Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 2: Cuộc đời Thánh Phaolô – phần 2

HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO THỨ HAI CỦA THÁNH PHAOLÔ   

Phaolô lên đường với Xila theo một hướng khác với hướng đi của Bác-na-bê để thăm các cộng đoàn đuợc thành lập trong chuyến đi thứ nhất. Ông đi qua Tác-xô, Đéc-bê. Ở Lýt-ra, một người bạn đường mới là Ti-mô-thê cùng đi với họ. Họ đi đến I-cô-ni-ô, Pi-xi-đi-a và tiếp đến là Trô-a theo linh hứng của Thánh Linh. Một đêm nọ, Phaolô thấy một thị kiến : một người miền Ma-kê-đô-ni-a mời ông sang giúp họ (Cv 16,1-10)

Các ông lên đường đi Ma-kê-đô-ni-a; đảo Xa-mốt-ra-kê, Nê-a-pô-li, Phi-lip-phê. Chính ở Phi-lip-phê mà Phaolô và Xila bị đánh đòn và bị cầm tù. Một cách bí nhiệm các ông được giải thoát và rời khỏi Phi-lip-phê (Cv 16,16-40)

Các ông đến Thê-xa-lô-ni-ca nhưng bài thuyết giáo của Phaolô khơi mào cho những cuộc chống đối. Họ rời Thê-xa-lô-ni-ca đi Bê-roi-a và sau những khó khăn tại thành này, Phaolô đi A-thê-na. Nơi đây giáo huấn của ông cũng không được đón nhận.

Phaolô đi đến Cô-rin-tô . Ông kết thân với ông A-qui-la và Pơ-rít-ki-la cùng dệt lều như ông. Xila và Ti-mô-thê gặp lại Phaolô và Phaolô chuyên tâm rao giảng Tin Mừng. Dân Do Thái chống đối lời giảng dạy của Phaolô .” Máu các người cứ đổ xuống trên đầu các ngươi! Phần tôi, tôi vô can; từ nay trở đi tôi sẽ đến với người ngoại” (Cv 18,6). Phaolô ở lại 18 tháng trong thành giảng dạy Lời Chúa. Người Do thái đồng loạt chống đối ông và đưa ông ra tòa. Phaolô ra tòa trước mặt Ga-li-on, thống đốc Rôma tỉnh A-khai-a. Một bia khắc tìm thấy ở Delphes cho phép ta xác định thời điểm ra tòa của Phaolô là vào năm 52. Ga-li-on không muốn xét xử Phaolô vì sự việc liên quan đến tín lý và luật lệ Do thái. Cũng vì lý do này, ông ta không thể phán quyết gì chống lại Phaolô theo luật Rôma. (Cv 18,12-17) 

Phaolô trở lại An-ti-ô-khi-a miền Sy-ri-a, đi ngang qua Ê-phêxô, Xê-xa-rê và Giê-ru-sa-lem (Cv 18,18-23)

HÀNH TRÌNH TRUYỀN GIÁO THỨ BA CỦA THÁNH PHAOLÔ

Phaolô lên đường sau khi lưu lại vài ngày ở An-ti-ô-khi-a miền Xy-ri. Ông muốn đi thăm tất cả các cộng đoàn ông đã gầy dựng. Ông ghé Tác-xô, Đéc-bê, Lýt-ra,I-cô-ni-ô, An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, Cô-lô-xê, Lao-đi-ki-a để đến Ê-phê-xô. Ông ở lại đó ba năm từ năm 54 đến 57 (Cv 19).

Do có nhiều sự chống đối kế tiếp. Phaolô rời Ê-phê-xô đi Ma-kê-đô-ni-a. Ông thăm các cộng đoàn Trô-a, Phi-lip-phê, Thê-xa-lô-ni-ca và đến Cô-rin-tô. Ông ở lại đây ba tháng trong mùa đông 57-58. Ông nghĩ phải về Giê-ru-sa-lem bằng đường biển nhưng một âm mưu của người Do Thái làm ông chuyển hướng qua đường Ma-kê-đô-ni-a. Từ Trô-a, ông xuống tàu đi Mi-lê-tô. Tại đây, khi đến Giêrusalem, ông biết rằng xiềng xích và gian truân đang chờ ông, nên ông từ biệt Hội Thánh Ê-phê-xô (Cv 20,17-38) . “ Giờ đây bị Thần Khí trói buộc, tôi về Giêrusalem, mà không biết những gì xãy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa. Giờ đây tôi biết rằng: tất cả anh em, những người tôi đã đến thăm để rao giảng Nước Thiên Chúa, anh em sẽ không còn thấy mặt tôi nữa. Vì vậy hôm nay tôi xin tuyên bố với anh em rằng; nếu trong anh em có ai hư mất thì tôi vô can. Thật tôi đã không bỏ qua điều gì, trái lại đã rao giảng cho anh em tất cả ý định của Thiên Chúa. Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt  anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình … Giờ đây tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa và cho Lời ân sủng của Người, là lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến.(Cv 20,22-32)

