Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 18: Điều hòa sinh sản

     Điều hòa sinh sản là yêu cầu chính yếu của nền văn hoá chúng ta và phần đông các cặp vợ chồng sẽ phải đối mặt với vấn đề này một ngày nào đó. Khi đó họ có hai khả năng lựa chọn : những phương pháp tự nhiên (bằng cách quan sát những thời kỳ đậu thai của người vợ) hay là những phương pháp ngừa thai khác. Lương tâm được rọi sáng, am hiểu vấn đề, sẽ có quyết định tốt nhất (xem phần chú thích về lương tâm).

1.- Phưong pháp tự nhiên :

     Khoảng cách các lần sanh có thể có được nhờ tính đến những thời kỳ đậu thai của người vợ. Được hoàn chỉnh bởi những nhà thông thái Úc và Anh, “phương pháp Billings” là phương pháp “tự nhiên” dùng tất cả những biểu hiện tiện lợi và hữu ích của hiện tượng thụ thai. 1) Sự thay đổi cổ tử cung. 2) Chảy nước nhờn. 3) Thay đổi thân nhiệt.   Xem xét từng dấu hiệu riêng lẻ sẽ gặp hạn chế, nhưng nếu kết hợp tổng thể thì kết quả rất chính xác. Phương pháp Billings không được gán duy nhất cho đo thân nhiệt hay xem chất nhờn. Phương pháp này không giống như phương pháp “Ogino - Knaus” phổ biến năm 1930 dựa vào thời gian những chu kỳ trước hay dựa vào các mức trung bình. Phương pháp đó không có khả năng tính đến những bất thường.

      Phương pháp “Billings” hay triệu chứng thân nhiệt chủ yếu dựa vào ba dấu hiệu thụ thai. Để sử dụng phương pháp này, phải áp dụng nhiều lần và có một người dẫn dắt là cần thiết. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những cặp vợ chồng có thông tin đầy đủ có thể đạt hiệu quả 99 %. Sự an toàn này có thể sánh với sự an toàn của viên thuốc ngừa thai.

-----------------------------------------------------------------------------------

Chú  thích – Phán quyết của Lương Tâm

     Lương tâm hiện diện trong lòng mỗi người và ra lệnh đúng lúc cho con người làm lành lánh dữ. Lương tâm phán đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu. Lương tâm chứng nhận thế giá của chân lý bằng cách qui chiếu về Thiên Chúa là sự thiện tối thượng, Đấng thu hút và ban mệnh lệnh cho con người. Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể cảm nhận được Thiên Chúa đang nói với mình.

Lương tâm là một phán quyết của lý trí, nhờ đó con người nhận biết một hành vi cụ thể mình định làm, đang làm hay đã làm, là tốt hay xấu. Trong lời nói và hành động, con người phải trung thành tuân theo điều mình biết là chính đáng và ngay lành. Nhờ phán quyết của lương tâm, con người có ý thức và nhận ra những qui định của Luật Thiên Chúa (GLCG 1778)

     Con người có quyền hành động theo lương tâm và trong tự do, để tự mình có những quyết định luân lý “Không được cưỡng bức ai hành động trái với lương tâm của họ. Cũng không được ngăn cản họ hành động  theo lương tâm, nhất là trong lãnh vực tôn giáo” (GLCG 1782) .  

Lương tâm phải được rèn luyện và phán đoán luân lý phải được soi sáng. Một lương tâm được rèn luyện tốt sẽ phán đoán ngay thẳng và chân thật. Lương tâm này sẽ đưa ra những phán quyết theo lý trí, phù hợp với điều kiện đích thực như Đấng Sáng Tạo đầy khôn ngoan muốn. (GLCG 1783).

