Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 17: Đường lối và phương tiện nên Thánh

Chiều thứ năm Tuần Thánh, trước khi xa rời các môn đệ thân yêu, Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Cha rằng: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật.” (Ga 17, 15-17)

Đó là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu. Vào ngày lễ Ngũ tuần, Thánh Thần Chúa đến ban cho các môn đệ sự thánh thiện và chân lý của Ngài. Kể từ đó, khi một người chịu phép Rửa tội, người đó được thánh hóa do Chúa Thánh Thần. Chúng ta được mời gọi trung thành với ơn sủng của phép Rửa và không ngừng diễn đạt nó ra trong đời sống của mình. (Hiến Chế L.G. số 40)

Làm sao đáp lại lời mời gọi này? Hãy nghe thánh Phaolô nói: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo.” (Cl 3, 12-14)

Có nhiều đường lối và phương tiện nên thánh. Công đồng Vaticano II nhắc chúng ta: “Mỗi tín hữu phải sẵn lòng lắng nghe Lời Chúa, và với ơn Ngài thực hành thánh ý Ngài. Phải năng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, năng tham dự vào các nghi lễ phụng vụ, chuyên cần cầu nguyện, từ bỏ mình, nhiệt thành phục vụ anh em và chuyên cần luyện tập các nhân đức.” (Hiến chế L.G số 42)

Tất cả những phương tiện này nhắm vào đức ái. Chỉ cần đọc lại Bài ca đức mến (1Cr 13, 1-13) Đức ái này chỉ thật sự hoàn thành bằng việc hiến dâng chính bản thân và đời sống của mình cho Thiên Chúa và tha nhân (Ga 15, 13)

Chúa Giêsu đã làm gương cho ta: Người đã hiến dâng mạng sống vì ta. Từ buổi sơ khai của Giáo Hội, nhiều Kitô Hữu đã được mời gọi hiến dâng mạng sống mình để làm chứng cho tình yêu.

Được lửa tình yêu nung đốt, các vị tử đạo bình thản đối diện với cái chết. Trải qua mọi thời đại, các thánh đã vượt qua mọi khó khăn để luôn trung thánh với Chúa Kitô.

CÂU HỎI BÀI SỐ 17

Chúa Giêsu là sự thánh thiện để chúng ta noi gương. Trong Tin Mừng, ta khám phá Chúa Giêsu hiền lành, dịu dàng nhưng đòi hỏi, là Thầy và cũng là người Tôi Tớ, bị giới hạn bởi thân phận con người nhưng lại rất tự do.

Bạn đọc Tin Mừng theo Thánh Gioan chương 17 và cho biết mối bận tâm của Chúa Giêsu trong lời cầu nguyện trước giờ chịu thương khó là gì? 


Bài đọc thêm

Ơn gọi cao cả nhất của mọi người: nên thánh

1. Bạn có ý thức rằng chính bạn được Thiên Chúa mời gọi nên thánh, nghĩa là sống đúng với phẩm giá của mình là con cái Thiên Chúa, sống trung thực với bản chất của mình là hình ảnh của Thiên Chúa không?

2. So sánh ơn gọi nên thánh của mỗi người Kitô Hữu với ơn gọi làm linh mục, tu sĩ, ơn gọi nào quan trọng hơn, cao cả hơn, cần thiết hơn? Cái nào là phương tiện để phục vụ cái nào?

       3. Có phải muốn nên thánh thì cứ phải giữ cho đúng những tập tục tôn giáo cổ truyền không (đọc kinh sớm tối, ngày Chúa Nhật phải tham dự Thánh lễ, v.v…)? Hay điều cốt yếu để nên thánh nằm ở chỗ khác? Chỗ khác đó là chỗ nào?

SUY TƯ GỢI Ý:

1. Ơn gọi lớn nhất của con người: nên thánh

Thông thường, khi nói về ơn gọi, người ta nghĩ ngay tới ơn gọi làm linh mục, ơn gọi làm tu sĩ. Và tới thế kỷ 20, với công đồng Vatican II, giáo dân cũng được coi là một ơn gọi: ơn gọi giáo dân. Nhưng cho tới nay, một chủng sinh hay tu sĩ mà bỏ tu ra làm giáo dân, thì nhiều người – kể cả linh mục, giám mục, hay những nhà trí thức trong Giáo Hội – nói rằng người đó “mất ơn gọi”. Người ta làm như thể chỉ có linh mục, giám mục, tu sĩ là có ơn gọi, và họ coi ơn gọi của những vị ấy hết sức cao cả. Còn giáo dân thì chẳng sợ bị mất ơn gọi, vì giáo dân có ơn gọi đâu mà mất! Thật ra người ta quên rằng bất cứ Kitô hữu nào cũng có một ơn gọi rất cao cả là nên thánh.

