Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 15: Cuộc thọ hình của Đức Giêsu cùng các mầu nhiệm phục sinh, thăng thiên và hiện xuống

“ Đức Giêsu nói: Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra, đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật đều nghe được tiếng tôi.” (Ga 18,37)

1. NHỮNG NGUYÊN NHÂN ĐƯA ĐẾN CUỘC THỌ HÌNH

1.1 Về mặt xã hội

Xã hội Do Thái trong thời Đức Giêsu là một xã hội suy đồi về mọi mặt, kể cả trong lãnh vực tôn giáo. Giai cấp lãnh đạo thì phò theo chính quyền đô hộ của người Rôma. Các chức sắc trong đạo như tư tế, pha-ri-sêu, kinh sư thì sống giả hình, độc đoán gian tham, chỉ lo lợi dụng cơ chế và lề luật của đạo để mưu cầu tư lợi. Bởi vậy, những lời rao giảng của Đức Kitô trong hoàn cảnh đó đúng là một thử thách cam go, khiến Người phải đụng chạm và đương đầu với một cơ chế xã hội đi ngược lại với lời rao giảng của Người. Điều quyết định làm cho Người bị kết án tử hình, đó là vì người xưng mình là Con Thiên Chúa.

Tư tưởng về những lời rao giảng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa qua cách giảng dạy cũng như phong thái nổi bật của Đức Giêsu đã làm cho đa số các tầng lớp thế quyền ở Do Thái phẫn nộ, thù ghét và từ đó dẫn đến việc họ cùng chung ý muốn phải diệt trừ Người (Ga 10,22-39).

Khi Đức Giêsu xưng mình là Thiên Chúa và đồng bản tính với Thiên Chúa thì đúng ra Người phải bị tòa án tôn giáo tối cao của xã hội Do thái kết án tử hình về tội lộng ngôn, phạm thượng rồi. Nhưng vì dân Do Thái thời đó đang bị mất nước trong tay người Rôma nên tòa án của họ không có quyền lên án tử hình cho môt tội nhân nào, vì vậy mà họ phải thay đổi kế hoạch giết Đức Giêsu bằng cách thay đổi vấn đề tôn giáo sang lãnh vực chính trị để chuyển sang tòa án Rôma cho quan toàn quyền Phongxiô Philatô xét xử với tội danh làm loạn. (Ga 18,28)

1.2 Về mặt siêu nhiên

Vì ông bà nguyên tổ phạm tội không vâng lời Thiên Chúa nên sau đó, loài người bị trầm luân khốn khổ. Và cũng từ đó, con người hướng chiều về sự dữ, trở thành đối nghịch với Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa là Đấng nhân lành, vẫn xót thương người thế nên đã cho Con Một là Ngôi Hai xuống làm người, để nối lại tình nghĩa giữa Thiên Chúa chí thánh và loài ngườitội lỗi. Đức Giêsu đã thực hiện chương trình cứu chuộc này trong ba năm đi rao giảng Tin Mừng và truyền đạo cho dân chúng, chỉ dạy cho thế gian biết đường tìm nối lại mối dây ân tình đã bị phá vỡ. Cuối cùng Người đã hoàn tất sứ mạng chuộc tội bằng cái chết trên thập giá như một tội nhân, vì Người muốn hiến mình làm lễ hy sinh đền tội cho mọi người.

2. MẦU NHIỆM PHỤC SINH

Đây là mầu nhiệm Đức Giêsu sống lại từ cõi chết. Ngay khi còn đi rao giảng, Người đã báo trước sự sống lại này:
“ Chúa Cha yêu mến tôi chính vì tôi hy sinh mạng sống để rồi lấy lại. mạng sống của tôi không ai lấy đi được nhưng chính tôi hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được.” (Ga 10,17-18)

Người tín hữu chỉ đích thực là kitô hữu khi biết làm cho đời mình, cho tâm hồn mình có liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu phục sinh. Đây là nền tảng đức tin và là điều kiện cần thiết để được ơn cứu độ:

“ Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ.” (Rm 10,9)