2.- Ngừa thai

     Một hiện tượng mới phát sinh từ nhiều thập niên : đàn ông và đàn bà từ nay có trong tay những phương tiện rất hữu hiệu và phong phú để ngăn cản sự thụ thai. Nhiều phương pháp có thể thấy trong y khoa :

a)    Phương pháp can thiệp ( bằng trung gian một vật cản đặt cố định hay tạm thời vào âm đạo để  ngăn trở sự gặp gỡ của trứng và tinh trùng.

b)    Phương pháp giao thoa (nhằm thay đổi quá trình sinh lý tránh thụ tinh ; hiện nay kỹ thuật này chỉ áp dụng cho phụ nữ, nhờ viên ngừa thai).

c)     Những phương pháp ngưng ( tác động nhờ một vật hay thuốc men để làm ngừng phát triển một noãn bào đã được thụ tinh).

3.- Vô sinh tự nguyện

     Giữa lúc những phương pháp chống thụ thai được trở nên hoàn hảo thì sự vô sinh tự nguyện lại được áp dụng càng ngày càng nhiều. Thật vậy, người ta ước tính trong năm 1980 có khoảng 100 triệu cặp trên thế giới đã chọn sự vô sinh tự nguyện, hoặc nơi người đàn ông, hoặc nơi người đàn bà. Trong số đó ở Á Châu có 65 triệu, 13 triệu ở Mỹ và 11 triệu ở Âu Châu đã được thống kê trong bối cảnh khác nhau về luật pháp. Một vài quốc gia xét thấy hữu ích khi khuyến khích việc vô sinh bằng cách thưởng tiền hoặc những quốc gia khác (Ấn độ) bắt buộc dân chúng áp dụng vô sinh (trường hợp con độc nhất ở Trung Quốc). Phải phân biệt hai dạng vô sinh : vô sinh thực hiện trực tiếp và tự nguyện (80 %) và vô sinh do hậu quả của can thiệp y khoa nhằm điều trị một căn bệnh (20 %)

4.- Yếu tố suy nghĩ  

     Sự điều tiết sinh sản luôn đặt ra một số câu hỏi về mặt đạo đức. Ta phải suy nghĩ về điều đó

     Trong tình hình hiện nay của vấn đề, chỉ có cách dùng những phương pháp tôn trọng “ nhịp độ tự nhiên” là bình thường. Người ta dựa vào hai tài liệu chủ yếu : Tông thư Humanae Vitae (về điều tiết sinh sản) của Đức Phaolô đệ VI năm 1968 và Tông huấn Familiaris Consortio (về nhiệm vụ gia đình công giáo trong thế giới ngày nay) của Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II năm 1981. Tính chất kiên quyết của Giáo hội khi ngỏ lời với tất cả Kitô hữu trên toàn thế giới, được hiểu như một phản ứng chống lại các lý do thông thường của xã hội thế tục, chống lại việc sử dụng sai vài phương tiện và chống lại sự dung tục hoá việc ngừa thai thường đưa đến sự tách rời giữa hành vi tình dục và sinh sản. Trên phương diện đạo đức Công giáo, ta phải suy nghĩ về vấn đề này.

 Dung tục hoá sự ngừa thai

Ngừa thai trong ý định rõ ràng ích kỷ, không có đủ lý do để loại bỏ mãi mãi sự chào đời của một đứa bé. Một việc làm như thế chắc chắn chống lại lý tưởng của tình yêu Công giáo. Tình yêu Công giáo đề nghị : quan hệ không tính toán, tin cậy, đón tiếp và sinh sản. Thực thi trách nhiệm trong lãnh vực sinh sản là phù hợp với việc làm chủ mà Thiên Chúa đã giao cho loài người (St 1, 28). Mặt khác, Kinh thánh không nói người tín hữu phải thực hiện khả năng làm chủ này trong lãnh vực ngừa thai như thế nào để việc ấy trở nên nhân bản và thực sự phục vụ cuộc sống con người (humanae Vitae số 13) . Sau cùng, những nguyên tắc căn bản của luân lý Công giáo nhắc ta phải để lương tâm phân tích, soi sáng .

