Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 14: Bệnh tật và đau khổ. Người bệnh và chăm sóc

     Một vài căn bệnh nằm bên ngoài chúng ta. Như vậy, việc đến với thầy thuốc là cần thiết để được điều trị hiệu quả, để được nhanh chóng phục hồi.

Nhiều căn bệnh khác nằm trong chính bản thân chúng ta, tác động đến quan hệ với người khác, cũng như trách nhiệm đối với xã hội. Khi đó sẽ đau khổ nhiều hơn và cần đến thầy thuốc hay cộng đồng để giúp đỡ. Trong trường hợp này, làm vơi nỗi khổ đau sẽ phức tạp hơn nhiều. Có nhiều vấn đề qui tụ quanh mối quan hệ giữa người bệnh và thầy thuốc :

-          Trước hết là việc thông tin cho người bệnh. Ngày nay, bổn phận thông tin cho người bệnh là luật chung, mặc dầu phải áp dụng điều này thật tế nhị và đôi khi cũng có ngoại lệ.

-          Thứ đến là việc  tôn trọng sự tự do của bệnh nhân. Trong chừng mực nào đó người bệnh phải được tham dự vào những quyết định liên quan tới họ. Họ có quyền chấp nhận hoặc từ chối điều trị theo đề nghị đưa ra. Cuộc sống bệnh nhân phải được giao phó cho họ (hay cho những người có quyền nói thay cho bệnh nhân)

     Các suy tư về đạo đức không chỉ giới hạn ở những vấn đề này. Nhu cầu của người bệnh, nhất là những người sắp chết thì rất khác nhau. Người bệnh phải được lắng nghe và tôn trọng.

ĐAU   KHỔ

     Đau khổ là một thực tế phức tạp hơn bệnh hoạn. Đau khổ đồng hành với con người ở mọi thời đại và khắp mọi nơi. Đau khổ có thể nói ra, phát biểu, chia sẻ dù đó là vấn đề cá nhân và riêng biệt của từng người. Đau khổ thuộc phạm trù vật lý, đạo đức và tinh thần dù nó bắt nguồn từ đâu đến. Ngày nay, mặc dù có những tiến bộ khoa học, nhưng y khoa vẫn có khuynh hướng né tránh một số vấn đề mà họ không thể giải thích nổi, liên quan đến bệnh tật .

Cựu ước đã ghi dấu thực tại đau khổ của con người. Đọc Cựu ước, ta thấy con người bị cái chết đe dọa (Is 38, 1–3). Con người đau khổ vì con cái chết (St 37, 33 – 35). Con người không có con nối dõi (St 15, 2 ; 1 S 1, 6–10). Con người nhớ quê hương (Tv 137). Con người bị sát hại và bị chống đối ngay nơi thân thuộc của mình (Gr 18, 18). Con người bị nhạo báng và chế giễu (Is 53, 3 ; Gióp). Con người bị lương tâm cắn rứt ((Tv 51, 5). Con người cô đơn và bị bỏ rơi (Tv 22). Con người bị gia đình, bạn bè và những người chung quanh phản bội (G 19, 19). Con người đau khổ vì tổ quốc bị lâm nguy (Tv 77, 3–11 ; Đn 3, 31-40 ;l9, 16–19). Tất cả những đau khổ này vẫn còn quen thuộc đối với con người ngày nay.

     Trong Kinh thánh cũng như đối với con người thời nay, đau khổ làm nổi lên vấn đề của sự ác. Phải chăng chúng ta đau khổ vì chúng ta đã phạm tội ? Các tông đồ đã hỏi Chúa Giêsu lúc gặp người mù bẩm sinh (Ga 9, 1–41) : “Chính nó hay cha mẹ nó đã phạm tội ?”  Chúa Giêsu trả lời : “Không phải nó cũng không phải cha mẹ nó …” (Ga 9,2–3). Chúa Giêsu không gán cho đau khổ một giá trị nào. Ngài đi gặp những người bệnh để chữa trị họ và cứu vớt họ : “Đức tin của con đã cứu con” . Chúa Giêsu đã mang lấy đau khổ và gánh nặng của tội lỗi. Ngài không muốn giải thích đau khổ như Paul Claudel nói : “… Chúa Kitô không đến để giải thích đau khổ mà đến để hoàn tất đau khổ bằng sự hiện diện của Ngài”. Tất cả mọi đau khổ của chính Ngài của những ai Ngài đã gặp, làm tăng lên tình yêu nơi trái tim Ngài.