Thánh Phaolô viết :” Nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng… Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hêt mọi người.” (1Cr 15,14-19)

2.1 Bằng chứng về sự phục sinh

2.1.1 Hiện tương mồ trống
Tin mừng theo Thánh Mác-cô đoạn 16, từ câu 1 đến câu 8 tường thuật về ngôi mộ trống.
2.1.2 Các nhân chứng đã gặp Đức Kitô phục sinh
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã nhiếu lần hiện ra với các môn đệ và truyền lệnh cho các ông phải đi rao giảng Tin Mừng. Đây là những lần hiện ra :

· hiện ra với bà Maria Mácđala và một bà Maria khác (Mt 28,1-10) ; (Ga 20,11-17)
· hiện ra ở Ga-li-lê với 11 môn đệ, trao cho các ông sứ mạng tông đồ (Mt 28,16-20)
· hiện ra với hai môn đệ trên đường Em-mau và 11 tông đồ (Lc 24,13-49)
· hiện ra với các môn đệ trong phòng kín và trên biển hồ Tibêria (Ga 20,19-30 ; 21,1-14), đặt ông Phêrô đứng đầu Giáo Hội (Ga 21,15-25)

3. Ý NGHĨA CỦA MẦU NHIỆM PHỤC SINH

3.1 Mầu nhiệm phục sinh là mặc khải về quyền hành của Thiên Chúa trên sự sống và sự chết.

3.2 Mầu nhiệm phục sinh mở ra cho loài người niềm hy vọng được sống lại và được hưởng phúc trường sinh :” Nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu sẽ đuợc Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu ‘ ( 1 Tx 4,14)

3.3 Nội dung ơn cứu độ
Ơn cứu độ là ơn hồi phục sự sống đã bị mất vì tội nguyên tổ, nhưng nay nhờ cuộc thọ hình và phục sinh của Chúa Giêsu, sự sống ấy lại được ban cho. Nhờ ơn này, chúng ta đuợc sống trong tình nghĩa yêu thương của Thiên Chúa.

4. MẦU NHIỆM THĂNG THIÊN

Mầu nhiệm này dạy ta : Chúa Giêsu đã về trời và ngự bên hữu Chúa Cha. Các tác giả sách Tin Mừng ghi lại rằng sau khi sống lại và hiện ra nhiều lần với các môn đệ, Chúa Giêsu giao cho các ông sứ mạng đi khắp tứ phương rao giảng Tin Mừng và lập thành Giáo hội rồi qua bốn mươi ngày, Người lên trời trước mặt các ông (Mc 16,18 ; Lc 24,50-52 ; Cv 1,9-11)
Khung cảnh và cách thế Chúa Giêsu về trời là do ý Chúa Cha muốn tôn vinh Chúa Con và mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại. Đó là việc Hội thánh được thành lập và mỗi thành viên trong Hội thánh này có nhiệm vụ xây dựng một Nước Thiên Chúa ngay tại trần gian :

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em, để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20)

5. MẦU NHIỆM HIỆN XUỐNG

Mầu nhiệm hiện xuống là sự kết hợp giữa Ba ngôi thiên Chúa trong tình yêu mến của Ngôi Cha và Ngôi Con cùng với Ngôi Ba dành cho loài người. Trước giờ bị trao nộp, Đức Giêsu nói với các môn đệ :

“Thầy nói thật với anh em, Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng bào chữa sẽ không đến với anh em. Nhưng nếu Thầy đi thì Thầy sẽ gửi Đấng ấy đến với anh em.” (Ga 16,7)

Vậy mầu nhiệm Hiện Xuống không phải là sự kiện tách rời với sự kiện sống lại và lên trời của Chúa Giêsu. Sự hiện diện của Chúa Kitô giữa lòng Hội thánh ‘ mọi ngày cho đến tận thế” qua sự nâng đỡ và dìu dắt của Chúa thánh Thần chính là bằng chứng hiển nhiên về tình thương cứu độ.