Những đường nét chính mà Giáo hội đề nghị ta suy nghĩ có thể tóm tắt trong lời khẳng định này : Mọi hành vi giao hợp của hôn nhân phải rộng mở cho việc truyền sinh” (Humanae Vitae số 11). Trong cùng một nghĩa, Đức Cố Gioan Phaolô II viết : “Tình dục mà người nam và người nữ cho nhau qua những hành vi đặc thù và chuyên nhất của đôi vợ chồng không phải hoàn toàn là sinh học mà liên can đến con người trong những gì sâu xa nhất. Việc hiến tặng thân xác cho nhau sẽ là một sự dối trá nếu nó không phải là dấu chỉ và hoa trái của một sự hiến tặng con người, trong đó toàn bộ con người mang chiều kích trần gian được hiện diện (Familliaris Consortio số 11).

Điều muốn nói qua những lời trích trên là hành vi tình dục không chỉ được hiểu dưới ánh sáng sinh học. Nó là một sự mời gọi đến tình dục có trách nhiệm. Quan hệ tình dục luôn có trách nhiệm tình yêu đối với người mà ta đang chung sống. Quan hệ tình dục ràng buộc con người với nhau. Hơn thế nữa, nó phải mở ra việc truyền sinh. Tình yêu và sự sống kết chặt nhau mật thiết. Tình yêu là hiến dâng, đón nhận, trao đổi. Nếu chưa và không hiểu ý nghĩa đó, sẽ đưa đến nguy cơ từ chối trách nhiệm. Trong việc đối thoại, lứa đôi cần tìm kiếm và đảm nhận trách nhiệm sinh sản của mình, đồng thời tìm ra những phương tiện tốt nhất để đạt được nó. Hai người cùng nhau tìm ra “sự điều tiết hay kế hoạch phù hợp” sẽ làm vợ chồng thêm keo sơn bền chặt và sẽ nung nấu thêm tình yêu trong quan hệ lứa đôi.

Trong khi đó, sự vô sinh tự nguyện đặt ra vấn đề đạo đức căn bản vì đụng đến quan điểm con người. Vô sinh, vì muốn vô sinh có thể không đưa tới ích lợi hoàn toàn của con người. Được thực hiện với mục đích ích kỷ và nhỏ nhen. Sự vô sinh như vậy không chỉ hủy hoại thân thể như cắt bỏ một bộ phận nào đó . Nó còn hủy hoại một khía cạnh sâu xa và cơ bản của con người, khía cạnh mở ra sự sống. Việc đó có thể có những hậu quả tâm lý nghiêm trọng nơi người đàn ông cũng như nơi người đàn bà : nuối tiếc, hối hận, tự hạ thấp giá trị bản thân.

Phải luôn qui chiếu đến tiêu chuẩn quyết định, có giá trị cho các nhà cầm quyền cũng như cho thường dân : sự can thiệp (ở đây là vô sinh) là nhân bản hay phi nhân bản ? Điều đó có làm ta liên kết với tình yêu Thiên Chúa hay làm ta xa rời tình yêu của Ngài ?


CÂU HỎI BÀI 18

1.- Người công giáo có được phép thực hiện việc điều hoà sinh sản không ? Những phương pháp nào được Giáo hội chuẩn nhận ?

2.- Bạn có cho rằng ngừa thai là một điều ngăn cản sự triển nở đầy đủ trong quan hệ vợ chồng hay trong quan hệ với Thiên Chúa không? Tại sao ?

