Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 15: Lứa đôi và gia đình

Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Người. Người đã tạo dựng người nam và người nữ. Thiên Chúa thấy điều Người làm : điều đó tốt và rất tốt (St 1, 27. 31).

     Những đoạn đầu tiên này của Kinh thánh nói về công việc tạo dựng. Thiên Chúa tạo dựng con người và vui với hạnh phúc của con người. Thiên Chúa tạo con người giống hình ảnh mình (St 1, 26). Thánh Gioan đã nói : Thiên Chúa là Tình yêu (1 Ga 4, 8) và Ngài sống mầu nhiệm tình yêu này với con người. Do yêu thương, khi Ngài mời gọi con người hiện hữu, Ngài cũng đồng thời mời gọi con người đi vào tình yêu và sự hiệp thông.

1. Yêu thương nhau trong sự khác biệt :  

     Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa : nam và nữ (St 1, 27). Có nghĩa là hai con người khác nhau hiện hữu người này nhờ người kia và người này cho người kia. Hai người hiện hữu để thương nhau. Vì thế, tình yêu là ơn gọi căn bản và bẩm sinh của mọi con người. Ơn gọi này chạm vào toàn bộ con người : thân xác, trí thông minh, tinh thần, cảm xúc .

 Kitô giáo có hai cách đặc biệt để thực hiện ơn gọi tình yêu của con người : hôn nhân và trinh khiết . Cách này hay cách khác đều là sự cụ thể hoá thực tế sâu xa nơi con người là hình ảnh của Thiên Chúa.

 Trong sự trinh khiết , con người trong tình trạng chờ đợi kết hợp vĩnh viễn với Chúa Kitô và Giáo hội. Con người tự hiến mình cho Chúa Kitô và Giáo hội. Như thế ngay từ đời này, con người đã tham dự vào đời sau trong sự sung mãn của ngày sống lại.

Trong hôn nhân , người nam và người nữ dấn thân cho nhau vì tình yêu cho đến chết. Sự hiệp thông nam nữ trong hôn nhân là biểu tượng giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa và loài người (Hs 2, 21 ; Gr 3, 6 – 13 ; Is  54, 10), được hoàn tất vĩnh viễn trong Chúa Kitô và trong Giáo hội (Ep 5, 32 – 33). Giáo hội là sự nhập thể được tiếp tục. Giáo hội là Chúa Kitô đang sống trong các thành viên, trong thân thể của Ngài. Như những môn đệ đầu tiên đã gặp Chúa Giêsu và được Ngài trợ giúp, ngày nay, chúng ta cũng gặp Chúa Giêsu đang trợ giúp chúng ta.

2. Sự hợp nhất của lứa đôi :

     “Phen này, đây là xương bởi xuơng tôi, thịt bởi thịt tôi.” (St 2, 23) . Adam đã thốt lên như vậy khi đứng trước người nữ mà Thiên Chúa đã đặt để trên con đường cô độc của mình. Bỗng dưng, ông thấy người bạn đường của mình như một phần của chính mình : một hữu thể có da thịt như ông đã được ban cho và là người tự trao mình cho ông. 

 Sự hợp nhất căn bản của lứa đôi không có nghĩa là không có những khác biệt. Như tất cả mọi thứ phải sống và lớn lên, lứa đôi cũng không thoát khỏi những căng thẳng. Mỗi người sống với phẩm chất, tài năng, sự bất toàn, khuyết điểm và lầm lỗi của chính mình. Không thể nào chối bỏ cái làm nên chính mình, càng không thể tẩy xoá đi được. Xây dựng hiệp nhất, không phải là chối bỏ những cái làm nên ta, càng không phải là trông đợi người kia phù hợp với hình ảnh mà ta đã tưởng tượng ra về người đó. Cũng không phải là sự tan biến trong người đó. Phải chấp nhận có những căng thẳng. Việc phải làm là, bằng và với những căng thẳng đó, xây dựng một cách tích cực sự hiệp nhất.

Trong lứa đôi, mỗi người thay đổi và tiến triển. Tuy nhiên về cơ bản, người nào vẫn còn nguyên vẹn người đó, với lịch sự, tính khí, phẩm chất và khuyết điểm của mình. Vẫn giữ sự khác biệt, mỗi người tự khẳng định và tự hoàn thiện trong sự hiến dâng cho nhau. Tình hình có thể diễn biến tốt hơn hay xấu hơn.

Tình yêu thật là một cuộc đối thoại : đối thoại giữa hai con người đối diện nhau, chọn lựa nhau, làm tất cả để kết nối với nhau và hiệp nhất sâu xa, cho dù đôi khi có căng thẳng.

3. Yêu thương nhau trọn đời :

     Tình yêu Thiên Chúa là vĩnh cửu : Chúa luôn trung thành. Tình yêu của Ngài bền bỉ. Ngài chờ đợi và sau cùng chiến thắng bằng tình yêu (Hs 2, 21 – 22). Tình yêu con người cũng trung thành và trải qua thực tại đó. Kết hôn với một người trong một thời gian, lại muốn kết hôn với một người khác nếu thích : đó là từ chối dấn thân, là giết chết tình yêu được dựng nên để tồn tại.

 Hiệp thông con tim và sự tự do không do qui chế, cũng không được thực hiện ngày một ngày hai. Nó đòi hỏi kiên nhẫn và phải bắt đầu lại. Nó đòi hỏi hy vọng và tha thứ vì tha thứ là cách đón nhận kẻ khác như họ đang là họ. Phải biết lật trang khác và không được thù hằn. Chúng ta sống với hiện tại và cả với tương lai. Chúng ta luôn luôn hối hả. Chúng ta muốn tất cả và ngay tức khắc. Chính vì vậy mà nhiều người không hài lòng hôn nhân của mình và đi tìm “nơi khác”, trong lúc đó nguyên nhân làm họ không hài lòng thì thường ở trong họ, trong trái tim họ.

Hôn nhân không phải chỉ một lần cho tất cả mọi ngày. Phải chọn lại nhau mỗi ngày để mỗi người có thể thật sự trung thành, để mà xây dựng tổ ấm gia đình.

4. Nhân chứng tình yêu :

     Bí tích hôn phối mời gọi hai người minh chứng tình yêu trong suốt cuộc đời của mình. Các cặp vợ chồng chứng minh tình yêu này khi họ yêu nhau bằng cả con tim và khi họ chăm chút cho nhau trong một thái độ tin cậy, trong sự dịu dàng, kiên nhẫn và tha thứ cho nhau.

Tình yêu trong quan niệm Công giáo mở ra những chân trời rộng lớn. Ta đừng ngạc nhiên về những xác quyết của Giáo hội : vợ chồng được mời gọi yêu nhau như Chúa Kitô yêu Giáo hội và phải là một phản chiếu tình yêu của Chúa Kitô . Ở đây ta thấy Giáo hội đòi hỏi đối với tình yêu con người. Chung cục, cũng chỉ vì muốn xứng đáng với Chúa Kitô : tha nhân là Chúa Kitô. Chính vì vậy, đôi khi Giáo hội can thiệp để nhắc nhở cho con người dự phóng của Thiên Chúa trên tình yêu loài người. Đối với tín hữu, Giáo hội nhắc nhở ý nghĩa bí tích hôn nhân dành cho đôi vợ chồng.

     Yêu như Chúa Ktô đòi buộc, chính là thuộc về sự thật : “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa.” (1 Ga 3,18- 19). Sự thật này là Chúa Kitô đang sống nơi ta. Gặp anh em, chồng, vợ, có nghĩa là gặp Chúa Kitô.

5.- Con cái : khách mời của tình yêu

Tình dục con người được hiểu trong chiều kích quan hệ, sự dịu dàng, vui tươi và sự hài lòng bao gồm cả sự triển nở trong đời sống giao hợp. Ơn gọi của người tín hữu trong đời sống hôn nhân đi thật xa : sự giao hợp giữa vợ chồng đi xa hơn chính bản thân họ, đó là lời kêu gọi sự sống. Khi người này hiến thân cho người kia, đôi vợ chồng sẽ tạo dựng nên một con người thật là đứa trẻ. Đứa trẻ chính là một phản chiếu sống động của tình yêu, dấu chỉ thường trực của sự hợp nhất vợ chồng, là một tổng hợp sống động không thể phân lìa giữa người cha và người mẹ. Sự sinh sản của lứa đôi nằm trong dự định của Thiên Chúa về tình yêu con người. Mỗi cặp vợ chồng được mời gọi thực hiện dự định này tùy theo khả năng yêu thương, đón nhận, giáo dục. Trở thành cha mẹ nghĩa là có trách nhiệm mở ra cho con cái tất cả những nét đẹp, sự chân thật, điều tốt lành, cũng như tất cả những gì là dấu hiệu thấy được của tình yêu Thiên Chúa : “nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” (Ep 3, 15).

     Tuy nhiên, trong những trường hợp không thể sinh sản, đời sống vợ chồng vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Việc đôi vợ chồng chấp nhận sự vô sinh của mình có thể dẫn đến những cách thức khác để biểu lộ tình yêu. Xin con nuôi, giúp đỡ những gia đình khác, giúp các trẻ bất hạnh ….

6. Gia đình : Sự hiệp thông giữa người và người

     Trong hôn nhân và trong đời sống gia đình xuất hiện những mối quan hệ giữa người với người: quan hệ giữa vợ chồng, cha đối với con, mẹ đối với con, con cái đối với cha mẹ, anh chị em đối với nhau. Qua những mối quan hệ khác nhau đó, mỗi người được mời gọi lớn lên và đứng vào vị trí của mình trong “gia đình tự nhiên” và trong “gia đình Thiên Chúa” là Giáo hội .

    Gia đình được mời gọi trở nên cái nó phải là : cộng đồng của sự sống và tình yêu.

Bốn nguyên tắc lớn để đạt được mục đích này :

- Khuyến khích một cộng đồng đích thực bằng cách để tình yêu dẫn dắt.

- Thực sự phục vụ đời sống trong hai khía cạnh truyền sinh và giáo dục con cái.

- Tham gia phát triển xã hội và làm nhiều việc để có công bằng hơn.

- Đứng vào vị trí của mình trong cuộc sống và trong sứ vụ của Giáo hội : Mỗi gia đình Công giáo là một tập thể người tin và truyền bá Tin Mừng, một tập thể đối thoại với Thiên Chúa , nhất là trong kinh nguyện và phụng vụ, một tập thể đối thoại với tha nhân và phục vụ tha nhân.

CÂU HỎI BÀI SỐ 15

Bạn hãy chọn một trong hai câu hỏi sau đây :

1.- Là người Kitô hữu, ta tin chính Chúa Kitô hợp nhất lứa đôi, gia đình, tập thể hay nhóm mà ta là  thành viên. Chúng ta được tập hợp nhân danh Chúa Kitô. Niềm tin này là động cơ  cho mọi hành động  của chúng ta, đồng thời niềm tin này cũng khích lệ chúng ta cách cụ thể. Bạn có thể chia sẻ kinh nghiệm thực tế của bạn về điều này không ? (bạn chọn một trong 4)

3.- Dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay những điển hình cụ thể, bạn cho biết gia đình là một trường học thực sự làm giàu cho con người như thế nào ? Với những điều kiện nào ?    


Bài 15 - BÀI ĐỌC THÊM

LIÊN HỆ BÍ TÍCH   (Chan. J. Etienne)

Tình yêu vợ chồng cam kết cho nhau không phải chỉ là một nhiệm vụ mà trước hết là một ân sủng. Chính Chúa Kitô đã ban họ cho nhau. Mỗi người nhận từ người kia phần của Ngài và trong sự đón nhận này, chính Thiên Chúa đã được ban cho họ yêu thương.

 Mầu nhiêm Kitô, trước hết chính là tình yêu của Thiên Chúa dành cho con cái mình : chính đáp lại ân sủng này mà đến lượt họ, họ yêu nhau. Điều đó đặc biệt có thật trong liên hệ vợ chồng, một liên hệ cao siêu có sự hiện diện trung thành của Thiên Chúa. Như vậy, vợ chồng tìm nơi Ngài nền tảng chắc chắn nhất để trung thành với nhau.

Bí tích không ban ân sủng trong chốc lát, không chỉ là việc nói tiếng “vâng” đầu tiên thừa nhận giao ước. Ân sủng ấy tác động toàn bộ cuộc sống. Nó giống như số vốn phải được sinh lợi trong suốt cuộc đời.

 Tình yêu vợ chồng thường được mời gọi sản sinh ra những con người mới. Nhiệm vụ và quà tặng một lần nữa không rời nhau. Chính khi sống sự hiệp thông gia đình, với những niềm vui và nỗi buồn, thành công và thất bại, mà người Kitô hữu tham dự tích cực vào việc xây dựng Nước Trời.

TÌNH YÊU BẮT ĐẦU TỪ NGÔI NHÀ   ( MẸ TÊRÊSA)

Nếu ngày nay thế giới đang ở trong tình trạng hỗn độn và đau khổ như vậy, theo tôi hình như do một khuyết điểm tình yêu nơi gia đình và trong đời sống gia đình. Chúng ta không có thời gian cho con cái chúng ta, chúng ta không có thời gian cho người khác, chúng ta không có thời gian để ngồi lại với nhau. Nếu chúng ta có thể sống đời sống ở Nazaret của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, nếu chúng ta có thể biến căn nhà chúng ta thành một Nazaret khác, tôi tin rằng hoà bình và niềm vui sẽ ngự trị trong thế giới chúng ta.

Tình yêu bắt đầu từ ngôi nhà. Tình yêu sống trong các hộ gia đình. Bởi vậy ta hiểu tại sao thế giới ngày nay nếm bao đau khổ và ít hạnh phúc như vậy . Chúa Giêsu sẽ nói với chúng ta như Ngài từng nói, nếu ta lắng nghe Ngài : “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”. Ngài đã yêu thương chúng ta qua đau khổ và chết vì chúng ta trên thập giá. Nếu chúng ta muốn yêu thương nhau, nếu chúng ta muốn đem tình yêu này vào trong đời sống, chúng ta phải bắt đầu từ gia đình. Chúng ta phải làm cho ngôi nhà chúng ta thành những trung tâm của lòng trắc ẩn và không bao giờ ngưng tha thứ. 

Ngày nay, dường như người ta bị cuốn vào sự vội vã khủng khiếp, vào sự ưu tư tăng trưởng, vào việc kiếm tiền, đến nỗi con cái không có thời gian dành cho cha mẹ, và cha mẹ không có thời gian dành cho nhau. Hoà bình thế giới rạn nứt bắt đầu từ gia đình.

Những người yêu thương nhau trọn vẹn và thực sự là những người hạnh phúc nhất trên đời. Ta thấy rõ điều đó ngay cả nơi người nghèo khổ nhất. Họ yêu thương con cái, họ yêu tổ ấm gia đình. Họ có rất ít hoặc hầu như không có gì cả, nhưng họ hạnh phúc.