Nói thế rồi ông Phaolô cùng với tất cả anh em quì gối xuống cầu nguyện. Ai nấy òa lên khóc và ôm cổ ông mà hôn. Họ đau đớn nhât vì lời ông vừa nói là họ sẽ không còn thấy mặt ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu” (Cv 20,36-28)

Từ Mi-lê-tô Phaolô đến đảo Cô, Rô-đô, Ptolemais và Xê-xa-rê. Anh em nài xin Phaolô đừng đi Giêrusalem nhưng Phaolô cương quyết. Tại Giêrusalem xiềng xích và tù ngục đang chờ ông. Thật vậy, người Do Thái nổi lên chống đối Phaolô, lên án ông làm ô uế Đền thờ và Luật Môsê. Ông bị đưa vào tay nhà cầm quyền Rôma. Ông ra tòa Do thái rồi chuyển qua Xê-da-rê tại nhà tổng trấn Phê-lích. Ông bị cầm tù hai năm từ năm 58 đến 60 và Phaolô yêu cầu được chính hoàng đế xét xử (Cv 21,17-32)

CHUYẾN ĐI BỊ CẦM TÙ

Năm 61, Phaolô đi Rôma trong một chiếc tàu chở đầy tù nhân dưới sự canh gát của một viên đại đội trưởng. Họ phải dừng lại vì cuồng phong ở Xi-đon, ở Myre, Cnide, Salmoné, Lasaia, Cauda và mắc cạn ở Malta. Ba tháng sau họ lên tàu đi Syracuse, Rhegium và cuối cùng đến Rôma. Phaolô sống ở đó hai năm với hai người lính canh giữ ông trong ngôi nhà ông thuê. Thời gian giam lỏng này cho phép Phaolô loan báo về Đức Giêsu Kitô.

Phaolô chết tử đạo. Trong truyền thống giáo hội tiên khởi có hai bản văn và hai niên biểu về việc tử đạo của thánh nhân. Trong truyền thống thứ nhất vào năm 64, sau khi ra tòa xét xử, Phaolô bị chém đầu bằng gươm, một hình phạt dành cho công dân Rôma. Trong truyền thống thứ hai, Phêrô và Phaolô chết cùng lúc trong cuộc bách hại do Néron chủ xướng vào năm 67.

PHAOLÔ NGƯỜI VIẾT VĂN

Phaolô là nhà truyền bá Tin Mừng rong ruổi khắp nẻo đuờng để gặp các cộng đoàn. Ông củng cố đức tin cho họ. Ông duy trì các mối quan hệ với tín hữu mà ông đã đem đến cho Chúa Kitô, bằng thư từ gửi cho cộng đoàn.

Viết một bức thư vào thời cổ xưa không phải là việc dễ dàng. Thông thường, người ta dùng một tờ giấy cói và phải nhờ người viết chuyên nghiệp. Phaolô cũng vậy, ông đọc các thư cho người ta viết và chính tay ông viết những chữ cuối cùng: môt cách thức để chứng tỏ đây là thư thật. các thư đó được người đưa thư mang đến các cộng đoàn liên hệ. Trong vài trường hợp các thư đó được trao đổi giữa các cộng đoàn với nhau:” Sau khi anh em đọc thư này, xin liệu sao cho Hội Thánh Lao-đi-ki-a cũng được đọc nữa. Xin anh em cũng đọc thư tôi gửi cho Hội Thánh Lao-đi-ki-a (Cl 4,16). Có lẽ nhờ thế mà ta có thể tập hợp các thư của Thánh Phaolô.

Theo truyến thống, 13 thư được công nhận là của Thánh Phaolô. 7 trong số 13 thư trên do Phaolô viết: 1Thê-xa-lô-ni-ca (năm 50/51). 1Cô-rin-tô (năm 55-56), 2Cô-rin-tô (55-56), thư Phi-lip-phê (55/56 hay trễ hơn nữa), thư Ga-lát, Phi-lê-môn , Do thái (57/58)

Đôi khi thánh nhân viết tất cả, đôi khi ông đọc không biết là từng chữ môt hay cách nào khác nữa.

6 thư đã được chúng thực bởi văn mạch : 2 Thê-xa-lô-ni-ca , Cô-lô-xê, Ê-phêxô, các thư mục vụ (1 Ti-mô-thê, 2 Ti-mô-thê , Titô )

CÂU HỎI BÀI SỐ 2

Chúng tôi đề nghị bạn đọc các “lời chào cuối thư” của thánh Phaolô gửi cho người nhận : Rm 16,1-27  ; 1Cr 16,13-24  ; 2 Cr 13,11-13  ;  Gl 6,11-18  ;  Ep 6,21-24  ;  Pl 4,21-23  ;  Cl 4,2-18  ; 1Tx 5,12-28  ;  2Tx 3,16-18  ; 1Tm 6,20-21   ; 2Tm 4,9-22  ;  Tt 3,12-15

  1. Qua các đoạn trên bạn tìm thấy những chủ đề lớn nào ?
  1. Bạn cảm nhận điều gì khi đọc danh sách chi tiết các thành viên của cộng đoàn và các lời chào thăm đi kèm ?