(Lưu ý : Tránh thai và ngừa thai khác nhau. Tránh thai muốn ám chỉ việc không muốn có con và áp dụng những biện pháp tự nhiên để không giao hợp trong những ngày có thể thụ thai. Ngừa thai là không muốn có con và vẫn giao hợp trong những ngày có thể thụ thai, nhưng dùng những biện pháp khác để ngăn chặn việc thụ thai )


BÀI   ĐỌC  THÊM

KITÔ HỮU TRƯỚC MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỜI SỰ VỀ LUÂN LÝ

( Giám mục Nguyễn Bình Tĩnh – Giáo phận Đà Nẳng )

PHÁ  THAI

1.- Một vài chú thích 

     Ngày nay, việc phá thai trở thành một tội ác lớn ở khắp nơi trên thế giới. Hàng triệu vụ mỗi năm. Ngay tại Việt Nam, con số phá thai hàng năm được chính thức ghi nhận cũng thật khủng khiếp đến độ dư luận không còn dị ứng, thậm chí quen quá hoá nhàm. Người Kitô hữu đừng quên rằng : “phá thai là tội ác ghê tởm : abortus necnon infanticidium nefanda sunt crimina.” (Gs số 51).

Vậy, phá thai là gì ? Theo quan niệm y học thông thường thì phá thai là trục một thai nhi ra khỏi tử cung trước ngày mãn nguyệt khai hoa. Có thể tự nhiên xảy ra như khi xảy thai, có khi hữu ý trục ra. Ngày nay tại Việt Nam, phá thai còn được gọi ngụy trang là “hút điều hoà kinh nguyệt”, “nạo thai”. Ngày nay, phá thai được coi như một biện pháp hạn chế sinh đẻ. Cứ lý luận bình thường thì vừa khi tinh trùng gặp được trứng noãn trong vòi Fallope của phụ nữ mà kết hợp thành tế bào đầu tiên thì tế bào đó đã chứa đựng một tiềm năng để phát triển thành người rồi. Do đó, cố ý phá thai là giết người còn trong lòng mẹ.

2.- Người Kitô hữu nghĩ gì về phá thai ?

     Ngay từ lúc tinh trùng giao duyên được với trứng noãn, mọi tiềm năng thành người đã thành hình. Vì thế phải tôn trọng và bảo vệ con người ngay từ giây phút thành hình đầu tiên đó. Dùng thuốc ngừa thai hoặc vòng xoắn, vì lý do “cai đẻ”, để làm cho khối tế bào đầu tiên ấy không phát triển được hoặc bị hư vì non quá phải kể như một hình thức phá thai. Vì lẽ, nếu đủ điều kiện bình thường, sau 14 ngày, khối tế bào đầu tiên ấy đã có thể cho khoa học chuyên môn nghe và ghi âm được tiếng tim đập. Nghĩa là đã là người rồi. Thảo nào tiên tri Giêrêmia thuật lại lời Đức Giavê nói với ông : “Trước khi Ta nắn ra ngươi trong lòng mẹ Ta đã biết ngươi. Và trước khi lọt dạ mẹ, Ta đã tác thành ngươi.”. Chữ “biết” theo Thánh Kinh không chỉ là nhận thức theo tri thức song còn gồm cả lòng muốn và cảm tình nghĩa là Chúa đã chọn lựa và tiền định, quan phòng nữa.

     Thánh vịnh 139 đã ca ngợi sự thông biết mọi sự của Chúa : “Xương cốt không ẩn khuất với Người. Khi tôi được thành hình trong kín ẩn.” (câu 15). Chính vì thế, khi xảy thai, Kitô hữu phải rửa tội cho phôi thai ít ra với điều kiện giả thiết thai còn sống. Vì thế từ thế kỷ thứ nhất, sách Didaché đã răn : “Ngươi đừng giết chết mầm sống bằng việc phá thai và đừng huỷ hoại trẻ sơ sinh” (2, 2) . Bởi đấy, tự mình hay ai cộng tác vào việc phá thai thì phạm tội trọng. “Và tội ác này bị Giáo hội phạt vạ tuyệt thông tiên kết ( = latae sententiae) do chính hành vi phạm tội và theo các điều kiện được dự trù trong Giáo Luật.” (GLCG số 2272)

