Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 16: Các con sẽ là Thánh

“Thiên Chúa là sự thánh thiện. Người là Đấng Thánh duy nhất. Và chỉ có một Chúa. Được tham dự vào sự thánh thiện của Chúa không phải là một đặc ân dành riêng cho những trường hợp ngoại lệ, mà đây là bổn phận của tất cả chúng ta. Chúng ta đã nhận được ơn nên thánh qua phép Rửa. Thật là ngây thơ nếu nghĩ rằng nên thánh là: có thị kiến, làm được phép lạ, sống khổ hạnh khác thường. Không! Nên thánh có nghĩa là sống với Cha, Con và Thánh Thần, sống nên một với anh em. Và đó là bổn phận của mọi người.” – Dom HelDer Camara.

Lời mời gọi của Đức Giêsu Kitô

“Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48)

Chúa Giêsu mời gọi nên thánh. Người đã gởi Chúa Thánh Thần đến để làm cho chúng ta biết yêu thương như Người đã yêu thương ta. Chúa Giêsu đưa ra lời mời nên thánh này cho một thanh niên trong sách tin mừng: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán hết tài sản của anh… rồi hãy đến theo Ta.” (Mt 19, 21)

Thiên Chúa mời gọi người thanh niên đó. Thiên Chúa mời gọi tất cả chúng ta vào một đời sống cao hơn, vào sự thánh thiện của Người.

Chúng ta cùng đọc lại đoạn Mt 19, 16-22.

Người thanh niên nhận ra Chúa Giêsu và đối thoại với Ngài. Chúa Giêsu cho anh ta biết những đòi hỏi chung, những đòi hỏi tự nhiên nhất. Người thanh niên này có những nhu cầu khác. Anh ta cảm thấy đức tin là cái “cộng thêm”. Rồi Chúa Giêsu đi xa hơn: “Anh chỉ thiếu có một điều…” Cái mà anh ta thiếu, không phải là cái mức độ hoàn hảo phải thêm vào, mà là sự sẵn sàng, tinh thần từ bỏ… và đón nhận thập giá.

Chúng ta muốn nên thánh theo tầm cỡ của chúng ta. Nên thánh nhưng không làm xáo trộn những dự phóng, thói quen, lối nhìn của chúng ta. Nhưng khi Chúa Giêsu mời gọi ta nên thánh, Người mong ở ta một tình yêu trọn hảo, một tình yêu trọn vẹn… vượt qua chính mình.

Mời gọi nơi Giáo Hội

Mỗi chi thể đều được mời gọi nên thánh. “Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh.” (1Tx 4, 3). Chúng ta thường gán từ “thánh, thánh thiện” cho những tín hữu tầm cỡ, cho các vị tử đạo, cho các Đấng sáng lập Dòng, cho những ai nhận đoàn sủng hoặc cho những người làm phép lạ…

Đừng quên vị thánh là người để cho Chúa Thánh Thần chiếm lĩnh, là người sống đời sống mới của phép Rửa. Qua phép Rửa, mỗi Kitô hữu tham dự vào cộng đồng các “thánh”, vào một dân tộc được thánh hóa bởi lòng tin và các bí tích. Những tôi tớ hèn mọn của Chúa đeo đuổi con đường của Ngài, không rầm rộ, mặc gió táp mưa sa, mặc cám dỗ và vấp ngã…

Chúng ta hiểu và sống từng phút giây của cuộc đời mình trong niềm tin, như một dấu chỉ, như một lời mời gọi của Thiên Chúa đưa ta đến gần Người. Vị thánh không vượt qua đời thường một cách hữu hình nhưng tìm cách tháp nhập đời mình vào Đức Giêsu Kitô.

Sự thánh thiện không đòi hỏi một chiến công nhân loại nào hay một hành động chói lòa nào. Chỉ đòi buộc yêu Đức Kitô. Chọn cuộc sống với Đấng Phục sinh, có nghĩa là học tự do phó thác mình cho Ngài, cho ý muốn của Ngài, cho ân sủng của Ngài.

Làm sao nên thánh?