Sau Công Đồng Vatican II, quan niệm trên đã trở nên lỗi thời. Hiện nay Giáo Hội quan niệm rằng ơn gọi lớn nhất, cao cả nhất của mọi Kitô hữu là nên thánh, như Đức Giêsu từng mời gọi: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Công Đồng Vatican II cũng lập lại ý tưởng đó: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người” (GH 11§3).

2. Không hẳn cứ phải làm linh mục / tu sĩ mới nên thánh được

Nên thánh là ơn gọi chung cho tất cả mọi người, dù là giáo dân, linh mục, giám mục, hay giáo hoàng, và là ơn gọi cao cả nhất. Tất cả mọi người – chứ không phải chỉ các linh mục và tu sĩ – đều được kêu gọi nên thánh. Cũng không phải tất cả mọi người đều được kêu gọi làm tu sĩ, linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng. Đó chỉ là những con đường nên thánh cá biệt, chứ không phổ quát. Làm tu sĩ, linh mục, giám mục… thíêt tưởng là việc tương đối dễ và không hẳn là cần thiết hay quan trọng lắm, làm thánh mới là khó và cần thíêt hay quan trọng hơn rất nhiều.

Đối với mỗi cá nhân Kitô hữu, ơn gọi nên thánh quan trọng hơn rất nhiều so với ơn gọi làm các chức vụ trong Giáo Hội, cho dù cao đến đâu! Vì thử hỏi: làm linh mục, giám mục, hồng y hay giáo hoàng, dù có hiển hách lẫy lừng đến đâu, nếu bản thân không nên thánh thì có ích lợi gì? Tương tự như “được cả trần gian mà mất linh hồn thì được ích gì?” (Mt 16, 26). Tóm lại, để làm thánh thì không nhất thiết là phải làm linh mục hay tu sĩ; và không phải hễ là linh mục hay tu sĩ thì tất nhiên là thánh. 

Trong Giáo Hội hiện nay, vẫn còn có những quan niệm sai lầm, nhưng rất phổ biến, nhất là tại Vịêt Nam, là làm như ơn gọi làm linh mục, giám mục… thì cao trọng hoặc quý trọng hơn ơn gọi nên thánh phổ quát của mọi Kitô hữu! Thiết tưởng, dưới con mắt của Thiên Chúa, một vị thánh – cho dù là giáo dân, dù là một người có địa vị thật thấp kém trong xã hội – vẫn luôn luôn cao cả và giá trị hơn một linh mục, giám mục, hay giáo hoàng mà không thánh, thậm chí giá trị hơn hàng triệu lần! Nhưng người ta vẫn thích nhìn bằng con mắt của người đời hơn bằng con mắt của Thiên Chúa! Sở dĩ có quan niệm này là vì đã có một thời Giáo Hội có khuynh hướng thượng tôn các chức thánh, chẳng hạn coi chức linh mục còn cao trọng hơn cả chức vị các thiên thần, thậm chí hơn cả Mẹ Maria… (xem cuốn Tôi muốn làm linh mục, xuất bản trước 1975).

Để chỉnh lại quan niệm này, cần tự hỏi và xác định: Thiên Chúa muốn ta nên thánh hay muốn ta làm tu sĩ, linh mục, giám mục…? Nến thánh, và nên linh mục, giám mục… cái nào cần thiết cho chúng ta hơn? Cần phải quan niệm cho đúng: quan niệm có đúng thì hành xử mới đúng được!

3. Làm tông đồ, không nhất thiết cứ phải là linh mục hay tu sĩ

Cũng vậy, qua bí tích Rửa tội và Thêm sức, Thiên Chúa kêu gọi tất cả mọi Kitô Hữu làm tông đồ, hoạt động cho nước của Thiên Chúa. Để làm tông đồ, người ta có thể làm giáo dân, hay đặc biệt hơn, làm tu sĩ, linh mục, giám mục hay giáo hoàng, nhưng rõ ràng là không phải cứ làm linh mục, giám mục hay giáo hoàng thì người ta mới trở nên tông đồ đích thực. Nhiều linh mục, giám mục, giáo hoàng không phải là tông đồ đúng với nghĩa của từ ấy. Trái lại, người ta có thể vừa là giáo dân mà cũng vừa là tông đồ đích thực của Chúa! Vấn đề cần phải đặt lại nghiêm chỉnh là: Giáo Hội cần những tông đồ đích thực hơn là cần những linh mục, giám mục hay giáo hoàng mà không phải là tông đồ thật sự! Các chủng viện, tu viện, cần đào tạo nên những tông đồ, những vị thánh, hơn là chỉ bằng lòng với việc tạo nên những linh mục, tu sĩ mà thôi! Linh mục, tu sĩ hay bất kỳ ai mang danh làm tông đồ mà không thánh thiện, thì cũng chỉ như muối mà không mặn, đèn mà không sáng thôi! (x. Mt 5, 13-16).

4. “Tám mối phúc”: bí quyết để nên thánh

Hôm nay, khi mừng kính lễ các Thánh, Giáo Hội muốn nhắc lại ý thức căn bản này, là tất cả mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh, và một khi ý thức được lời mời gọi ấy, thì ai cũng có thể nên thánh được. Bài Tin Mừng hôm nay chỉ cho chúng ta bí quyết để nên thánh. Điều rất đáng tiếc là bí quyết này, nhiều người Kitô hữu không thèm biết tới, không thèm quan tâm suy niệm để thực hiện, mà chỉ quan tâm thực hiện những tập tục tôn giáo được truyền từ đời cha ông đến đời con cháu. Những tập tục ấy rất tốt, rất nên bảo tồn, nhưng đó không phải là điều cốt yếu để nên thánh. Giữ những tập tục ấy thật hoàn hảo, tốt đẹp, mà không sống tinh thần “tám mối phúc” của bài Tin Mừng hôm nay thì việc nên thánh sẽ chẳng đi đến đâu! Rốt cuộc cũng chỉ là “công dã tràng”!

Cả 8 mối phúc đều xây dựng trên nền tảng căn bản này: tinh thần tự hủy hay từ bỏ mình của Đức Kitô. Tinh thần tự hủy hay từ bỏ mình là tinh thần coi nhẹ “cái tôi” và những “cái của tôi” trước Thiên Chúa và tha nhân: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” hay “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Có coi nhẹ “cái tôi” của mình thì mới có thể yêu thương đích thực và mới dễ dàng thể hiện tình yêu thương ấy ra hành động. Một khi “cái tôi” đã được coi nhẹ, thì “tám mối phúc” cũng như việc bác ái yêu thương trở nên rất dễ thực hiện. Trái lại, còn đặt nặng “cái tôi” thì những việc tốt đẹp ấy trở nên rất khó khăn.

Kinh nghiệm trong đời sống tâm linh của tôi là: mọi thánh giá ta phải vác hàng ngày dù nhẹ đến đâu cũng đều trở nên nặng nề khi “cái tôi” của ta đã bị chính ta coi nặng. Tôi thấy câu “tâm không thông, vác bình không cũng nặng” rất đúng! Mà “tâm không thông” chính là tâm trạng coi “cái tôi” của mình quá nặng. Ngược lại, mọi thánh giá, dù nặng đến đâu, cũng đều trở nên nhẹ nhõm khi “cái tôi” của ta được chính ta coi nhẹ. Coi nhẹ “cái tôi” của mình giúp ta trở nên sáng suốt, thông đạt, lạc quan, khách quan, mạnh mẽ, hạnh phúc, vui tươi, nhẹ nhõm… Còn đặt nặng “cái tôi” của mình khiến ta trở nên u tối, bi quan, chủ quan, yếu đuối, buồn bã, nặng nề hơn.

Tình cờ tiếng Việt trở thành sâu sắc khi gọi ngôi thứ nhất là “tôi”, vì “tôi” (không dấu) có nghĩa là tôi tớ, người phục vụ. Khi nào ta đặt nhẹ “cái tôi”, để có thể trở nên như tôi tớ, để phục vụ tha nhân, thì ta sống đúng với ý nghĩa của “cái tôi”, lúc đó ta trở nên đúng đắn, sáng suốt. Khi ta ý thức quá sâu sắc về “cái tôi” của mình, thì “cái tôi” trở thành “tôi sắc tối”, nghĩa là u mê, tối tăm. Khi để cho “cái tôi” của mình lười biếng, ươn hèn, ủy mị, chiều chuộng (tượng trưng bằng dấu huyền) “cái tôi” mình quá, “cái tôi” trở thành “tôi huyền tồi”, nghĩa là tồi tệ. Và khi đặt nặng “cái tôi” của mình quá, thì “cái tôi” trở thành “tôi nặng tội”, nghĩa là tội lỗi, xấu xa.

Có thể nói bí quyết để nên thánh một phần rất lớn nằm ngay trong thái độ coi nhẹ của ta đối với chính “cái tôi” của ta. Thái độ ấy chính là tinh thần tự hủy hay từ bỏ mà Tin Mừng luôn đề cao.

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha ban cho con một “cái tôi” thật là kỳ diệu. Con càng coi nó là nhỏ, là nhẹ, thì giá trị của nó trước mặt Cha càng lớn, càng nặng. Trái lại, con càng coi nó là lớn, là nặng, thì giá trị của nó trước mặt Cha càng nhỏ, càng nhẹ. Xin cho con ý thức được rằng ngoài ân sủng của Cha ra, việc nên thánh của con trở nên dễ dàng hay khó khăn tùy thuộc rất nhiều vào thái độ của con đối với chính “cái tôi” của con. Xin cho con biết coi nhẹ “cái tôi” của mình, để trở nên ngày một thánh thiện hơn.

Gs. Nguyễn Chính Kết