 Sách GLCG cũng xác định thêm : được phép giải phẫu bào thai “miễn là tôn trọng sự sống và sự toàn vẹn của bào thai, và không gây nên những nguy cơ không thích hợp, nhưng chỉ nhắm chữa lành, cải thiện các điều kiện sức khoẻ, hoặc để cứu sống nó.” (số 2275) . Cũng số ấy xác định : “Thật là vô luân nếu người ta sản xuất ra những bào thai người, dành để khai thác như những vật liệu sinh học” . Ở đây ám chỉ đến mọi toan tính sản xuất bào thai trong ống nghiệm hoặc để kinh doanh. Toan tính này quen gọi là ngân hàng bào thai.

     Phá thai, nạo thai, còn được gọi ngụy danh là “hút điều hoà kinh nguyệt” là phạm tội giết người, lỗi giới răn thứ năm. Hủy hoại mầm sống con người vừa mới thành hình cũng là giết người. Lý luận mà khoa học cho thấy rõ vừa khi tinh trùng gặp được noãn rồi, làm nên tế bào đầu tiên thì mọi khả năng thành hình một con người đã hàm chứa trong đó rồi. Vì thế, phải tôn trọng quyền làm người ngay từ giây phút vừa thành hình. “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi” (Gr 1, 5). Chủ ý phá thai, cộng tác vào việc phá thai bằng bất cứ giá nào như góp ý, phụ giúp người phá thai … đều phạm tội nặng. Ngoài là tội, phá thai “có hiệu quả” còn bị vạ tuyệt thông tiền kết (Giáo luật điều 1398). Với Phép Rộng 23 của Năng Quyền Thập Niên (năm 1971 – 1980 nay còn được tiếp tục) thì Linh mục Giải Tội được phép giải cả tội lẫn vạ “làm trụy thai mà có công hiệu dù chính là người mẹ”. Dĩ nhiên, phải ra việc đền tội xứng hợp với tội (thường lâu và nặng hơn) .

Khi tha vạ lúc giải thì dùng chính Công thức Giải Tội vì công thức ấy gồm cả lời tha vạ. Để ứng phó với việc phá thai Giáo hội khuyến cáo mọi Kitô hữu hãy hết sức bảo vệ thai nhi bằng cách hết lòng nâng đỡ, khuyên răn các bà mẹ có bầu đừng nạo thai, và cố gắng bảo vệ cho đứa con sinh ra.

LÀM  CHO  CHẾT  ÊM  ÁI   (còn gọi là trợ tử)

1.- Vài thông tin để hiểu biết :  

     Theo quan niệm y học thì đó là cách làm cho chết êm ái và không đau đớn. Người ta còn nại đến lý do bác ái và yêu thương, để người bệnh đau đớn không có hy vọng được lành bệnh, lại sắp chết thì dùng cách nào đó (thường là thuốc) cho họ chết sớm chấm dứt đau đớn. Nhiều nước đã cổ động ra luật cho phép giúp chết êm ái khi bệnh nhân nan trị, quá đau đớn xin. Song hiện chỉ có Hà Lan đã cho phép như thế được mấy năm rồi. Luật cho phép bác sĩ điều trị bệnh nhân nặng, khó sống, quá đau đớn, được cho chết êm dịu khi bệnh nhân xin và phải được kiểm soát gắt gao về mặt y học. Luật cho phép dựa trên hai quan điểm chủ yếu : + một là nhìn nhận bệnh nhân có quyền tự quyết, định đoạt về mạng sống của mình một cách tuyệt đối .  + hai là xác tín việc đau đớn thật sự vô ích và không kham nổi, đau đớn chết đi được.

2.- Kitô hữu nghĩ gì về vấn đề này ?

