Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 15: Thư gửi tín hữu Philipphê

Thông thường, Phaolô viết thư để trả lời các câu hỏi chính xác do các cộng đoàn kitô hữu đặt ra. Thư gửi tín hữu Phi-lip-phê được trìu mến gửi đến cộng đoàn đã giúp đỡ ông cách rộng rãi và ông rất tín nhiệm cộng đoàn này. Ông cám ơn những trợ giúp họ đã gửi cho ông qua ông Ê-páp-rô-đi-tô (Pl 4,10-20) và nhân dịp, ông cho tin tức của ông và vài lời khuyên nhủ. 

Được viết ở Ê-phê-sô khoảng năm 57, thư này (có lẽ gộp ba thư khác nhau lại) gửi cho “ mọi người trong Dân thánh kết hợp với Đức Kitô Giêsu ở Phi-lip-phê, cùng kính gửi các vị Giám quản và trợ tá” (1,1). Cộng đoàn này do Phaolô thành lập ở Macédoine trong chuyến đi truyền giáo thứ hai vào năm 50-52 (Cv 16,12-40).

Đọc thư này không thấy có gì là khó. Phaolô không triển khai một bài thuyết giáo ăn khớp với nhau chặt chẽ, cũng không có lối văn độc đoán của một số lời khuyên nhủ. Thư này rất gợi cảm và ý nhị. Phaolô biểu lộ sự trìu mến hướng về Đấng đã “ chiếm đoạt” ông (3,12), “Đức Giêsu của tôi” (3,8), Đức Kitô khiêm hạ và được tôn vinh (2,6.11). Đồng thời ông giải thích ý nghĩa của đời sống kitô hữu, như là sự thông hiệp với Đức Kitô, nguồn mạch của niềm vui.

Thư mở đầu bằng lời tạ ơn và cầu nguyện của Phaolô :1, 3—11. Cung giọng rất thân thương , Phaolô tạ ơn Thiên Chúa bằng cách nhắc lại phần mà tín hữu Phi-lip-phê đã góp vào Tin Mừng (3-6). Ông mang họ trong lòng bằng một tình yêu bắt nguồn từ tình yêu của Đức Kitô (7-8). Ông cầu nguyện để trong tương lai họ luôn luôn tràn đầy lòng mến (9-11). Chúng ta thấy xuất hiện ở đây một vài đề tài của thư: niềm vui, loan báo Tin Mừng, viễn ảnh về ngày của Đức Kitô.

Tiếp đến Phaolô cho tin tức về hoàn cảnh của ông (1,12-26)

Nếu ông là tù nhân thì không có gì phải sầu khổ. Ngược lại, việc ông bị bắt giữ “lại là một mối lợi cho Tin Mừng” (12) vì nó cho anh em kitô hữu “ một sự bạo dạn hơn để rao giảng Lời Chúa mà không chút sợ hãi” (14). Nếu sự thật là mọi ý định của những người rao giảng Lời Chúa không đáng khen ngợi như nhau, điều quan trọng là Đức Kitô được rao giảng và điều đó làm Phaolô vui (18). Những thua thiệt mà Phaolô chịu trong thân xác của ông thì cũng là chỗ để Đức Kitô được tôn vinh (20). Phaolô bày tỏ cách mạnh mẽ ông ý thức mình được kết hợp với Đức Kitô, trong sự thương khó của Người cho tới tận cái chết của Người “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (21). Phaolô hi vọng sẽ được tự do, ông đã cảm nhận điều đó, vì ông thấy đó là điều lợi ích cho lòng tin của tín hữu Phi-lip-phê (25-16).

Theo gương vị tông đồ, tín hữu Phi-lip-phê phải chiến đấu cho đức tin vào Tin Mừng và phải chịu đau khổ vì Đức Kitô (1,27-30). Sống đức tin là một cuộc chiến đấu. Để kết thúc tốt cuộc chiến không ngừng này, Phaolô khuyên họ, khuyến khích họ cách sống động và nồng nhiệt

Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau.”(2,1-2). Chính bằng cách sống khiêm nhường theo gương Chúa Kitô, mà tín hữu Phi-lip-phê sẽ giữ được sự hiệp nhất (câu 3-5). Trong một bài thánh thi long trọng, Phaolô cử hành sự tự hạ và vinh thăng tột đỉnh của của Đức Kitô Giêsu (2,6-11). Sự vâng lời mà Đức Kitô đã sống cũng phải là đặc tính của cách cư xử của tín hữu Phi-lip-phê, người đã để cho Thiên Chúa mở ra nơi họ và với họ ơn cứu độ (2,12-18). Bằng cách sống sự hiệp thông với Đức Kitô chiến thắng, họ sẽ mang đến cho Đức Kitô chứng tá của họ và sẽ chiếu sáng như những vì sao (câu 15).

