Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 15: Cuối hành trình Phúc âm: Khởi đầu Tin Mừng

Chương cuối cùng của Tin Mừng Mác-cô không triển khai một kết thúc có hậu . Đức Giêsu đã chết, tỏ mình ra như một Đấng Đang Sống và như một Sứ Giả. Nhưng cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu thì được gợi ra rất ư thận trọng: Mác-cô chỉ dành riêng 8 câu (16, 1-8) kể lại lần thăm viếng mộ của những phụ nữ và lời nhắn gửi nhờ họ truyền đi. Đây chắc chắn là chuyện kể lâu đời nhất về biến cố phục sinh. Còn 12 câu tiếp sau(16,9-20), dù không trực tiếp gắn kết với sự kiện trước đó, nhưng chắc hẳn rằng chúng được thêm vào sau này trong tác phẩm của Mác-cô (bút pháp khác, từ ngữ khác).

                      Chúng ta cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của lời nhắn ấy. Thông điệp đó, đối với chúng ta ngày nay, còn thực sự là lời đem lại niềm hy vọng không?

THÔNG ĐIỆP PHỤC SINH. (16, 1-8)

                      Mác-cô kể lại, vào ngày chủ nhật, ba người phụ nữ đến viếng mộ để xức dầu thơm lên xác của Đức Giêsu. Cả ba đều quay trở về, không dám ở lại trong chốc lát vì sợ hãi.

c. 1     : Ngày Sabbat chấm dứt khi mặt trời lặn. Thế nên đây là buổi chiều mà họ đi mua dầu thơm để ướp xác Đức Giêsu.

c. 2     : Các bà lên đường ngay khi trời rạng sáng (ngày thứ ba sau khi Đức Giêsu chết, vào khoảng 3 hoặc 4 giờ).

           Những ghi chú này cũng mang một nghĩa biểu tượng về Tạo Thành Mới. Ngày mới đã bắt đầu, được chiếu sáng bởi mặt trời mới là ĐỨC KITÔ PHỤC SINH.

c. 3     : Các bà lo âu: “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi mộ cho chúng ta đây?”

           Sự bận tâm tuy muộn màng của các bà cũng giúp cho chúng ta cảm nhận được tầm quan trọng của những sự kiện sắp được trình bầy. Tảng đá là những gì đang phủ lên thế giới sự chết khiến người sống không nhìn thấy nó.

c. 4     : Nhưng các bà ngước  lên: tảng đá “đã được lăn ra”, ngôi mộ đã được mở ra. Thể văn thụ động muốn nói rằng những hành động đó là của chính Thiên Chúa.

c. 5     :Vào trong mộ (và có thể hiểu là: vào trong mầu nhiệm của cái chết), các bà khám phá ra “một thanh niên mặc áo trắng” ngồi bên hữu (nghĩa là: chỗ danh dự, x. Lc 1, 11). Sự sáng chói nơi y phục của người đó diễn tả đặc tính nhiệm mầu của hữu thể đó (x. 14, 62).

           Các bà “hoảng sợ”, nghĩa mạnh hơn là sợ hãi. Đó là tâm trạng của một người đang đối diện với một cái gì đó hoàn toàn mới (ở đây là sự hiện diện của Thiên Chúa), và  sự kiện đó làm cho nhận thức của chúng ta phải lên tiếng.

c. 6-7: Nhưng “người kia” trấn an: “Các bà đừng sợ”. Người thanh niên nhắn gửi các bà một thông điệp ngắn vừa là một mặc khải vừa là một lệnh truyền lên đường.

Một mặc khải: “Các bà tìm Đức Giêsu Nazarét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã chỗi dậy rồi, không còn ở đây nữa.”

Một lệnh truyền lên đường: “Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phêrô rằng: “Người sẽ đến Galilê trước các ông”. Đấng Phục Sinh gợi ra cho các môn đệ về miền đất mà ở đó, lần đầu tiên, Người đã tỏ mình ra và đã kêu gọi họ theo Người.