Nhờ mầu nhiệm Hiện xuống, Giáo hội trần thế hôm nay không đơn độc, lạc lõng nhưng đầy tin tưởng vào sự hiện diện và hoạt động mạnh mẽ của Chúa Thánh thần:

“ Khi đến ngày lễ ngũ tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng nghe như tiếng gió ào ào vang dội khắp cả nhà nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra, đậu xuống trên từng người một và ai nấy đều đuợc tràn đầy ơn Thánh Thần. Họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho.” (Cv 2,1-4)

(Giáo lý đại cương cho người lớn- NXB Đức Tin & Văn Hóa 2004)

CÂU HỎI BÀI 15

Chúa Giêsu ban Thánh Thần lần đầu tiên cho các Tông đồ khi nào ? Dựa vào câu Tin Mừng nào mà bạn biết như vậy ?

 


Bài đọc thêm

BẢY LỜI SAU CÙNG CỦA CHÚA GIÊSU TRÊN THẬP GIÁ

1. “Lạy cha, xin tha thứ cho họ” ( Lc 23,24)

Câu nói đầu tiên của Chúa Giêsu trên thập giá là lời tha thứ, lời của một trái tim chan chứa yêu thương. Chúa chịu chết để xóa đi mọi tội lỗi của ta, để ta đuợc nên tinh tuyền và thánh thiện nhờ tình thương của Ngài (Ep 1,4). Dù tội lỗi của chúng ta có lớn lao đến mức độ nào chăng nữa thì cũng nằm trong tình yêu thương tha thứ của Ngài.

Trái tim biết tha thứ là trái tim của Thiên Chúa: một trái tim chấp nhận rỉ máu vì yêu thương để làm nên một cuộc sống mới.

Chúa tha thứ cho chúng ta cũng là mong chúng ta hãy biết tha thứ cho nhau (Lc 6,37 ; Mt 6,14-15). Không có gì là không thể tha thứ được với một tâm hồn muốn sống trong hạnh phúc yêu thương, như Chúa đã yêu thương chúng ta.

2. “ Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng “ ( Lc 23,43)

Chúa chết đi là để trao ban thiên đàng cho người tôi lỗi biết thật lòng ăn năn sám hối. Chúa mong muốn cứu rỗi ta còn hơn ta mong muốn. Hãy nói lên tiếng nói đón nhận Ngài từ chính con tim mình, để Ngài có thể trao ban cho ta tất cả.

Dù đang phải khốn khổ, nhưng người trộm lành vẫn biết hướng đến nỗi khốn khổ của người bên cạnh. Tấm lòng nhân ái đó đã giúp ông nhận ra Chúa Giêsu, Đấng biến nỗi đau thương của ông thành vinh phúc ngàn đời.

Một cách nào đó Chúa cũng đang chịu đau thương cùng với chúng ta, bên cạnh chúng ta. Đừng quay quắt với những nỗi đau của mình, nhưng hãy bước ra khỏi chính mình để nhìn xuống với tâm tình cảm thông với anh em, và nhìn lên với tấm lòng trông cậy vào Chúa.

Điều quan trọng không phải là những lỗi lầm, nhưng sự nhận thức và thái độ phía sau những lỗi lầm mới là đáng kể. Mọi sự đều tùy thuộc vào tấm lòng. Giữa những đau thương ta cần có được tấm lòng chân thật và khiêm tốn như người trộm lành.

3. “ Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26)

Qua Thánh Gioan, Chúa trối phú ta làm con Đức Maria, một người nữ tuyệt với có một không hai trong nhân loại. Mẹ là kho tàng thiêng liêng vô giá mà Thiên Chúa đã làm nên cho con người, là tình yêu thâm sâu và cao quí nhất của Chúa Giêsu mà Ngài trao lại cho ta. Hãy đón nhận ân ban bao la này với lòng cảm mến chan chứa suốt cuộc đời ta.

Qua Chúa Giêsu tử nạn, Mẹ sinh ra ta trong máu lệ và đau đớn nhục nhằn, trong trái tim bị đâm thâu tan vỡ, để cho ta một đời sống mới trong vòng tay yêu thương của Mẹ. Hãy phó thác tất cả cuộc sống cho Mẹ với lòng tin tưởng và tha thiết mên yêu.

