Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 16: Đời sống tình dục

1.Tính dục :

Trong 5 bài tới, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề thời sự để suy nghĩ về lãnh vực đạo đức trong tính dục.

 Đề cập đến tính dục trên phương diện đạo đức là một việc rất giới hạn. Tính dục là một thực tại tâm sinh lý nhiệm mầu. Nó đụng đến toàn bộ con người, thân xác và tất cả những sức mạnh tiềm ẩn bên trong : sự nhạy cảm, cảm xúc, trí nhớ, trí khôn. Quan hệ ta có đối với người khác (tha nhân và Thiên Chúa) mang dấu ấn  tính dục (giới tính) của chúng ta. Nó ảnh hưởng trên tương lai chúng ta . Để phân biệt được những chiều kích khác nhau của đời sống tính dục, tốt nhất nên tham khảo những khoa học khác nhau :  sinh học, sinh lý học, tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, dân tộc học, nghệ thuật và văn chương v.v…

Vì vậy, luân lý Kitô giáo về tính dục khám phá ra một chân trời rộng mở. Là một hữu thể của tình yêu và ham muốn, mang tính xã hội và đang hình thành chính mình, mỗi người chúng ta, nam hay nữ, đều phải học khám phá làm thế nào để sống tính dục cách nhân bản và có trách nhiệm. Mặc khải và kinh nghiệm Kitô giáo đem đến cho chúng ta những định hướng về nghệ thuật sống tính dục.

Chúng ta ghi nhận rằng tính dục cũng là khơi dậy những phản ứng cuồng nhiệt . Chúng ta thấy mình đứng trước một mầu nhiệm rất cá nhân, nối kết với các nguồn mạch của sự sống, được bảo vệ bằng sự thẹn thùng. Tính dục có thể cùng lúc làm hoang mang và gây mê hồn. Trong quá khứ, cũng có những luồng Kitô hữu khinh khi tính dục hoặc coi nó như một sự việc tội lỗi.

Chúng ta phải học biết cách nhìn và sống tính dục trong sự khách quan và tìm ra ý nghĩa cao cả của nó : Tính dục là dấu chỉ và là cách biểu hiện tình yêu xuyên qua ước muốn được khắc ghi trong bản thể con người, là dấu chỉ và là cách biểu hiện sự hiện diện và sự cởi mở cho người khác  trong trìu mến.

2. Con người, thể xác và tính dục :

     Suy nghĩ về tính dục chỉ có thể được hình thành từ một quan niệm tổng thể về con người. Để có thể đề cập (trong những bài kế tiếp) vài trường hợp tính dục đặc biệt, ta phải suy nghĩ về chiều hướng sinh lý con người. Chính trong cái nhìn tổng thể mà ta sẽ tìm ra những nguyên tắc và những hướng dẫn soi sáng cho những trường hợp khó khăn.

 Chính qua một thân xác dục tính, qua cử chỉ và ngôn ngữ mà con người biểu lộ những cái sâu thẳm của chính mình. Ta hãy dừng lại một chút để suy nghĩ về ý nghĩa và sự quan trọng của thân xác.

 Thân xác trước tiên là một ngôn ngữ : Thân xác ta biết nói : đôi mắt biết cười, những ánh mắt tìm nhau, giọng nói dịu dàng hay gắt gỏng tùy từng hoàn cảnh, bàn tay làm việc, trao tặng, nắm bắt, vuốt ve … Cả con người chúng ta biểu lộ ra bởi thân xác. Nhờ thân xác ta hiện hữu cho chính mình, cho người khác và cho thế giới.

 Emmanuel Mournier, triết gia hiện sinh và nhân vị Công giáo (1905 –1950) đã nói về khía cạnh thân xác của con người như sau :

     “Thân xác tôi không phải là đồ vật giữa các đồ vật, mà là một đồ vật gần gũi nhất. Làm sao có thể kết nối kinh nghiệm thân xác như một đồ vật và thân xác như một chủ thể. Thật ra hai kinh nghiệm không thể tách rời : tôi hiện hữu cách chủ quan, tôi hiện hữu qua thân xác là một kinh nghiệm duy nhất và giống nhau. Tôi không thể suy tưởng mà không hiện hữu và hiện hữu trong thân xác tôi …Tôi được phơi bày ra nhờ nó (thân xác) cho chính mình, cho thế giới, cho người khác. Chính nhờ nó mà tôi thoát khỏi sự cô độc của một tư tưởng, chỉ là tư tưởng của dòng tư tưởng của tôi. Khi từ chối để tôi trong suốt đối với tôi, thân xác tôi ném tôi ra khỏi tôi không ngừng, trong thế giới đầy vấn đề và đấu tranh của con người. Nhờ những yêu cầu của các giác quan, nó ném tôi trong không gian nhờ sự già nua của nó, nó dạy tôi biết thời gian (kỳ hạn) nhờ cái chết của nó, nó làm tôi đương đầu với sự vô tận. Nó nặng nề bó buộc, nhưng đồng thời nó cũng là cội rễ của mọi lương tâm và mọi đời sống tinh thần.”

