Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 14: Mặc khải về Con Người và Con Thiên Chúa

“Đức Giêsu Kitô đã chịu chết vì chúng ta”, câu này muốn nói gì?

 Mác-cô trả lời: Cái chết và sống lại của Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta biết rằng Người là Đấng Cứu Độ, bởi Người vừa là Con Người vừa là Con Thiên Chúa.

“Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men” (14, 1). Câu chuyện được mở đầu bằng một lời dẫn giải mang tính lịch sử. Các thượng tế được quyết định tìm cách giết Đức Giêsu nhưng với sự cẩn mật vì họ sợ dân chúng (11, 18; 16, 6-7).

Chính cử chỉ của một phụ nữ giới thiệu với chúng ta về cuộc Thương Khó, và Đức Giêsu nhận ra ở đó như là sự báo trước về việc ướp xác Người (14, 8). Ngay từ giây phút này, chúng ta ghi nhận sự tham gia của phụ nữ vào đời sống của Đức Giêsu: lúc Người chết, khi Người được mai táng, vào rạng sáng Phục sinh (16, 1; 16, 6-7).

Trái ngược với nghĩa cử của người phụ nữ đó, Mác-cô đưa vào mạch văn ý định phản bội Thầy của Giuđa. Sự kiện diễn ra như một thảm kịch: Đức Giêsu bị giao nộp bởi những người thân thuộc của mình.

Cái khung của những biến cố này hẹp dần. Đức Giêsu một mình dùng bữa tiệc Vượt Qua với các môn đệ. Câu chuyện chuẩn bị mừng lễ đồ lại câu chuyện tiến vào Giêrusalem (11, 1-7).

Điều này cho ta thấy Đức Giêsu tự do hướng đến cái chết của Người và làm chủ các biến cố

“Chiều đến” (14, 17), Nhóm 12 tập họp lại. Đức Giêsu cho biết một người trong nhóm sẽ phản bội. Họ đâm ra buồn bã vì tất cả cảm thấy mình có liên quan đến lời tuyên bố: mỗi người tự khám phá ra mình có thể là kẻ sẽ phản bội Thầy: “chẳng lẽ con sao?” (14, 19).

Đức Giêsu sắp giao nộp thân xác và đổ máu mình ra cho chính cộng đoàn phản bội này . Lời của Đức Giêsu diễn tả ý nghĩa cái chết của Người: Người hiến thân mình, quà tặng mà qua đó cộng đoàn sẽ đạt được Nước Thiên Chúa. Nhưng cộng đoàn này quá yếu đuối: kinh nghiệm của thảm kịch (14, 27-29), của tan tác (14, 27), của chối bỏ (14, 30-31) giải nghĩa điều đó.

Đức Giêsu muốn cầu nguyện, nhưng các môn đệ không thể theo Người. Tuy nhiên, Người vẫn mời Phêrô, Giacôbê và Gioan, là những nhân chứng của cuộc biến hình và việc đứa con của ông Giaia sống lại, cùng tham gia cầu nguyện và canh thức với Người.

Nhưng rồi Đức Giêsu vẫn một mình đi cầu nguyện. Một cuộc vật lộn nội tâm xâm chiếm tâm hồn Người. Lần cầu nguyện này tựa như một cuộc chiến đấu. Một cuộc chiến đơn độc mà qua đó, Đức Giêsu cảm nghiệm được sự dằn vặt của sự yếu đuối trong thân xác giữa  từ chối và chấp nhận.

“Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể”. Một khi con người không còn  sức lực, thì Thiên Chúa ra tay hành động; và lúc ấy, Người làm tất cả: “Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn.” (14, 36).

 Các môn đệ vẫn đang say ngủ.  

“Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói” (14, 43), Giuđa tiến lại gần cùng với người của các thượng tế. Anh ta ôm hôn Người. Và Đức Giêsu ngạc nhiên thấy người ta xếp Người cùng hàng với quân trộm cắp, bởi chính Đức Giêsu tự do nộp mình cho con người và cho Thiên Chúa, cũng như  Người đã tự do hiến mình khi  giảng dạy.