Từ nay trên con đường bước đi theo Chúa với những vui buồn có Mẹ có con, sướng khổ Mẹ con chia sớt. Có Mẹ là có tất cả những gì con mơ ước. Với Mẹ mọi sự đều có thể. Nơi Mẹ mọi cái nơi con sẽ được tinh luyện trong sáng. Vì Mẹ con vui bước dấn thân sống cho mọi người. Trong Mẹ con tiến vào cõi hạnh phúc ngàn thu cùng với Chúa Giêsu.

4. “ Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46)

“ Eli! Eli! Lamma sabacthani? “ Tiếng kêu than này trong ngôn ngữ Do Thái phô diễn một mầu hiệm kinh khủng về sự kiện : Thiên Chúa từ bỏ Thiên Chúa. Thiên Chúa dường như không còn là Thiên Chúa nữa khi Ngài bị tước đoạt trần trụi vì tội lỗi chúng ta. Kinh nghiệm bỏ rơi cho thấy Chúa Giêsu đang ở mức độ tột cùng của mọi nỗi cô đơn: bị loài người từ bỏ không nói chi, nhưng dường như bị Thiên Chúa từ bỏ. Thiên Chúa vẫn có đó như mặt trời soi sáng ở không trung, nhưng áng mây đen dày đặc của tội lỗi nhân loại đã che kín sự hiện diện của Ngài. Dù còn những người thân yêu đứng bên cạnh, nhưng sự hiện diện của họ chẳng thể bù lấp phần nào sụ cảm nhận trống vắng Thiên Chúa trong tâm hồn. Điều đó cho hiểu rằng, khi con người đánh mất Thiên Chúa là niềm an ủi duy nhất của đời mình thì tình trạng sẽ ra kinh khủng như thế nào.

Trong nỗi đớn đau và cô đơn khủng khiếp Chúa Giêsu đã đền tội cho ba hạng người: hạng người từ chối Thiên Chúa; hạng người nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa; hạng người lãnh đạm với Thiên Chúa . Cả ba hạng người này đều hiển hiện một cách nào đó trong lối sống cùa mỗi người, và hậu quả bi thảm của nó mang tính cách nền tảng nhân sinh:

- Khi từ chối Thiên Chúa, đời sống của con người trở thành hư vô, và mọi sự trong đó chỉ còn phi lý và vô nghĩa, “ cuộc đời đáng nôn mữa” (Jean Paul Sartre)

- Khi nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa, con người trở nên nghi ngờ chính mình; không thể thiết lập tương quan với Thiên Chúa thì tương quan với tha nhân chỉ còn là vá víu; ý nghĩa và giá trị cuộc sống bị lung lay; bản thân con người dễ trở thành miếng mối ngon cho sự dữ hoành hành.

- Khi lãnh đạm với Thiên Chúa thì cuộc sống và mọi cái trong đó đều trở nên trơ trọi. Trong sự lãnh đạm đó, tình yêu không thể phát sinh, nên hạnh phúc cũng không thể thành hình. Trong tâm trạng đó mọi cái đều trở nên vô hồn, hoang vu và trống rỗng, và cuối cùng, con người sẽ là sự bế tắc cho chính mình. Chính vì thế mà tiếng kêu than của Chúa Giêsu đã vang lên từ trong cô đơn sâu thẳm của lòng người, cho con người và vì con người.

5. “ Tôi khát “ (Ga 19,28)

Trong đau đớn và tủi nhục, trong sầu thương và cô đơn tận cùng, Chúa Giêsu khao khát tình yêu. Chúa muốn nhận chịu tất cả vì tình yêu. Dù biết rằng yêu là châp nhận tang thương, đổ máu, Chúa cũng vẫn tha thiết yêu cho tới cùng, vì con người là chóp đỉnh công trình tình yêu của Ngài: “ Vì Ngài mà muôn vật được tạo thành”.