Phaolô gợi ý tiếp các dự tính liên quan tới Ti-mô-thê và Ê-páp-rô-đi-tô 2,19-30. Thư dường như hoàn tất ở câu 3,1, nơi đây chúng ta thấy gẩy khúc đầu tiên của văn mạch trong thư.

Đột nhiên, Phaolô cảnh giác độc giả chống lại kẻ thù Do Thái hay Do Thái hóa. Chủ đề của việc đề phòng này cùng chung với các thư khác (xem Gl và Rm ): người ta nên công chính bởi lòng tin vào Đức Giêsu Kitô chứ không phải bởi việc thực hành Lề luật (3,1-3). Liên hệ với ơn gọi riêng của mình, Phaolô giải thích rằng ông không muốn dựa chút nào vào các nhãn hiệu con người mà ông có thể nhận lấy cách hợp pháp. Ông chỉ muốn biết một mình Đức Kitô, với quyền năng Phục sinh của Người và sự thông hiệp với các đau khổ của Người (3,4-11). “Bị Đức Kitô chiếm đoạt” (câu 12), ông theo đuổi cuộc chạy đua của mình để chiếm lấy vĩnh viễn. Như vận động viên, ông chạy mà không quay lại phía sau. Ông kêu mời tín hữu Phi-lip-phê xác định tầm nhìn của họ như ông, hướng về trời cao, nơi chúng ta nóng lòng chờ đợi Đức Kitô Giêsu Chúa chúng ta, Đấng sẽ biến đổi thân xác đang thương của chúng ta trở nên giống thân xác vinh quang của Người (3,12-4,1)

Tuyên bố xong, Phaolô lấy lại huấn dụ và cho vài lời khuyên cuối cùng : 4,2-9 . Người ta nhận thấy có những gẩy khúc giữa các câu 1 và 2,9 và 10,20 và 21. Phaolô mời gọi tín hữu Phi-lip- phê bỏ qua một bên những sự tranh đua ti tiện (4,2-3) và sống trong niềm vui, từ bỏ và tạ ơn (4,4-9). Bằng những lời hết sức biết ơn và tình cảm, ông gửi lời cám ơn sự giúp đỡ dành cho ông (4,10 20). Phaolô rất cảm động vì lòng quãng đại của tín hữu Phi-lip-phê và ông khuyên họ đừng lo lắng cho số phận của ông : “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu đuợc hết”(câu 13)

Lá thư kết thúc với lời chào thăm và lời chúc cuối thư của vị tông đồ, ông nói nhân danh tất cả những người chung quanh ông (21-23 ). “ Cầu chúc cho tâm hồn anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô (câu 23)

Trong thư, Phaolô cũng luôn trộn lẫn các ý kiến thân tình và cá nhân và các chủ đề đắt giá trong tư tưởng của ông. Chúng ta hãy lấy lại một vài chủ đề đặc biệt quan trọng.

1.    Niềm vui

Mặc dù  bị cầm tù, Phaolô luôn tràn ngập niềm vui và diễn tả niềm vui của mình : vui trong cầu nguyện (1,4), vui trong việc rao giảng Tin Mừng Đức Kitô (1,18), vui vì nhiệm vụ tông đồ đến mức phải cho đi mạng sống (2,17), vui vì sự hiệp thông huynh đệ với tín hữu Phi-lip-phê (4,1.10) . Hơn nữa, ông còn kêu gọi tín hữu Phi-lip-phê vui lên với ông (2,18.28) . “ Anh em hãy vui lên trong Chúa” , ông nhắc lại hai lần (3,1 và 4,4). Đề tài niềm vui cũng là đề tài chung trong các thư khác của Phaolô. (Rm 12,12 và 2Cr 13,11)

2.    Tin Mừng  

Chúng ta đã gặp từ ngữ quan trọng này trong kho tự vựng của Phaolô. Loan báo Tin Mừng là sứ vụ đầu tiên của Phaolô : “Tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng. Quả thế, Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1,16) . Việc ông bị cầm tù trở thành mối lợi cho Tin Mừng (1,12). Phaolô vui vì tín hữu Phi-lip-phê đóng góp vào việc rao giảng Tin Mừng (1,5) . Ông vui vì có Ti-mô-thê, một tín hữu “phục vụ Tin Mừng” (2,22). Sống theo Tin Mừng, “ăn ở xứng với Tin Mừng của Đức Kitô” (1,27) đòi sự can đảm và bền bỉ (4,3). Phaolô khuyên tín hữu Phi-lip-phê giữ vững lòng tin vào Tin Mừng (1,27).