     Thân xác chúng ta đẩy chúng ta vào một nơi chốn và trong một thời gian nhất định. Nó làm ta khác các sự vật và những người khác. Nhưng cùng một lúc nó mời gọi chúng ta ra khỏi chúng ta, để đi gặp gỡ những sự vật và những người khác, nó làm ta ao ước giao tiếp, hiệp thông, gặp gỡ…. Những bài đọc trong Kinh thánh được nêu ra trong bài 15, làm ta nhạy cảm với ý nghĩ rằng sự khác nhau trong giới tính không phải là chỉ số giới hạn cần phải giảm bớt bằng bất cứ giá nào, bằng bạo lực hay sự phủ nhận người khác, hoặc bằng sự đánh mất căn tính của mình trong cái hỗn hợp. Trái lại, sự khác nhau đã được xem như một cái gì phong phú. Nó cho phép ta có kinh nghiệm về sự khác biệt và một phẩm chất nào đó của sự gặp gỡ.

“Chúa tạo ra người nam và người nữ” (St 1, 27) :ngay lập tức con người được tạo dựng theo hình ảnh Chúa trong quan hệ nam nữ (quan niệm ham muốn nhưng không qui chiếu người này vào người kia). “Người nữ này là xương của tôi, da thịt của da thịt tôi.” Adam đã thốt lên như vậy khi đứng trước Eva, vợ mình. Câu này biểu lộ sự thừa nhận người vợ xuất phát từ chính ông, để cho ông, nhưng không phải là chính ông. Mỗi người đối với người kia vừa là giống nhau, vừa là khác nhau. Đó thật là nguồn cho sự sung túc. Vì vậy, lứa đôi xuất hiện như  là một quan hệ giữa hai thực thể được mời gọi biểu lộ cho nhau và người này nhờ người kia mà tồn tại.

 Quan hệ mầu nhiệm nam – nữ dẫn đến một quan hệ mầu nhiệm khác : đó là quan hệ giữa con người với Thiên Chúa và với Ba Ngôi. Quan hệ – hiệp thông này mang hạt mầm Mầu Nhiệm Thiên Chúa. Trong tình yêu trao cho nhau, người nam và người nữ sống một đời vượt lên chính họ và đưa họ đến gặp gỡ Thiên Chúa, và gặp gỡ người khác. Khả năng sinh sản của lứa đôi, sinh sản tinh thần và sinh học, cũng như  tất cả những biểu hiện của tình yêu, đều là dấu hiệu chúc phúc của Thiên Chúa và sự phong phú viên mãn của Người. 

Xuyên qua lịch sử của người nam và người nữ, xuyên qua niềm vui và các khó khăn để gặp gỡ nhau cách chân thật và trong suốt, tình yêu được mời gọi lớn lên, phát triển để trở thành nơi kinh nghiệm thật sự về tôn giáo. Sự mỏng dòn, lo sợ, ích kỷ, từ khước, bạo lực hay mê đắm của chúng ta , thường cản trở chúng ta tự trao ban cho nhau.

 Người kitô hữu có thể tìm thấy nơi Chúa Giêsu một mẫu gương : một người bạn và một người anh. Chúa Giêsu đã chứng tỏ một sự tự do trưởng thành trong quan hệ với mọi người : đàn ông, đàn bà, trẻ con, người bệnh, người bị bỏ rơi. Dấu hiệu lạ lùng của sự gặp gỡ cận kề. Chúa Giêsu đã nộp thân xác và máu mình cho tất cả mọi người. Ngài đã chấp nhận nộp mình cho đến cùng, cho đến tận cái chết. Ngài giải phóng nhân loại và kêu gọi mỗi người chúng ta trở thành chi thể của Thân xác Ngài. Nhờ sức mạnh của Ngài, tính dục là một sự phong phú cần đạt tới để chống lại những bóng tối dầy đặc, những nặng nề, những ích kỷ của chúng ta. Nó được mời gọi để trở nên nhẹ nhàng và trong suốt, là nơi để đón nhận, gặp gỡ ngưới khác trong mầu nhiệm của sự hiện hữu của Ngài.