Rồi các môn đệ bỏ trốn hết và Đức Giêsu rơi vào sự cô đơn triệt để.

Khởi đi từ đây, chuyện kể của Mác-cô diễn tiến sát với chương trình đã vạch sẵn trong lần loan báo thứ ba về cuộc Thương khó (10, 33-34). Trước hết, Đức Giêsu bị giao nộp cho các thượng tế, kinh sư và kỳ mục để cuối cùng bị kết án tử, còn Phêrô thì chối Thầy (14, 66-72).

Rồi Người bị giải đến chính quyền, tức đến quan Philatô. Sau khi bị đổi chác bằng tên cướp Baraba, Người bị nhạo báng, đánh đòn và bị dẫn đi đóng đinh vào thập giá (15, 1-20).

Có một cuộc tra hỏi nước đôi xẩy ra. Lần đầu trước mặt vị thượng tế và Thượng Hội Đồng:

*     Để kết án một người, ít nhất cần hai chứng cớ ăn khớp. Mác-cô ghi lại hai lần nhưng vẫn không có sự trùng khớp (14, 56-59). “Có vài kẻ đứng lên tố gian Người rằng: “chúng tôi có nghe ông ấy nói: Tôi sẽ phá Đền Thờ này do tay người phàm xây dựng và tôi sẽ xây một Đền Thờ khác, không phải do tay người phàm.” (14, 58)

Người chứng duy nhất là Đức Giêsu nhưng Người lặng thinh. Sự thinh lặng này khiến vị thượng tế đặt câu hỏi: “Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?” Đức Giêsu trả lời: “Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến”. (14, 61-62)

Trước xác quyết minh bạch về thiên tính hiện tại của Đức Giêsu, vị thượng tế đã phải kêu lên là nói phạm thượng đến Thiên Chúa. Kẻ nói phạm thượng phải bị ném đá. Hoặc, Đức Giêsu không bị ném đá nhưng bị giải ra pháp đình Rôma.

*  Philatô tra hỏi và các thượng tế tố cáo. Vụ kiện này mang mầu sắc chính trị. Đức Giêsu bị tố cáo là đòi danh hiệu “Vua dân Do Thái”. Kể từ giờ phút này trở đi, Đức Giêsu hoàn toàn im lặng. Chỉ có cái chết mới có thể mở ngõ cho dân ngoại nhận biết thiên tính của Người.

Điều mà thánh sử làm nổi bật, một mặt là sự vô tội của Đức Giêsu  trong mối liên hệ với các môn đệ cũng như trên bình diện tôn giáo và chính trị; mặt khác là sự bất lực cụ thể của con người trong việc nhận biết đích thực Người là ai.

Cuối cùng, người ta giao nộp và kết án Người; người ta hành hạ Người bởi người ta không thể chịu nỗi Người. Người ta sẽ giết Người bởi vì Người là Đấng Mêsia thật của Thiên Chúa, Đấng Mêsia đau khổ chứ không phải là  Đấng Mêsia như hình ảnh con người gán cho.

         Các biến cố vẫn liên tục tiếp diễn:

Con đường thập giá với sự giúp đỡ của Simon gốc Kyrênê và với sự hiện diện của những phụ nữ từ Galilê.

Đức Giêsu bị đóng đinh vào thập giá sau khi người ta lột bỏ quần áo của Người. Người còn hơn cả một người trần truồng bởi căn tính của Người chẳng còn ai quan tâm ngoài tấm bảng nhỏ ghi “Vua Do Thái” (14, 26). Đức Giêsu bị liệt vào hàng những người bị chúc dữ (Is 53, 12) với 2 kẻ trộm, một bên phải và một bên trái (hai nơi mà các con ông Zêbêđê thèm muốn (10, 37).

Hoàn toàn không được thấu hiểu , Đấng Mêsia đã bị loại trừ vĩnh viễn.

Bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín

Qua cụm từ mang tính biểu tượng này, Mác-cô nhắc nhớ lại rằng các ngôn sứ quan niệm sự can thiệp của Thiên Chúa vào thời tận thế như một sự đảo lộn vũ trụ. Sự đảo lộn này không phải là dấu chỉ của cái chết nhưng là dấu chỉ của ơn cứu độ sắp đến gần (Am 8, 9-10).

Đức Giêsu bước vào sự cô độc của Thiên Chúa. Người phó thác vào Đấng là Thiên Chúa của Người: “Lạy Thiên Chúa...Thiên Chúa của con...sao Ngài bỏ rơi con?” (15, 34). Đức Giêsu lại kêu lớn tiếng rồi tắt thở.

Cách mà Đức Giêsu chịu chết chứng nhận rằng Người là Con Thiên Chúa, rằng Người mở ra cho loài người con đường đến với Thiên Chúa. Qua việc bức màn trong Đền Thờ bị xé ra, Mác-cô muốn diễn giải rằng: từ nay không còn chỉ có vị thượng tế mới được vào trong gian cực thánh của Đền Thờ, nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa; từ nay, bức màn ngăn cách này không còn nữa; đó cũng là sự chấm dứt cách thờ phượng của người Do Thái; bây giờ, tất cả mọi người đều có một lối đi tự do để đến gần Thiên Chúa.

Mác-cô là người duy nhất trong các thánh sử nhắc đến “giờ”:

Vào giờ thứ chín, đóng đinh; vào giữa trưa, bóng tối; vào ba giờ chiều, cái chết. Những thời gian này là những giờ kinh phụng vụ: điểm nhấn trong kinh nguyện Do Thái, tất cả đều dồn vào ba thời khắc đó; nhịp điệu này cũng sẽ được giữ lại đối với các kitô hữu  tiên khởi.

Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng cũng như sự chiêm ngắm thầm lặng của các bà (15, 39-40) đã diễn tả được mối dây bền chặt giữa cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. 

Trong lúc người Do Thái khinh thường người bị đóng đinh thì thế giới ngoại giáo lại đang hoán cải diễn tả qua lời tuyên xưng đức tin của viên đại đội trưởng.

“Chiều đến” (15,42) nghĩa là cần phải thực hiện nhanh vì theo luật Do Thái tử tội phải được chôn cất trước khi mặt trời lặn; hơn nữa, chiều ngày thứ sáu đánh dấu ngày Sabbat bắt đầu. Ông Giuse Arimathê, thành viên Thượng Hội Đồng, đến xin Philatô cho nhận xác Đức Giêsu. Việc táng xác phải làm nhanh và gọn nhẹ. Xác Người được đặt trong ngôi mộ khoét sâu trong núi đá trở thành  “nơi kỷ niệm”. Qua cách hành xử của ông Giuse Arimathê (người không còn được nhắc đến nơi nào khác trong Tin Mừng) và qua sự cho phép của Philatô, chúng ta có một chứng nhận chính thức về biến cố.

Hai người phụ nữ “chiêm ngắm” (15, 47). Họ đã để cho biến cố mà họ chứng kiến thấm nhập vào trong tâm hồn của họ.

 BÀI TẬP

1.   a) Hai bản văn “loan báo cuộc thương khó” :14, 17-21 và 14, 26-31 đi trước và sau câu chuyện về  thiêt lập bí tích Thánh Thể . Ta có thể kéo hai bản văn này sát lại với nhau không?

b) Tầm quan trọng của hai lần loan báo này trong cuộc sống của chúng ta?

2.   a) Đâu là những yếu tố đặc trưng của trình thuật tại vườn Ghết-sê-ma-ni trong Tin Mừng Mác-cô ( Mc 14, 32-42 ), so với Tin Mừng Matthêu và Tin Mừng Luca?  

Mác-cô                                      Matthêu                            Luca

b) Ngôn từ trong lời nguyện của Đức Giêsu mang ý nghĩa nào?

3.   a) Hãy liệt kê những lần nhắc đến Thập Giá trong Mác-cô chương 15

b) Dưới ánh sáng của các câu  Mc 8,31 đến 9,1 , ta hiểu những điểm nhấn nói trên ra sao?