3.    Công chính bởi đức tin

Phaolô trình bày rất dài chủ đề này trong thư Rôma và Galát. Ở đây cũng vậy, đặc biệt trong Pl 3,1-9, Phaolô so sánh sự công chính đến từ Lề luật với sự công chính đến từ Thiên Chúa, bởi lòng tin vào Đức Giêsu Kitô (xem 3,9). Suốt bức thư, Phaolô trở lại thực tại này, điều đã trở thành một chứng cứ cho ông: tin vào Đức Kitô là một ân huệ của Thiên Chúa (1,29), sống theo Đức Kitô là một công trình của Thiên Chúa mở ra nơi con người “ý chí và hành động” (2,13). Người tín hữu không có lý do gì để tự hào hay tôn vinh công trạng của mình. Con đường của người kitô hữu tiếp nối con đường Đức Kitô đã mở ra “vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá” (Pl 2,8)

4.    Kết hợp với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô

Đời sống của người kitô hữu là một đời sống trong Đức Kitô. Phaolô đã có kinh nghiệm và ông diễn tả kinh nghiệm ấy trong thư này với những lời lẽ không thể nào quên được : ông bị Đức Kitô chiếm đoạt và ông ra sức để bị chiếm đoạt hơn nữa (3,12), để biết Người và để chiến thắng (3,8). Sở thích thâm sâu của ông là được nối kết lại thật nhanh và vĩnh viễn với Đức Kitô (1,29). Trong khi chờ đợi sự gặp gỡ này ông theo đuổi cuộc đua của mình, xác tín mạnh mẽ rằng đối với ông “sống là Đức Kitô” (1,21). Không có gì đáng kể ngoài Người : dù sống hay chết, Đức Kitô sẽ vinh hiển nơi thân xác ông (1,20). Các thử thách ông đã trãi qua, công việc, đau khổ, niềm vui… đối với ông, tất cả là cơ hội để trở nên giống Đức Kitô trong cái chết của Người để đạt tới sự phục sinh (3,10),  trong khi chờ đợi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đến thay đổi thân xác đáng thương của chúng ta phù hợp với thân xác vinh quang của Người (3,21).

Theo gương Phaolô đặt niềm kiêu hãnh và hy vọng của mình trong Đức Kitô (1,26), tín hữu Phi-lip-phê được mời gọi ở lại và làm mọi sự trong Đức Kitô (1,1); giữ lòng tốt, niềm nở với nhau (2,29) sống hòa thuận (4,2), vui lên (3,1) loan báo Tin Mừng (1,14), đón nhận quà tặng và phúc lành của Thiên Chúa (4,19). Kêt hợp sâu xa trong Đức Kitô, các tín hữu hợp nhât với nhau : lắng nghe nhau cần sự khiêm nhường và đó là lý do tại sao Phaolô đề nghị họ suy niệm gương của Chúa Kitô tự hạ mình xuống tận chúng ta để đưa chúng ta lên với Người.

CÂU HỎI BÀI SỐ 15

Trong Pl 2,6-11 , Phaolô lấy lại bài thánh ca tiên khởi về mầu nhiệm tự hạ và vinh thắng của Đức Kitô. Ông cũng mời gọi tín hữu Phi-lip-phê thực hành sự khiêm hạ theo gương Đức Kitô.

1.    Bạn hãy đọc đoạn văn này.

2.    Biến cố vượt qua từ sự chết đến phục sinh của Đức Kitô được diễn tả như thế nào? Bạn bị đánh động bởi những từ nào?

a) cái chết :

b)  Phục sinh :

3.    Bài thánh ca này cho phép bạn hiểu rõ hơn số phận của Đức Kitô trong ý định của Thiên Chúa như thế nào ? (Bạn có thể tham chiếu những bản văn khác trong kinh thánh)

4.    Trong bài thánh ca này, số phận của chúng ta liên kết với số phận của Đức Kitô như thế nào?