HÃY BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI & TINH THẦN

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

I. Vấn đề môi trường không hề là vấn đề mới mẻ, nhưng gần đây lại trở thành thời sự nóng bỏng trên thế giới. Từ lâu người ta đã  nói tới nguy cơ của việc phá hoại thiên nhiên và làm ô nhiễm môi trường đối với trái đất và đời sống con người. Chẳng hạn việc phá rừng đưa tới những trận lũ lụt ngày càng nhiều và hung hãn hơn, kéo theo sạt lở đất cũng như hiện tượng sa mạc hóa do đất bị xói mòn và xuống cấp; phá rừng không thương tiếc cũng  là một nguyên nhân của tình trạng thiếu nước sinh hoạt và nước uống tại nhiều quốc gia, do nguồn nước ngầm bị giảm và các dòng sông bị ô nhiễm. Nói gì xa xôi, hãy cứ nhìn vào nước ta thì thấy ngay.

Nhưng hiện nay, nguy cơ đang được Liên Hiệp Quốc, các chính phủ, các tổ chức bảo vệ môi trường và các đảng xanh báo động ở mức khẩn cấp là sự biến động chưa từng có về khí hậu. Mới đây ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon đã  cảnh báo: “Nếu chúng ta không hành động bây giờ, hậu quả của tình trạng thay đổi khí hậu sẽ rất thảm khốc.” Trái đất đang nóng lên do chính con người gây ra, đó là điều không thể chối cãi. Theo Tổ Chức Khí Tượng thế giới, “nhiệt độ bề mặt toàn cầu từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2007 gần như được xếp vào mức ấm nhất kể từ … năm 1880.” Nhiệt độ tăng lên thì cái gì xảy ra? Mực nước biển sẽ dâng cao hơn do lớp băng trên Bắc Băng Dương tan giá. Hiện nay người ta đã tính toán cho thấy từ năm 1953-2006, lớp băng này đã suy giảm khoảng 7,8% mỗi thập niên. Nếu không làm gì để ngăn chận tình trạng này, nước biển sẽ có thể dâng lên 0,5m đến 1m vào năm 2100 (hiện nay đã là 0,4m rồi). Cao hơn 1m, nhiều nước sẽ mất đi nhiều vùng lãnh thổ, nhiều thành phố lớn nhất thế giới sẽ biến mất, hàng triệu người lâm nguy.

Bây giờ đáng lý tất cả các nhà hoạch định chính sách kinh tế của mọi nước phải thấy rõ là không thể tăng trưởng kinh tế với bất cứ giá nào, không thể hy sinh môi trường cho kinh tế. Vả lại, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên có liên quan trực tiếp tới kinh tế. Nhất là nó liên quan tới sức khỏe, tới chất lượng cuộc sống và cả  tính mạng của con người. Ngoài ra, nó còn mang ý nghĩa đạo đức nữa. Trái đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên không thuộc riêng về các thế hệ hiện tại, nhưng các thế hệ tương lai cũng có quyền thụ hưởng như họ.Người ta phải khai thác và giữ gìn nó trong tinh thần trách nhiệm. Đối với người Kitô hữu, đó còn là một sứ mạng do chính Chúa Tạo Hóa giao phó cho. Nhà văn Pháp Saint-Exupéry nói: “Chúng ta không thừa hưởng trái đất này từ cha mẹ chúng ta, mà vay mượn nó từ con cháu chúng ta.”

II. Việc bảo vệ môi trường thiên nhiên, như thế, là vô cùng quan trọng. Nhưng bảo vệ môi trường xã hội và môi trường tinh thần (đạo đức) cũng rất quan trọng, còn quan trọng hơn. Vật chất, tiện nghi, tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng GDP …chỉ là một điều kiện, nói cho cùng là rất tương đối, không thể là yếu tố quyết định hạnh phúc con người, không thể tự nó làm tăng chất lượng cuộc sống, nói gì tới việc gia tăng “tính người”, “chất người” cho ta. Việt Nam mở cửa hội nhập thế giới, lấy kinh tế thị trường thay cho kinh tế bao cấp vô hiệu, đó là điều đáng mừng. Chúng ta đang được hưởng bao nhiêu điều tốt đẹp do chính sách mới đó. Nhưng đồng thời cũng không được coi thường sự suy thoái của môi trường xã hội và đạo đức hiện đã rất trầm trọng. Nhiều mảng văn hóa, nhiều mảng truyền thống tốt đẹp của dân tộc đang bị đe dọa, thậm chí đã rơi rụng trước ảnh hưởng xấu của nền văn minh vật chất hưởng thụ và thực dụng đang tràn vào mà xem chừng khó có gì ngăn chặn hữu hiệu.

Tôi xin nhắc tới cuộc tranh luận thời sự nóng hổi trên báo chí Việt Nam hiện nay, về hiện tượng được gọi là “cuộc giải phóng tình dục” trong giới trẻ (hay một bộ phận của giới trẻ?). Những người trẻ này coi việc quan hệ tình dục dễ dàng, tự do, trong tình yêu hay ngoài tình yêu, trong hôn nhân hay ngoài hôn nhân là một chuyện tự nhiên, thoải mái, không nhất thiết phải kín đáo, lại còn cho như thế là hiện đại, hợp thời. Qua theo dõi trên báo chí, tôi thấy số đông (ngay trong giới trẻ) không đồng tình với quan niệm trên. Những bậc cha mẹ, những nhà giáo dục nên lên tiếng chống lại hiện tượng trên khi mới manh nha nhưng đang muốn được xã hội coi là nhu cầu bình thường của tuổi trẻ. Xin đừng ngại bị coi là cổ hũ, lỗi thời. Không phải tất cả cái “mới” đều là tốt cả, không phải tất cả những cái có “xưa nay” đương nhiên là xấu hay lạc hậu cả. Cái lập luận coi nhu cầu sinh lý giống như việc ăn, việc uống, việc ngủ nghỉ v.v. là hoàn  toàn  sai. Ta không ăn, không uống lâu ngày ta sẽ chết, nhưng không ai chết vì không có quan hệ tình dục cả. Chỉ có tình yêu thì ai cũng phải có, không thể thiếu. Vả lại, ngay cái ăn, cái uống, cái mặc, việc giải trí, v.v. không còn là cái đơn thuần bản năng, mà là văn hóa. Ăn không phải chỉ để no bụng, mặc không phải chỉ cho ấm, nhưng ăn gì, ăn thế nào, nấu nướng ra sao, bày biện thế nào, ngồi ăn với ai, cầm đũa hay cầm xiên muổm hay bốc bằng tay …đều là văn hóa và nhu cầu của con người cả. Rồi trong mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa còn có những nét riêng nữa. Về  các nhu cầu căn bản khác cũng vậy.Truyền thống văn hóa không bất di bất dịch, nhưng những giá trị đích thực thì không có tân, có cổ gì hết.

Cái gọi là giải phóng tình dục đã xảy ra bên phương Tây nhiều thập kỷ rồi. Nó có thực sự giải phóng con người không thì lại là chuyện khác. Lạ thay, sau khi được sống hoàn toàn thoải mái theo cuộc giải phóng tình dục, nhiều người trẻ vẫn thấy trống rổng, cô đơn, chán chường, và ở một ít nước, trong một thời gian, có hiện tượng người trẻ tự tử gia tăng. Khi sự tự do trong đời sống tình dục đã trở thành phổ biến và bình thường (không bị xã hội đặt vấn đề nữa), người Tây phương dần dần nhận ra những mặt trái của nó, và nhiều giá trị truyền thống như gia đình, lòng trung thủy, sự hy sinh cho con cái… lại được đề cao.

Người Việt Nam ta đang say sưa với sự phát triển kinh tế, chưa ý thức về nguy cơ của nạn ô nhiễm môi trường thiên nhiên; còn về ô nhiễm xã hội và tinh thần, họ có biết đến nhưng hình như rất ít quan tâm. Nhưng sự tàn phá của thứ ô nhiễm này còn  đáng lo sợ hơn!