Mỗi người chúng ta nằm trong cơn khát của Chúa Giêsu. Tình yêu Ngài đã trút cạn cho ta, nên Ngài khao khát chính ta. Ngài đang chờ trái tim ta mở rộng cho nỗi khao khát của tình yêu Ngài. Lạ lùng thay! Một Thiên Chúa lại khao khát con người. Đó là điều không thể tưởng, nhưng có thật, cũng giống như mấu nhiệm Chúa làm người.

Thiên Chúa là tình yêu, mà tình yêu là cơn khát khôn ngưôi, là dòng chảy khôn xiết, là sức mạnh khôn lường, là sự da diết khôn tả. Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô là như thế trong cuộc đới mỗi người chúng ta. Có điều trớ trêu thay, nhiều khi chúng ta không dám tin là như vậy, nhưng thực sự mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa là như thế. Hãy tin ! Hãy cảm thụ cơn khát của Chúa Giêsu trên thập giá từ chính trái tim mình, để ta không còn sống bâng quơ và hững hờ trườc ngọn lửa tình yêu đang bốc cao như thiêu đốt chính Ngài trong cơn khát vô cùng.

6. “ Mọi sự đã hoàn tất” ( Ga 19,30)

Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi sự theo ý muốn của Chúa Cha trong kế hoạch cứu chuộc nhân loại. Ngài đã làm tất cả những gì cần phải làm của một trái tim yêu thương đến tận cùng. Ngài đã hoàn tất để chúng ta bước vào sự khởi đầu của một đới sống mới. Tuy nhiên một cách thiêng liêng vô hình, mỗi linh hồn xa lạc vẫn còn là một đồi Can-vê hành hình, mỗi tội phạm vẫn là một thập giá mới treo thân Chúa não nề.

Con người và thập giá là hai hình ảnh không thể tách rời trong cuộc sống nhân loại. Ngày nào con người còn là thập giá còn. Con người không thể coi thập giá như sự đối chọi nghiệt ngã của cuộc sống mình, nhưng phải coi như một sự tương tác để tồn tại và hình thành chính mình trong một sự sống mới mà Chúa Giêsu đã làm nên. Con người và thập giá, tuy không tương đồng tương ứng, nhưng tương khắc tương sinh theo cách thức của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã rời khỏi thập giá để cho ta bước lên, không phải thập giá của hận thù nhưng là thập giá của tình yêu, không phải thập giá của người tử tội bị ruồng bỏ trong cô đơn nhưng là thập giá của người công chính được ôm ấp vào lòng của Thiên Chúa. Đó là thập giá của niềm vui và ân phúc, thập giá của chiên thắng và vinh quang; không có chiến đấu thì không có chiến thắng; không có khao khát thì không có no thỏa; không dám chết thì không thể sống lại. Chúa sẽ thực hiện và bảo toàn mọi diễn biến đó trong cuộc đời ta, chẳng có gì phải lo sợ. Có ai lại lo sợ khi mình đang được yêu.

7. “ Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha “ (Lc 23,46)

Chúa Giêsu đã qui hướng mọi sự về Cha, đã trao phó tất cả cho Cha, và cuối cùng dâng trong tay Cha chính sự sống của mình. Rối “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí “ ( Ga 19,30)

Tâm tình hiếu thảo của Chúa Giêsu đã đạt đến mức độ tối hảo trong việc làm vinh danh Cha. Tình thâm nghĩa thiết thật cao dày khôn sánh, đẹp quá tình nghĩa cha con thật thắm thiết đậm đà. Cha được rạng rỡ nơi Con , Con được tôn vinh nơi Cha, và Thánh Thần là tình yêu kết nối trong sự hiệp thông duy nhất. Nhiệm cục cứu độ là công trình tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi muốn kết hiệp mọi người nên một trong sự sống Thần Linh Thiên Chúa bây giờ và mãi mãi.

Nhờ Chúa Giêsu, con xin phó thác cuộc đời con vào lòng thương xót của Thiên Chúa, với tất cả lòng tin yêu, thờ lạy và cảm tạ đến muôn đời. Amen.

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí