sinh: Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa. Điều đó cũng có nghĩa là gặp gỡ không chỉ với “Đức Giêsu con người lịch sử”, Đấng đã sống làm người ở Galilê và trong không gian gò bó, rồi chết ở Giêrusalem, mà là với “Đức Giêsu trong niềm tin của chúng ta”, Đấng đã mặc khải quyền năng Phục Sinh Vinh Hiển trong muôn vàn biến chuyển trong đời sống con người.

Là tác phẩm mang lại sự sống nên Tin Mừng làm cho cội nguồn được hiện diện vào trong mọi thời đại của lịch sử. Nguồn cội, theo văn học, có nghĩa là căn nguyên mãi luôn làm phát sinh ra cảm nghiệm sống động từ Đức Giêsu Phục Sinh...

Tin Mừng quả thật không đem lại điều bí ẩn kì diệu nào cho ai chỉ lướt qua bên ngoài chữ viết. Những biến cố mà Tin Mừng tường thuật, đem lại cho người đọc sự cảm nghiệm tinh tế về sự hiện diện của cá nhân mình và về sức sống của cả cộng đoàn kitô hữu nữa. (1)

“Tất cả những ai đọc Tin Mừng đều được mời gọi đón nhận tư tưởng của Thiên Chúa đựơc thể hiện nơi Đức Giêsu và qua từng số phận riêng của mỗi người. Đến lần mình, bạn đọc khi bước đi theo dấu chân của Thầy mình, sẽ tự đồng hóa hầu như hẳn nhiên với những môn đệ trong Tin Mừng.

Như các môn đệ, bạn đọc sẽ chấp nhận lên đường mà mình cũng chưa rõ điểm phát xuất, nhưng qua đó, đức tin mời gọi ta tiến bước, đồng thời bạn đọc cũng ý thức là sẽ được hướng dẫn để hiểu lời của Đức Giêsu, Tin Mừng của Thiên Chúa mà Marcô đã loan báo.

Như các môn đệ, công bằng mà nói thì bạn đọc sẽ có lúc cảm thấy yếu nhược, sinh ra nghi ngờ, bất lực. Tuy nhiên, ta sẽ nhận ra rằng các tiền nhân cũng đã trải qua những khó khăn đó trong đức tin nhưng các ngài đã có thể vượt qua. Thì đến lượt ta, ta cũng sẽ được khấng ban sức mạnh để kiên trì đi đến cùng đích.” (2)

Phần tài liệu học tập và suy niệm được trích từ:

(1)  Ferments d’Évangile” P. BACQ et O. Ribadeau Dumas, Ed. Lumen Vitae, 1998.

       (2) Le récit de Marc” G. Bonneau, Connaitre la Bible, Lumen Vitae, 2000.