 Khi Ngài gặp bà goá thành Naim (Lc 7,11–17) và trong dụ ngôn người Samari nhân hậu (Lc 10, 29–37) Chúa Giêsu đã bày tỏ lòng trìu mến. Ngài đã xót thương bà goá, nghĩa là Ngài đã hết lòng hiệp thông với sự đau khổ của bà ấy và đã hành động bằng cách làm cho con bà sống lại.  Trong dụ ngôn, người Samari đã thương xót người bị thương và tình thương của ông thể hiện bằng một hành động cụ thể : ông đến gần người bị thương,  đổ dầu và rượu băng bó vết thương, ông chở y trên yên ngựa mình và đưa y đến nhà trọ săn sóc. Ngày hôm sau, ông móc ra 2 đồng bạc  đưa cho chủ quán và nói : “Hãy săn sóc người đó và nếu cần chi tiêu thêm, tôi sẽ trả lại cho ông sau khi tôi trở lại.”

 Sự cứu rỗi dính liền với tình yêu Chúa Giêsu, một tình yêu đi đến cùng, đến tận trên thánh giá. Sự cứu rỗi là chính tình yêu này, tình yêu chữa lành và mang lại hy vọng cho sự sống đời đời.

Sức mạnh tình yêu của Chúa Giêsu là một lời mời gọi sự tự do của chúng ta. Trong chừng mực chúng ta bị tình yêu của Ngài đánh động và chấp nhận đáp lại tình yêu đó, có một sự hiệp thông xảy ra giữa ta và Ngài.

Trong sự hiệp thông này, ta có thể dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì chúng ta đang có, những niềm vui và những đau khổ. Chúng ta có thể sống với Ngài và nhờ Ngài.

Thánh Phaolô đã tìm sống và đã được sống sự hiệp thông đó với Chúa Kitô như vậy. Ông biểu lộ mục đích mình đeo đuổi : “Vấn đề là đuợc biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.” (Pl 3, 10).

GIÚP  NGƯỜI  HẤP  HỐI

   Người hấp hối là người sống còn giữ bản chất của mình, có những ước vọng và có những chờ đợi mà chỉ những ai biết lắng nghe và không có thái độ xơ cứng mới có thể nhận thấy. Cho đến khi chết, con người vẫn cảm nhận lời mời gọi được nhìn nhận như một con người. Ý muốn và quyền được chết trong bình an và tươm tất, chứng nhận quan điểm và cái nhìn về sự cao cả và trách nhiệm của con người .

Giúp người hấp hối phải thích hợp. Nó nhằm đồng hành với người hấp hối trên con đường họ phải đi, làm cho họ bớt thấy bị bỏ rơi, hiện diện bên họ một cách tế nhị, vô vụ lợi, chăm chú, nhiều khi yên lặng, đôi khi trao đổi về ý nghĩa đời họ và ý nghĩa sự chết, và dần dần đưa đến việc cầu nguyện.

NỖ  LỰC  ĐIỀU  TRỊ

     Giai đoạn hấp hối thường là giai đoạn khó khăn và nhiều câu hỏi đau khổ được đặt ra. Có cần đấu tranh chống lại cái chết bằng mọi giá không ? Phải chăng trong vài trường hợp đó là điều đáng cười chê ? Có cần kéo dài thời gian hấp hối và tăng những đau khổ cho bệnh nhân không ? Có nên cho bệnh nhân sống sót nhưng gánh chịu những di chứng nặng nề làm cho bệnh nhân và thân nhân họ đau khổ tột cùng hay không ?

Trước các câu hỏi để cố gắng điều trị nêu trên, những nhà đạo đức Công giáo đồng thanh nói rằng không ai phải chịu chấp nhận những điều trị mà người đó thấy quá nặng nề. Bổn phận gìn giữ đời sống và sức khỏe của người hấp hối không bắt buộc họ phải chấp nhận hy sinh bằng mọi giá. Để có thể lựa chọn đúng đắn, cần để ý đến sự bó buộc về mặt tâm lý, thuốc men, cộng với việc có cơ may bình phục.

