Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 14: Thư gửi tín hữu Côlôsê và thư Philêmôn

Các thư Phaolô viết cho tín hữu Ê-phê-sô, Cô-lô-sê và Phi-lê-môn vào các năm 61-63 được gọi là các thư “viết trong tù” vì Phaolô viết chúng từ tù ngục Rôma. Trong các thư này, Phaolô khám phá ra vị trí của Đức Kitô trong lịch sử và vũ trụ.

THƯ CÔ-LÔ-SÊ

Thư Cô-lô-sê đánh dấu một giai đoạn mới trong học thuyết của Phaolô. Phaolô tập trung trước tiên vào mầu nhiệm Đức Kitô. Phaolô viết thư Cô-lô-sê là do tín hữu muốn xếp Đức Kitô đồng hàng với vô số các quyền lực thần linh khác hơn là đặt Người giữa Thiên Chúa và nhân loại. Đối với Phaolô thì chính trong Đức Kitô xuất hiện ý nghĩa cao nhất của mọi loài do Thiên Chúa tạo dựng nên.

Đoạn mở đầu thư Cô-lô-sê 1,1-14 : Phaolô chào độc giả và tạ ơn về sự tiến triển của Tin Mừng trong tâm hồn tín hữu Cô-lô-sê. Ông cầu nguyện cho họ, để họ trổ sinh nhiều công việc tốt lành và lớn lên trong sự nhận biết Thiên Chúa (1,10).

Phần thứ nhất của thư là phần giáo thuyết 1,15 đến 2,5 : Lời cầu nguyện của Phaolô triển khai như một thánh thi (1,15-20) ca tụng Đức Kitô như là Đầu của vũ trụ và Hội Thánh. Toàn thể vũ trụ không có ý nghĩa đích thực ngoại trừ trong Đức Kitô: mọi vật đều đuợc tạo thành trong Người, bởi Người và cho Người (1,16). Bản thân Hội Thánh, trong sự hiệp nhất và tính hoàn vũ, được chiêm ngắm từ nội tâm của Đức Kitô. Hội Thánh là Thân mình của Đức Kitô. Đức Kitô và Hội Thánh làm nên một, như hình ảnh Thân thể đã chỉ ra, thân mình nối kết đầu và các chi thể (1,18-20).

Phaolô chất vấn độc giả cách sống động về việc họ tham dự vào ơn cứu độ do Thiên Chúa ban cho trong Đức Kitô: “cả anh em nữa, xưa kia anh em là những người xa lạ, là thù địch của Thiên Chúa vì những tư tưởng và hành động xấu xa xủa anh em. Nhưng nay nhờ Đức Giêsu là con người bằng xương bằng thịt đã chịu chết, Thiên Chúa cho anh em được hòa giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người”(1,21-22). Trong Hội Thánh, Đức Kitô thể hiện ngay từ bây giờ sự hiệp nhất của những gì bị phân tán trong giao ước cũ: dân được tuyển chọn và dân ngoại.

Phaolô gợi lên ở đây việc làm tông đồ Đức Kitô của ông (1,24-25). Qua sứ vụ tông đồ, Phaolô ưu tiên hàng đầu việc đưa công trình của Đức Kitô đến chỗ hoàn thành: “ Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã ủy thác cho tôi, liên quan đến anh em: đó là tôi phải lo rao giảng Lời của Người cho trọn vẹn” (1,25)

Phần thứ hai của thư bao gồm việc đề phòng giáo lý sai lạc 2,6 đến 3,4 : Phaolô đi đến điều thúc đẩy ông viết thư. Cộng đoàn bị đe dọa rơi vào tình trạng nô lệ những học thuyết rỗng tuếch và những thực hành mang tính cách con người. Nguy hiểm “đến từ sự suy lý dựa trên chủ thuyết Giu-đa (2,16) nhuộm màu tiểu thuyết Hi lạp hóa, điều thuận cho những quyền lực từ trời điều khiển sự vận hành vũ trụ một sự quan trọng quá đáng làm nguy hại đến tính tối cao của Đức Kitô (Bible de Jérusalem, Cerf 1973 p.1622). Phaolô nhắc lại rằng Đức Kitô hiệp nhất mọi người, giải phóng họ cùng lúc với mọi thế lực thế gian. Ở đây Phaolô đề cập tới những hệ tư tưởng muốn làm ô nhiễm học thuyết cứu độ. Ông gạt bỏ mọi Đấng cứu độ khác trừ Đức Giêsu, gạt bỏ mọi trung gian hòa giải trừ sự trung gian hoà giải của Đức Giêsu. Trong Đức Giêsu là sự viên mãn của tất cả những gì Thiên Chúa muốn ban cho con người, sự viên mãn mà con người cần đên. Qua phép Rửa, đuợc tháp nhập vào vinh quang của Đức Kitô (2,6-15), người tín hữu thât sự được tự do thoát khỏi mọi nô lệ hoá (2,16 – 3,4)

Phần thứ ba là lời khuyên nhủ (3,5 – 4,6). Phaolô mời gọi tín hữu Cô-lô-sê từ bỏ tội (3,5-9a) và để cho sự sống Chúa kitô tăng trưởng nơi mình (3,9b-11), một đời sống trong bác ái, bình an, đức tin, cầu nguyện không ngừng bởi Thánh Linh (3,12-17). Ngoại trừ những lời khuyên chung, Phaolô gửi  tới tín hữu Cô-lô-sê vài lời dạy riêng liên quan đến các bổn phận đời sống: đời sống gia đình và xã hội sẽ mang một ý nghĩa mới khi nó thấm nhuần “trong Chúa” (3,18 – 4,1). Phaolô cũng xin họ cầu nguyện cho công việc tông đồ của ông (4,2-4) và gửi cho họ vài chỉ thị về mối tương quan của họ với dân ngoại (4,5-6).

Phần kết thư (4,7-18) là một danh sách dài chào thăm và nhắn gửi cá nhân. Qua thư này chúng ta ghi nhận rằng Phaolô thành công trong việc đặt Đức Kitô trong tương quan với Thiên Chúa – và trong tương quan với nhân loại: Người là Đấng bởi Người và cho Người mà mọi sự được tạo thành. Đời sống nhân loại của chúng ta nhận được một ý nghĩa mới: bởi vì không có gì thoát ra khỏi ảnh hưởng của Đức Kitô, khi chúng ta xây dựng thế giới này, thì chúng ta cũng xây dựng Nước Thiên Chúa một cách nhiệm mầu. Từ nay trở đi, chúng ta phải sống như đã được phục sinh với Đức Kitô.

THƯ GỬI PHI-LÊ-MÔN 

Là thư ngắn nhất và mang tính cá nhân nhiều nhất trong các thư của Phaolô. Nó cho thấy cùng lúc tính khí của Phaolô và đời sống của một cộng đoàn trong thế giới dân ngoại. Phaolô tự tay viết cho một trong số những người trở lại (câu 19) là Philêmôn mà ông xem như một người bạn và một cộng sự (câu 1). Một trong số những nô lệ của Phi-lê-môn tên là Ô-nê-xi-mô - có nghĩa là hữu ích- trốn khỏi nhà ông. Phaolô gặp anh ta và rửa tội cho anh ta (câu 10), gửi anh ta về với chủ cũ và xin ông chủ đối đãi với anh ta như anh em và đề nghị phóng thích anh ta cách tế nhị (12-21). Ta nhận thấy sự tế nhị của Phaolô, ông không trút lên Phi-lê-môn sức nặng của quyền lực. Ông cầu xin , đề nghị, không áp đặt.

Qua lá thư cho ta thấy mối quan hệ giữa chủ và tớ này, chúng ta thấy cách Phaolô ứng xử với một trường hợp đặt biệt. Không nói lý thuyết về nô lệ, không dài dòng về thể chế, Phaolô nhìn thấy trong đức tin nguyên tắc của sự tự do thật và nguyên tắc phải điều chỉnh mối quan hệ giữa các kitô hữu. trong Đức Kitô, không còn nô lệ, không còn người tự do (Gl 3,28). Trước mặt Thiên Chúa và trong Đức Kitô, giữa lòng cộng đoàn “anh em”, tất cả đều bình đẳng. Phaolô không rút ra hậu quả trên bình diện đời sống dân sự.

CÂU HỎI BÀI 14

Đọc Cl 1,15-20 như một thánh ca về quyền tối thượng của Đức Kitô. Từ câu 15-17; giới thiệu vị trí và vai trò của Đức Kitô trong vũ trụ. Từ câu 18-20 giới thiệu vị trí và vai trò của Đức Kitô đối với nhân loại đã được hòa giải với Thiên Chúa, trong Giáo Hội. 

  1. Trong câu 15-17 vị trí và vai trò của Đức Kitô trong vũ trụ là gì ?
  1. Trong câu 18-20 vị trí và vai trò của Đức Kitô trong Giáo hội là gì ?
  1. Bạn hãy dùng đoạn văn này cầu nguyện. Bạn có thấy nó giúp bạn xác định sự thờ phượng, tạ ơn, niềm hy vọng của bạn không ?