CÂU HỎI BÀI SỐ 16

1.- “Thân xác có ngôn ngữ của nó. Thân xác nói lên toàn bộ con người sâu thẳm của ta” . Bạn hiểu câu này như thế nào ? Hãy cho vài ví dụ cụ thể trong đời sống (có thể là một đoạn trong tiểu thuyết, một cảnh nêu trong phim)

2.- Nhiều người cho rằng giao tiếp với người khác phái giúp họ phát triển nhân cách ? Bạn nghĩ gì về điều này ? Có thể có một tình bạn chân chính giữa hai người khác phái không ? Từ tình bạn đến tình yêu hôn nhân cần có điều kiện gì ?

 **Lưu ý :

 + Tính dục : sự hấp dẫn của phái tính. Phái tính này ảnh hưởng đến cả xác và hồn (GL 2332 – 2334)

 + Tình dục : Sự ham muốn nhục dục về thể lý.


 Bài 16 - Bài đọc thêm

ÍT VẤN ĐỀ THỜI SỰ VỀ HÔN  NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(Giám Mục  NGUYỄN  BÌNH  TĨNH – Giáo phận ĐÀ  NẴNG)

1. Đồng giới luyến ái :

     Một vấn đề không còn là xa lạ ở Việt Nam. Đã gặp ở Toà Giải Tội cả nơi nam lẫn nơi nữ giới. Thánh Kinh ghi lại đôi trường hợp : Kn 1, 1 – 29  và Rm 1, 24 – 27  ;  1 Cr 6, 10  ; 1 Tm 1, 10 

Truyền thống giáo huấn của Giáo hội vẫn coi đó là những hành vi “theo bản chất lộn xộn” trái luật tự nhiên. Đã nhiều nơi trên thế giới, người ta đòi luật pháp đời công nhận và bảo vệ quyền được sống chung như thế ngang hàng với mọi quyền lợi của đời lứa đôi thật. Có nơi cũng đòi Giáo hội công nhận như vậy.

 Gần đây, để yểm trợ cho đòi hỏi đó, có nguời dựa vào nghiên cứu khoa học cho rằng : những người có xu hướng đồng giới luyến ái  là do gien cha mẹ để lại, và câu kết luận tất nhiên sẽ là : các hành vi họ làm đều vô tội vì vô trách nhiệm. Xét về mặt khách quan, các hành vi đồng giới luyến ái là “lộn xộn’, có tội. Nặng hay nhẹ, hoặc có khi không mắc tội là tùy ở các nạn nhân có tâm lý bình thường hay ít nhiều bất bình thường. Xét về mặt mục vụ, là mục tử nhân lành, Linh mục giải tội phải hết sức tế nhị khuyến thiện, nâng đỡ họ sửa sai. Có thể giải tội cho họ nếu đủ điều kiện.

2. Sống chung mà không kết hôn :

 Ngày 21. 11. 2000, Hội Đồng Toà Thánh về Gia đình đã công bố văn kiện về các cặp nam nữ sống chung mà không kết hôn.

Gần đây, có nhiều ý kiến và phong trào vịn cớ nhân quyền đã lên tiếng yêu cầu Quốc hội nhiều nước nhìn nhận tư cách pháp lý của các cặp nam nữ sống chung không kết hôn với quyền lợi được bảo vệ như luật hôn nhân. Rõ ràng, điều bất thường muốn được ngang hàng với định chế hôn nhân về mặt pháp lý. Tình trạng này gây nên nhiều hậu quả trầm trọng cho xã hội và Giáo hội.

 Vì thế, văn kiện Toà Thánh nhằm giúp các vị Mục tử biết ứng xử mục vụ thế nào đối với lớp người này (xem văn kiện phần 6). Chủ yếu, Tòa Thánh nhắc lại giá trị, phẩm giá của khế ước hôn nhân …. Phải lo phòng ngừa tệ nạn nhờ dạy Giáo lý về hôn nhân và gia đình … những người công giáo công tác về chính trị  hay luật pháp phải theo đúng giáo lý của Phúc âm.