Sách GLCG số 2276 khuyến cáo : “Những ai có sự sống bị suy giảm hoặc bị yếu đi, đòi hỏi một sự tôn trọng đặc biệt. Những bệnh nhân hoặc bị khuyết tật cần phải được nâng đỡ để có thể sống một cuộc đời bình thường theo mức có thể” . Rồi số 2277 phân định : “Dù với lý do nào và với phương tiện nào mặc lòng, sự trực tiếp làm cho chết êm ái cũng chỉ là chấm dứt cuộc đời của những người bị khuyết tật, đau yếu hoặc đang chết dần chết mòn. Về luân lý, cách làm này không thể chấp nhận được”

Đừng nhầm lẫn làm cho chết êm dịu với sự từ chối cách thế điều trị đặc biệt, khác thường mà chính bệnh nhân yêu cầu hoặc do không có khả năng theo đuổi. Đó không phải là “muốn làm cho chết, nhưng chỉ là chấp nhận rằng không thể cản ngăn sự chết sẽ đến” (GLCG số 2278)

Văn kiện của Hàn Lâm Viện Toà Thánh nói trên muốn nhấn mạnh đến thái độ và cách chăm sóc tận tình đối với các bệnh nhân này là quan trọng hơn , và thực sự nâng đỡ, khuyến khích bệnh nhân lấy sức và lòng can đảm mà trị bệnh. Tài liệu nhắc lại gợi ý của bản Hiến Chương của các nhân viên chăm sóc sức khỏe (1995) của Uỷ Ban Mục vụ về sức khỏe như sau : “Bệnh nhân cảm thấy được bao bọc bởi một sự hiện diện thương yêu, có tình người và tình Chúa Kitô, sẽ không rơi vào tình trạng suy sụp, cũng như rơi vào khắc khoải giống như người ngược lại, cảm thấy mình bị bỏ rơi cho định mệnh đau đớn và tận số, nên yêu cầu được chấm dứt sự sống. Bởi vậy, làm cho chết êm ái là một thất bại cho người chủ trương, quyết định và thực hiện chủ trương ấy” .

Thay vì giảm thọ cuộc sống bằng sử dụng một cách thế cho chết êm dịu thì Tài liệu của Hàn Lâm Viện Toà Thánh hướng dẫn : Hãy tận tình thương yêu và săn sóc bệnh nhân để giúp họ hiểu rằng : tình yêu chính mình và thân nhân là ý nghĩa cao đẹp nhất giúp người bệnh nặng sắp chết có được sự bình an để hoàn thành phận làm người. Lúc đó bệnh nhân có sức chịu đựng vượt qua được đau đớn xác hồn vì yêu mến đời mình và đời của những người thân như vợ con hay chồng con.

Chính vì vậy, Đại Hội Hiệp Hội Y Học Thế giới lần thứ 39 tại Madrid năm 1987 về làm cho chết êm ái đã tuyên bố : “Làm cho chết êm ái đó là hành động cố ý dứt sự sống của một người đang bị thống khổ, dù cho chiều theo lời yêu cầu của chính họ, hoặc theo yêu cầu của gia đình họ, là một việc vô luân. Thông điệp Evangelium Vitae của Đức Gioan Phaolô II gọi là “một vi phạm nặng đến Luật Chúa” (số 65)

     Vì vậy, chính bệnh nhân thống khổ ấy không được dựa vào quyền tự quyết mà muốn chấm dứt sự sống của mình. Quyền đó hoàn toàn thuộc riêng Chúa. Bác sĩ trị bệnh cũng không có quyền theo yêu cầu của bệnh nhân vì theo lời thề của Hippocrate mà ông đã cam kết, ông chỉ được nâng đỡ cho sống và giảm giải đau đớn chứ không được giết chết “dù có sự nài nẵng của bất cứ ai” (xem Lời thề Hippocrate). Cùng lắm, ông chỉ “được phép theo lương tâm, quyết định từ chối những điều trị nào sẽ kéo dài sự sống tạm bợ đau đớn này” . Vì lẽ “làm cho chết” thì khác với “để cho chết” cách tự nhiên.