Chính lúc này mà lời kêu gọi khởi đầu ấy tràn đầy ý nghĩa.

c. 8     : Nhưng các bà chạy trốn, run lẩy bẩy và chẳng nói gì với ai. Chúng ta hiểu sự thinh lặng của các bà như thế nào ? Trung thành với quan điểm của Người (biết bao lần Đức Giêsu đã truyền cho các nhân chứng của Người phải giữ thinh lặng?), Mác-cô cho thấy rằng con người  luôn ở trong tình trạng thiếu hiểu biết về mầu nhiệm Đức Giêsu.

           Và ngay cả bấy giờ Đức Giêsu đã phục sinh, Người vẫn để cho những người nhận thông điệp phải sợ hãi nhằm giúp họ ý thức (như những phụ nữ) về tính nghiêm túc của hành vi đức tin qua đó mời gọi Thiên Chúa quyết định can thiệp và tuôn đổ trọng trách trên họ.

NHỮNG LẦN HIỆN RA CỦA ĐẤNG PHỤC SINH (16, 9-20)

                       Phần đoạn này (16, 9-20) không phải do Mác-cô viết, tuy nhiên nó làm thành một phần  của Tin Mừng thứ hai này (người ta gọi nó là “quy điển cuối cùng”). Phân đoạn này gồm 4 đoạn văn ngắn:

* Lần hiện ra với Maria Macđala (16, 9-11)

C. 9 tách lìa ra với những gì xẩy ra trước đó. Ở đây, Maria Macđala có một thái độ  ngược lại với đoạn văn trước đó...

* Lần hiện ra với hai người đi đường (16, 12-13)

            Chỉ bằng vài chữ , hai câu này (12-13) tóm tắt đoạn văn dài (Lc 24,13-35 ) nói về lần hiện ra của Đức Giêsu với hai môn đệ trên đường Emmau, dĩ nhiên với vài khác biệt, ví dụ: các môn đệ thiếu niềm tin ở câu 13.

* Lần tỏ mình ra cho Nhóm Mười Một (16, 14-18)

            Phân đoạn này gần với những gì Luca tường thuật (24, 36-53), nhấn mạnh đến sứ vụ được giao phó cho các môn đệ. Đức Giêsu trách Nhóm Mười Một về sự hoài nghi và khơi gợi  đức tin nơi họ. Tính toàn cầu hóa của sứ vụ được Đức Giêsu trao phó phải được loan đi với ý thức rằng Giáo Hội đã nhận lãnh trách nhiệm loan báo Tin Mừng đến với dân ngoại. Những dấu chỉ đi kèm theo những ai có lòng tin biểu lộ sự hữu hiệu của Lời và của Tin Mừng.

* Đức Giêsu được đưa lên trời và bước đầu rao giảng (16, 19-20)

            Thăng thiên là lời loan báo được hình tượng hóa về vinh quang và sự lên ngôi của Đức Giêsu kề bên Thiên Chúa (x. Êlia được cất nhắc lên trời: 2V 2, 9). Còn về phần Nhóm Mười Một, các ngài ra đi rao giảng khắp nơi.

            Đức Chúa ở cạnh các ông trong các hoạt động truyền giáo, Người hoạt động với các ông  và  làm cho Lời nên hữu hiệu.

 BÀI  TẬP 
ĐỌC Mc 16, 1-8: Ngôi mộ trống

      a) Ở câu 1 và 2, hãy lưu ý đến mốc thời gian. Sự kiện đó xẩy ra khi nào?

       b) Vài mốc thời gian nói đến ngày  xẩy ra sự kiện đó.

            Những dấu hiệu đó gợi ra cho chúng ta điều gì?

       c) Vài mốc thời gian nói về lúc xẩy ra sự kiện đó

            Những dấu hiệu đó gợi ra cho chúng ta điều gì?

1.   Hãy xác định vị trí của 3 thời điểm chính yếu trong chuyện kể:

a)     Vị trí ban đầu (Vị trí đó diễn tả điều gì?)

b)     Phần chính của câu chuyện.

c)     Vị trí sau cùng.

3.   Câu chuyện với cấu trúc về ba thời điểm dạy ta điều gì trong cuộc sống hiện tại  ?