Khi Nghị Viện Châu Âu biểu quyết công nhận “các cặp nam nữ sống chung mà không kết hôn” (gọi là couples de fait), các cặp đồng giới luyến ái được hưởng qui chế ngang hàng với định chế gia đình, thì Hội đồng Toà thánh  đã ra tuyên bố ngày 17. 3. 2000 rằng : “Pháp chế đó đi ngược lại công ích và nghịch lại sự thật về con người, nói cho đúng đó là điều bất chính” . Bản tuyên bố còn đánh giá các lối sống đó không xứng với tầm vóc của một luật lệ. (Non videtur esse lex, quae justa non fuerit). Do đấy, họ không đủ điều kiện để được giải tội, dù phải cư xử với họ trong tình yêu thương.

3. Liên quan đến đời sống thân mật vợ chồng :

Mọi  kitô hữu phải sống đức trong sạch tuỳ theo bậc sống của mình : Đời độc thân tận hiến cho Chúa – đời đôi bạn – đời hứa hôn (GL 2349) và tuyên bố của Bộ Giáo lý Đức tin (Persona humana số 11). Vợ chồng sẽ “chẳng làm điều gì xấu khi tìm kiếm và tận hưởng khoái lạc (= xác thịt)) . Họ đón nhận những gì Đấng Sáng Tạo đã ban cho họ”.

Riêng các “hành vi thực hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của đôi vợ chồng đều cao quí và chính đáng. Được thi hành cách thật sự nhân linh, những hành vi ấy biểu hiện và khích lệ sự hiến thân cho nhau, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong hoan lạc và biết ơn”.  Dù vợ chồng (cũng phải) vượt qua xu hướng nhục dục thuần tuý … nếu được sùng bái một cách ích kỷ, sẽ … kéo theo những hậu quả thảm hại. Một vấn đề thời sự nóng bỏng của đời vợ chồng là làm thế nào để điều hoà sinh sản. Công Đồng đã nhận định rất thẳng thắn : “Muốn tổ chức đời sống vợ chồng cho thuận hoà, đôi bạn thường vấp phải một số tình huống sinh sống khó khăn hiện tại và có thể lâm vào những tình cảnh khiến họ không thể gia tăng số con cái, ít là trong một thời gian, đó là lúc phải khó khăn lắm mới duy trì được tình yêu trung thành và chung sống trọn vẹn” (Gs 51, 1).

Trong ứng xử cụ thể, giữ đúng cương vị nhà giáo dục, chúng ta không nên chọn biện pháp ngừa thụ thai nào thay cho vợ chồng, dù được hỏi, cùng lắm trừ bác sĩ. Cũng không nên kết án gì dù biết họ đã sử dụng cách thế chưa hợp đạo dạy. Cứ khách quan trình bày rõ ràng giáo huấn của Giáo hội, rồi để họ “chọn lấy trước mặt Thiên Chúa” (Gs 50, 2) vì tin vào khả năng quyết định của một Kitô hữu trưởng thành, dù còn vấp váp và tiệm tiến.  

Vả lại, luật lệ nào cũng do con người soạn ra, kể cả Giáo hội, cũng không thể tránh hết mọi hạn chế. Vì vậy, khi thực tế cuộc sống không đủ điều kiện buộc thi hành luật thì tín đồ phỏng lấy theo lương tâm thực tình mà coi luật đó chưa có thể áp dụng. Đó là nguyên tắc Epikeia của Giáo Hội. Nguyên tắc đó tìm thi hành chủ đích thật của luật buộc (finis legis) hơn là làm theo mặt chữ.

Ngày nay , vì trọng tự giác trách nhiệm hơn, Công Đồng Vat II  nêu nguyên tắc xử sự phổ cập như sau : “Đừng lầm tưởng các chủ chăn có đủ thẩm quyền chuyên môn để có thể có ngay một giải pháp cụ thể cho mọi vấn đề xảy ra, kể cả những vấn đề quan trọng . Cũng đừng lầm tưởng các chủ chăn vốn có sứ mệnh ấy.Nhưng tốt hơn là chính họ được đức khôn ngoan  Kitô giáo soi dẫn và cẩn thận chú ý các giáo huấn của Giáo hội, hãy nhận lấy trách nhiệm của mình” ((Gs 42, 4) .