SĂN  SÓC  CẦM  CHỪNG

     Đôi khi người ta săn sóc bệnh nhân để làm dịu bớt giai đoạn chót của cuộc đời họ. Người bệnh có quyền đòi hỏi phương pháp điều trị giảm đau để bớt đi những gánh nặng vô ích mà họ phải chịu.

TRỢ  TỬ

     Các vấn đề trên thường được đề cập đến trong các cuộc tranh luận về trợ tử. Trợ tử có một nghĩa chính xác . Đó là hành vi trao cái chết, “là hành vi chủ ý đưa cái chết cho một cá thể không thể chữa lành được về mặt thể xác hay tinh thần, do lòng thương cảm” .

Chúng ta hãy chú ý rằng, lòng thương cảm là một tình cảm mơ hồ. Nó mang ý nghĩa sự dịu dàng đối với người khác mà thường khi lại là sự dịu dàng đối với chính mình. Một trong những nguyên nhân giải thích cho hành động này là việc bất lực trước đau khổ tột đỉnh của bệnh nhân, một đau khổ mà người bệnh cũng như người thân của họ không thể chịu đựng .

Mong muốn chết là điều không có gì quá đáng. Vài vị thánh đã ước ao như vậy (với ước mong là sống bên Chúa mãi mãi). Đứng trước đau khổ và cái chết gần kề, người bệnh có quyền muốn chết để có thể thoát khỏi cơn đau khổ tột bực. Người thân của bệnh nhân cũng muốn cho họ chết. Điều này không có gì là tội lỗi. Tuy nhiên, ước muốn chết cho chính mình hay cho người khác bằng cách trợ tử lại khác : nó đã bước sang hành động.

Một vấn đề đáng được đề cập :  Con người có thể đáp lại lời khẩn cầu của một người bệnh muốn được giải thoát , bằng cách giúp họ chết hay không ? Những người có đức tin nhận thức sự sống là quà tặng của Thiên Chúa. Thiên Chúa kêu gọi con người đến với sự sống và có những lựa chọn trong đời sống. Đối diện với những người đã chối bỏ đức tin và những vấn đề thường gặp, người tín hữu phải suy nghĩ về động cơ và ý nghĩa của lời cầu xin trợ tử. Phải chăng đó là một lời cầu xin xảy ra do thiếu sự niềm nở và thiếu tình người ở các nơi săn sóc bệnh nhân hay là các nơi phục vụ nằm viện dài ngày ? Phải chăng đó là một lời cầu xin để khỏi chịu đau khổ nữa ? Phải chăng đó là do lo sợ bị lạm dụng “kéo dài” và bị suy sụp đến tột cùng ?

     Nhiều câu trả lời được đưa đến, nhiều điều phải được cải thiện. Tuy nhiên, sự cấm đoán giết người luôn giữ một vai trò xã hội rất quan trọng, Nó bảo vệ kẻ yếu, người tàn tật, người cao tuổi, người bị bệnh nan y chống lại người khác và chống lại chính sự bất lực của mình để tiếp tục sống. Bênh vực cho tự do cá nhân để đòi quyền chết và quyền trợ tử trong những trường hợp bệnh nặng nan y … là không hiểu nguyên tắc căn bản về xã hội và con người.

GHÉP CÁC CƠ QUAN NỘI TẠNG

     Ta hãy thêm một lời về việc ghép các cơ quan nội tạng. Sau khi nhận thấy người bệnh đã chết thật sự (ở đây ta không bàn luận đến lúc chết và những dấu hiệu cho phép nhận biết điều đó). Có thể lấy vài bộ phận của xác chết để ghép cho các bệnh nhân khác với khá nhiều cơ may thành công. Để việc này được chấp nhận, phải tính đến sự nhạy cảm của nhiều nền văn hoá khác nhau. Phải nhấn mạnh đến sự kính trọng đối với người chết và nhất là đối với gia đình họ là những người có quyền bày tỏ sự chống đối.

CÂU HỎI BÀI SỐ 14

Câu bắt buộc :

  1. Bạn hãy chọn và đọc lại 2 cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với những người đang đau bệnh. Quan sát Chúa Giêsu và ghi lại cách Người gặp gỡ họ, nối kết với họ và lắng nghe họ. Ghi rõ xuất xứ đoạn Tin Mừng mà bạn chọn.