Bằng cách sống trọn hảo tình yêu trong những điều kiện cụ thể của cuộc sống; trong các trách nhiệm gia đình, văn hóa, nghề nghiệp, chính trị; trong đấu tranh chống lại bất công (bất bạo động), chống lại đói nghèo, bị bỏ rơi, cùng khổ; trong việc làm chứng cho Chúa Kitô bằng hành động, lời nói; trong những thử thách của cuộc sống. Mỗi người dấn thân theo ơn riêng của mình trên con đường đức tin sống động. Con đường này đánh thức niềm hy vọng và hành động theo đức ái.” (Hiến chế Tín lý về Giáo Hội số 41)

Sống thánh thiện

Không có một định nghĩa riêng cho sự thánh thiện mà có hàng chục, hàng trăm định nghĩa khác nhau. Cá nhân tôi thích định nghĩa này: “Thánh có nghĩa là chỗi dậy ngay tức khắc khi vấp ngã, với lòng khiêm nhu và vui mừng. Thánh không có nghĩa là không bao giờ phạm tội. Thánh là khi ta có thể thưa với Chúa: “Vâng, lạy Chúa, con đã vấp ngã hàng triệu lần… Nhưng nhờ ơn Chúa, con đã chỗi dậy một triệu lẻ một lần.” (Dom Helder Camara – trích sách “Những hoán cải của một Giám mục” tr. 195)

“Người tử đạo múc sức mạnh trong tình yêu. Cũng vậy, sự thánh thiện đơm hoa trong những công việc hèn mọn, âm thầm, kiên trì mà chỉ có tình yêu mới giải thích được lý do. Cả thế giới xúc động trước Mẹ Têrêxa Calcutta, người đã trói buộc đời mình vào những thân phận nghèo khó. Mẹ chú tâm cho những trường hợp nan giải. Trong những ca như thế này, chỉ cần gợi lên một tia hy vọng cũng đã là ngạo mạn. Mẹ Têrêxa giúp ta hiểu rằng khi ta không còn làm được bất cứ điều gì cho người bất hạnh, thì bằng tình yêu của Chúa Kitô, ta có thể làm được tất cả. Đức Kitô-Bị-Đóng-Đinh trên thập giá giải phóng mọi hy vọng.” (J.F. Motte)

CÂU HỎI BÀI SỐ 16

Thánh Phaolô thuờng dùng từ “các thánh” để viết về các Kitô hữu cũng như khi Ngài nói chuyện với họ.

Bạn hãy đọc thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma: Rm 12, 1-13.

Đời sống thánh thiện theo Thánh Phaolô bao gồm những gì?


Bài đọc thêm

Giáo Hội của những người lành và kẻ dữ !

(Ga 17, 11-19)

Trong Giáo Hội người ta thường nói đến tiếng “thánh thiện”, như: Các thánh nhân, các nơi thánh địa, các đồ dùng thánh, các dấu hiệu thánh. Trong nhiều sách vở và kinh nguyện chính Giáo Hội được gọi là Hội Thánh. Nhiều người không đồng ý với kiểu xưng hô đó. Họ cho rằng trong lòng Giáo Hội còn tồn đọng và xảy ra bao nhiêu điều chẳng thánh thin chút nào cả. Vì thế, theo họ người ta nên cẩn thận khi dùng kiểu nói đó.

Sự bất đồng ý kiến về ý nghĩa của danh từ đó là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, chữ “Hội Thánh” ở đây không muốn nói là một Giáo Hội của toàn những người trọn lành thánh thiện, không còn vấn vương lỗi lầm thiếu sót nữa. Chữ “Hội Thánh” ở đây chỉ muốn nói là một Giáo Hội đã được “thánh hóa”, đã được tinh luyện nhờ vào giá máu của Đức Kitô đã đổ ra trên thập giá. Đó cũng chính là điều mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi những kẻ - đã nhờ Đức Kitô và qua Đức Kitô – đã tin tường vào Người: Người đã “thánh hóa” họ. Người đã lôi kéo họ vào trong cuộc sống thần linh của Người. Qua Đức Giêsu Người đã cho họ được tham dự vào cuộc sống thần thiêng của Người. Vì thế, trong các thư gửi cho các giáo đoàn thuộc Giáo Hội tiên khởi xưa kia, thánh Phaolô thường đề đầu thư: Gửi “các Thánh” tại Cô-rin-tô (2Cr 1, 1), gửi “các Thánh” tại Ê-phê-sô (Ep 1, 1) hay: gửi “các Thánh” tại Phi-líp-phê (Pl 1, 1), v.v… Dĩ nhiên, thánh Phaolô vẫn biết rằng nhiều người trong các cộng đoàn đó có một cuộc sống thiếu thánh thiện, không đúng theo giới răn của Thiên Chúa. Và thánh nhân cũng đã nhiều lần cảnh cáo, nhắc nhở họ. Do đó, khi ngài gọi họ là “các Thánh”, thánh nhân chỉ muốn nói đến những gì Thiên Chúa đã làm nơi họ, chứ không phải những gì chính họ đã làm. Thánh nhân đã luôn nhắc nhở các tín hữu phải sống tương xứng với bậc sống mới mà Thiên Chúa đã ban cho, tức phải sống xứng đáng với ơn Chúa, phải sống như những người “đã được thánh hóa” trong Đức Kitô, bởi vì họ “đã được kêu gọi nên thánh.”