Ý ngay lành được bảo đảm bằng lòng thành kính và lương tâm ngay thẳng vừa tỏ ra lòng trọng luật Giáo hội, vừa biểu lộ ý chí trung thành với ý Chúa xuyên qua một hoàn cảnh cụ thể. Phải chăng cũng trong chiều hướng mục vụ thiết thực đó mà Đức Phaolô đệ VI đã khuyến cáo các Linh mục phải “trình bày minh bạch giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân” đồng thời “phải làm theo đức nhẫn nại và hiền từ như chính Chúa đã nêu gương trong cách cư xử với tha nhân. Ước gì các vợ chồng luôn luôn gặp được trong lời nói, nơi con tim các Linh mục âm vang tiếng nói và tình yêu của Đấng Cứu thế … Hãy chuẩn bị cho họ thường xuyên và tin tưởng chạy đến các bí tích Thánh Thể và Hoà Giải. Đừng bao giờ để họ ngã lòng vì yếu đuối” (HV 29).

     Với chính đôi bạn còn vấp ngã, Đức Phaolô khuyến khích : “Nếu tội lỗi còn đè nặng trên họ thì họ cũng đừng nản chí ngã lòng, nhưng với lòng khiêm cung bền bỉ, họ hãy cầu khẩn lòng nhân từ Chúa như Bí tích Cáo Giải” (HV 25). Đừng nản chí ngã lòng, vì tiến bộ nơi con người thường phải có thời gian và phải lên núi xuống đèo, chứ không lên như máy bay !

 Dầu sao, Uỷ Ban Giáo Hội về Gia đình đã cho linh mục giải tội một nguyên tắc thật yên tâm : “Vị Giải tội buộc phải báo cho hối nhân biết những vi phạm luật Chúa tự chúng là nặng. Phải làm cho họ ước mong được giải tội, được Chúa tha thứ và dốc quyết nghiêm túc tu sửa cách sống của họ. Sự sa đi ngã lại những tội ngừa thai, không phải tự nó là lý do để từ chối ban xá giải, chỉ có thể từ chối ban xá giải khi hối nhân thiếu ăn năn hoặc không dốc lòng chừa.”.

Chúa Giêsu tự giới thiệu : “Tôi chính là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của Tôi” (Ga 10, 14). Sự hiểu biết và tấm lòng cảm thông của Chúa , bao hàm trong chữ “biết” đã được tỏ rõ khi ứng xử vụ một phụ nữ ngoại tình (Ga 8, 1 – 11). ra lối thoát may mắn và khích lệ chị biến đổi cuộc sống.. “Tôi cũng không lên án chị đâu. Thôi, chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. Am tường tội trạng và tâm tư sợ chết của chị, Chúa đã tìm ra lối thoát may mắn và khích lệ chị biến đổi cuộc sống.

Trong vụ xử kiện cho hai gái điếm giành giật con, vua Salomon (1 V 3, 16 – 28) đã thấu cảm hết nỗi lòng người mẹ. Nhờ thế, Vua đã cứu được đứa bé, nhờ bà mẹ thật của nó vừa sẵn lòng thà mất con hơn để con mình bị nhà vua phân đôi. :Thưa Chúa thượng, xin Ngài cho chị ấy đứa trẻ còn sống, còn giết chết nó thì xin đừng”. Trái lại, chị không sinh ra nó đã thuận tình theo ý Vua : “Chẳng phải con tôi, cũng chẳng phải con chị, cứ chia đôi ra !”. Hai thái độ đáng gẫm suy khi chúng ta ngồi Toà. Nếu vì tôn trọng sự thật khách quan, phải qui chiếu vào nguyên tắc, thì thái độ ứng xử có lý có tình như người trong cuộc, sẽ dễ thuyết phục và cảm hoá lòng người hơn.


Bài đọc thêm

Ý NGHĨA ĐỘC THÂN CHÂN CHÍNH – TÌNH BẠN CHÂN CHÍNH

Chị Annette thân mến,

Hôm qua nơi chỗ làm việc, chị bất ngờ hỏi tại sao tôi chọn nếp sống độc thân. Bầu khí ồn ào không cho phép tôi trả lời đầy đủ về một vấn đề nghiêm trang như vậy. Có thể đây là vấn đề vượt ngoài ý tưởng của chị ! Bởi lẽ chị thấy tôi là người bình thường như bao người đàn ông khác. Ngoài ra tôi còn nhã nhặn và tế nhị khi cư xử với phụ nữ, đồng thời biết chiêm ngắm nét đẹp của nữ giới. Vậy tại sao tôi lại chọn nếp sống độc thân ? Chị thắc mắc như  thế. Tôi cố gắng giải thích, nhưng không chắc chị hiểu được không. Bởi vì để hiểu rõ nếp sống độc thân của tôi, chị cần phải chia sẻ cùng một niềm tin Công Giáo như tôi. Đối với tôi, độc thân không phải là một thiếu sót. Cũng không phải là một ích kỷ, chỉ sống cho riêng mình. Trái lại là đàng khác.

Tôi xin nói ngay lý do nào thúc đẩy tôi chọn lối sống độc thân. Đó là vì một khuôn mặt đã thu hút tôi. Khuôn mặt này trổi vượt trên mọi khuôn mặt thanh thiếu nữ mà tôi hân hạnh đuợc gặp và quen biết trong cuộc đời. Đó là khuôn mặt của Đức Chúa Giêsu Kitô. Đối với tôi Đức Chúa Giêsu Kitô là khuôn mặt của Thiên Chúa Cha nơi trần gian. Ngài chiếm đoạt tôi và tôi say mê Ngài. Tôi đi theo Ngài cho đến ngày hôm nay và sẽ mãi mãi theo Ngài cho đến giây phút cuối đời. Vì Ngài mà tôi từ bỏ tất cả. Xin chị tin lời tôi và đừng đùa cợt đối với một vấn đề mang tầm mức siêu việt.

Dĩ  nhiên  tôi chưa từng thấy Ngài cũng như chưa nghe tiếng Ngài. Và những biểu lộ trìu mến của Ngài thường rất hiếm hoi. Phải nói Ngài là người bạn đường rất dè dặt và ít nói. Nhưng tôi chắc chắn Ngài yêu tôi, như thể chỉ có mình tôi trên cõi đời này. Đôi lúc trong cuộc sống, tôi cảm nghiệm được tình yêu này. Và những lúc đó hồn tôi hân hoan vui sướng như sống tuần trăng mật.

Hôm qua chị hơi đi quá vào đời tư của tôi. Tuy nhiên tôi không chấp chị về điểm này. Trái lại tôi xin thẳng thắng và trả lời cho chị rõ. Tôi có thể thú nhận với chị là tôi đã từng cảm nghiệm thế nào là tình yêu nam nữ. Do đó tôi có thể quả quyết với chị rằng, nếu tôi chưa kinh nghiệm thế nào là tình yêu nam nữ, thì có lẽ tôi là một người đàn ông không bình thường.

Cuộc đời đưa đẩy khiển tôi có nhiều dịp tiếp xúc với nữ giới, gần gũi thân mật với họ và làm việc chung với họ, nơi xưởng làm hoặc qua các công tác bác ái tông đồ. Nhiều phụ nữ cùng nhóm thiện nguyện với tôi, cùng chia sẻ nếp sống độc thân như tôi. Họ chọn lựa sống độc thân vì tình yêu dành riêng cho Đức Giêsu Kitô. Trong số các phụ nữ tận hiến cho Chúa, tôi quen biết đặc biệt một cô. Chúng tôi rất hợp tình hợp ý và trao đổi cho nhau một tình bạn chân thành, giống như tình bạn giữa chị và tôi hôm nay vậy.

Theo dòng thời gian tình bạn lớn mạnh, yêu thương hơn, trìu mến hơn. Và giả như không có lời đoan hứa giữ mình trinh khiết, hẳn chúng tôi đã đi đến hôn nhân rồi. Nhưng cả hai chúng tôi không dừng lại ở tình yêu nam nữ ấy , vì chúng tôi không muốn phản bội Đức Giêsu Kitô, Đấng mà mỗi người chúng tôi tự ý chọn lựa như là hiền-phu hiền-thê duy nhất của lòng mình. Dĩ nhiên  quyết định trung tín với lời hứa độc thân không phải dễ. Chúng tôi đã phải trả bằng nước mắt và bằng con tim rướm máu ! Nói thế để chị hiểu rằng tôi không phải là thiên thần, cũng không phải là vị anh hùng. Trái lại tim tôi cũng bằng thịt y như  trái tim chị. Và Thiên Chúa là Tình Yêu hiểu rõ chúng ta hơn bất cứ ai trên trần gian .

Tôi ước mong tình bạn giữa chúng ta ngừng lại nơi tình anh em, để chị không phạm tội phản bội chồng và tôi không phạm tội phản bội Đức Giêsu Kitô , Người Tình Chí Thánh của tôi. Tôi cũng xin tâm sự với chị là, sức mạnh giúp tôi trung tín với Chúa cho đến ngày hôm nay, chính là sức mạnh tôi kín múc nơi Bí tích Thánh Thể mỗi ngày, trong cuộc đời tôi.

Ký tên

Pierre

( Charles Lepetit, “Mes Amis Les Pauvres”, Nouvelle Cité, Paris 1984, trang 178-181)