Tương tự, người ta cũng hiểu tiếng “Hội Thánh” theo nghĩa đó. Giáo Hội là một Giáo Hội “đã được thánh hóa”, bởi vì chính Đức Giêsu đã thành lập nên Giáo Hội, và bởi vì Người vẫn luôn sống và hoạt động trong Giáo Hội qua Chúa Thánh Thần. Giáo Hội là Hội Thánh, bởi vì Giáo Hội là thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô, được lưu thông trong mình sự sống thần linh của Người (x. 1Cr 12, 12-27), và bởi vì Giáo Hội luôn luôn được tinh luyện và đổi mới qua các Bí tích, nhất là qua việc cử hành bàn tiệc Thánh Thể. Giáo Hội là Hội Thánh, bởi vì qua các Bí tích Giáo Hội làm trung gian môi giới cho việc gặp gỡ mang lại ơn cứu rỗi với Đức Kitô. Do đó, tất cả những dấu chỉ, những đồ vật và những nơi chốn có liên quan đến sự gặp gỡ đó cũng được gọi là “thánh”!

Từ chỗ đó, người ta có thể nói rằng sự thánh thiện mà Giáo Hội có được, là một sự thánh thiện được lãnh nhận, là một sự thánh thiện “khách quan”. Trong nghĩa này, tất cả các Kitô Hữu chúng ta đều thuộc về hàng ngũ “các thánh”. Nếu còn sống trong thời đại hôm nay, chắc chắn thánh Phaolô sẽ ghi thư và đề gửi cho chúng ta là “các thánh thuộc giáo xứ ở …”, mặc dầu không có ai trong chúng ta có thể được gọi là vị thánh sống cả. Vâng, Giáo Hội còn có một mặt khác nữa. Giáo Hội cũng là Giáo Hội của những người tội lỗi nữa. Bởi vì Giáo Hội bao gồm những con người như bạn và tôi, nhưng con người còn mang trong mình tính chất nhân loại yếu hèn và ngã sa. Đúng vậy, trong lòng Giáo Hội đã và đang xảy ra những điều không đẹp. Giáo Hội không phải chỉ chịu đựng sức nặng của những chèn ép công kích của thế gian, của những kẻ thù ở ngoài Giáo Hội. Giáo Hội còn phải chịu đựng gánh nặng còn nặng nề hơn bội phần do tội lỗi và thíêu sót của các con cái của Giáo Hội gây ra. Giáo Hội chịu đau khổ vì cuộc sống của các tín hữu đi ngược lại tinh thần Phúc Âm, vì sự ích kỷ, sự thờ ơ và sự chia rẽ của họ. Những yếu đuối của Giáo Hội, hay nói đúng hơn, những yếu đuối của các thành phần của Giáo Hội, đã đưa đẩy lịch sử của dân Chúa rơi vào những hướng đi không đúng với ý muốn của Người. Thiên Chúa để mặc cho sự dữ xảy ra trong Giáo Hội, như Người đã để mặc cho tội lỗi của từng cá nhân xảy ra, bởi vì Người luôn tôn trọng sự tự do của con người.

Bởi vậy, Giáo Hội, tức tất cả các Kitô hữu chúng ta, luôn luôn cần được canh tân. Giáo Hội luôn luôn phải cải thiện và ăn năn. Vâng, trong Giáo Hội luôn luôn phải có sự đổi mới như chính Đức Giêsu đã đòi hỏi. “Nước Thiên Chúa đã gần đến, các ngươi hãy hối cải ăn năn và tin vào Tin Mừng” (Mt 1, 15). Đó là những lời nhắn nhủ khẩn thiết của Đức Giêsu đã được truyền lại cho chúng ta. Những lời nhắn nhủ đó có giá trị vượt thời gian. Chúng có giá trị trong mọi giai đoạn của Giáo Hội. Chúng có giá trị đối với các Kitô hữu trong mọi thời đại. Chúng có giá trị đối với chúng ta, những Kitô hữu đang sống thời đại tân tiến hôm nay.

Chính các thánh là những chứng nhân cụ thể đã làm nổi bật được những gì chứa đựng trong chữ “thánh”. Các vị là những mẫu mực chói sáng cho ý nghĩa và mục đích cuộc sống chúng ta. Các ngài đã thực hiện được tính cách nhân bản của mình một cách trọn vẹn, đến nỗi các phạm trù tư tưởng thuần túy nhân loại không thể đạt tới được. Trong một thế giới ngày nay người ta nói đến rất nhiều về nhân phẩm con người, nhưng cuối cùng lại thiếu vắng tính cách nhân bản, bởi vì tư tưởng cầu lợi, ham hố quyền hành và tư tưởng hưởng thụ nắm trọn quyền chủ động trong mọi dự định và sinh hoạt của con người. Trong một thế giới như thế, các vị thánh nhân là những người dẫn lối trên con đường tiến về một tương lai có nhân phẩm hơn. Bởi vì, một mình kỹ thuật, khoa học và sự phồn vinh vật chất không thể làm cho thế giới có nhân phẩm được. Một thi sĩ người Đức đã có những vần thơ rất chí lý như sau:

So reich waren wir noch nie wie heute,

So habgierig waren wir nie wie heute.

So satt waren wir nie wie heute,

So unersattlich waren wir nie wie heute.

So versichert waren wir nie wie heute,

So unsicher waren wir nie wie heute.

So viel gesehen haben wir nie wie heute,

So blind waren wir nie wie heute.

So viel Licht hatte wir nie wie heute,

So dunkel aber waren wir nie wie heute.

Tạm dịch:

Chúng ta chưa bao giờ giàu có như ngày nay,

Chúng ta chưa bao giờ tham lam như ngày nay.

Chúng ta chưa bao giờ no đủ như ngày nay,

Chúng ta chưa bao giờ đói khát như ngày nay.

Chúng ta chưa bao giờ được bảo hiểm như ngày nay,

Chúng ta chưa bao giờ bị bất ổn như ngày nay.

Chúng ta đã chưa bao giờ được nhìn thấy nhiều như ngày nay,

Chúng ta chưa bao giờ bị mù lòa như ngày nay.

Chúng ta chưa bao giờ có nhiều ánh sáng như ngày nay,

Nhưng chúng ta chưa bao giờ bị tối tăm như ngày nay.

(W. Willms)

Walter Nigg, một tín hữu Tin Lành, tác giả nổi danh của tiểu sử Các Thánh Ngày Nay, đã viết: “Các thánh là những người duy nhất đã nhìn thấy được giữa những người mù”. Ông có lý: sự mù quáng không nhìn thấy được những mục đích và những mẫu mực chân thật của cuộc sống là cả một điều tiêu cực nhất của con người. Những cái tầm thường và nguy hại lại được đánh giá cao, trong khi những cái có giá trị chân chính cho cuộc sống lại bị gạt bỏ và bị lãng quên. Đúng vậy, những chân lý nền tảng của đức tin và của cuộc sống phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng là chân lý tuyệt đối, thường bị gạt bỏ ra ngoài rìa, bị lãng quên và bị làm méo mó.

Các thánh là những người có thể giúp chúng ta hiểu rõ một cách đúng đắn niềm khát vọng hạnh phúc vô biên và giúp chúng ta tìm ra được những con đường dẫn tới hạnh phúc chân thật. Các thánh cũng có thể giúp chúng ta hoàn thành được các bổn phận của mình, để ở bất cứ chỗ nào chúng ta có mặt, thì ở đó Giáo Hội được biết đến như là một Giáo Hội đang trên đường hoán cải và nên thánh.

LM Nguyễn Hữu Thy