Chọn một trong  2 câu sau đây :

2.  Bạn quan niệm thế nào về việc đồng hành với người bệnh ?

 3. Bạn có nghĩ rằng người ta có thể  kết hợp  sự đau khổ của mình với tình yêu Chúa Kitô không ? Như thế nào ?


Bài đọc thêm

ĐAU KHỔ

Sơ Maureen Cahill dòng Thanh Mân Côi, làm việc truyền giáo trong một bệnh viện ở phía bắc Transvaal Nam Phi, gửi cho tác giả cuốn “Story Power”, linh mục James A.Feehan , một dụ ngôn Sơ đặt tên là “Dụ ngôn cây bút chì”.

Thực sự chúng ta không biết được ai là người đã làm nên cây bút chì. Nhưng sau khi phát minh ra cây bút chì rồi, người chủ đã ngỏ lời với sản phẩm của mình như sau: Tôi muốn các bạn nhớ đến 4 điểm:

  1. Sự tốt lành hay phẩm giá đích thực nằm ở bên trong con người của bạn.
  2. Bạn sẽ cần được vót cho nhọn, gọt dũa đi khi bạn sống trong cuộc đời.
  3. Bạn sẽ được sử dụng trong tay một người nào đó, nếu không, tự bạn, bạn sẽ chẳng làm nên cái tích sự gì cả!
  4. Người ta sẽ yêu cầu bạn phải để lại ít nhất là một dấu vết gì đó.

Đời sống của con người giống như cây viết chì. Mẹ Têrêxa Calcutta đã áp dụng trường hợp thứ ba cho mẹ khi mẹ nói: ”Tôi là cây viết chì trong bàn tay của Thiên Chúa”. Còn tác giả cuốn sách “Story Power”, cha Feehan áp dụng dụ ngôn này trong thánh lễ trên đài phát thanh cho những người ốm đau. Cha đã áp dụng sự đau khổ của con người vào trường hợp thứ hai của cây viết chì, là phải được thanh tẩy, chuốt nhọn bởi những đau khổ trong cuộc sống. Cây viết chì mà không bị vót, chuốt, gọt, dũa thì không thể nào sinh lợi cho người khác đuợc. Ngạn ngữ Pháp có lời khuyên như sau:

                  Con người là kẻ học nghề,

             Mà thầy là nỗi ê chề đớn đau.

                  Không ai hiểu nổi mình đâu,

             Nếu chưa từng bước nhịp sầu mênh mông.    

Trong các bài đọc hôm nay có đớn đau và cũng có chữa lành. Có hai người chịu đau khổ vì ốm đau bệnh tật và cũng có hai người được chữa lành. Cả hai đều giống nhau. Một người là ông Gióp và người kia là nhạc mẫu của ông Phêrô. Cả hai đều gửi cho chúng ta một sứ điệp giống như sứ điệp trong dụ ngôn cây viết chì. Nói về đau khổ và phục vụ. Họ tỏ cho chúng ta thấy rằng qua đau khổ họ thông cảm và hiểu biết tha nhân, rối dẫn tới yêu thương và phục vụ tha nhân. 

Bài đọc thứ nhất (sách Gióp 7,1-7) đưa ta vào những đau khổ của ông Gióp phải chịu hầu như tuyệt vọng : « Xin Ngài nhớ cho cuộc đời con chỉ là hơi thở, mắt con sẽ chẳng thấy hạnh phúc bao giờ ».Ông tuyệt vọng lắm rối ! Ông mất tất cả mọi sự : tài sản, của cải, gia đình, uy tín và sức khỏe. Bạn bè nói rằng ông bị thử thách vì ông đã phạm tội. Vợ ông xúi ông nguyền rủa Thiên Chúa mà chết cho rồi ! Nhưng ông Gióp lại là một ứng viên tuyệt vời trong tuyệt vọng. Ông nhấn mạnh rằng ông không hề phạm tội, không hề xúc phạm tới Thiên Chúa. Nhưng ông không biết tại sao ông phải đau khổ. Đau khổ là một mầu nhiệm đối với ông. Ông trở thành con người của hy vọng. Ông vẫn tin tưởng nơi Thiên Chúa mặc dù đời ông có quá nhiều đau khổ : « Thiên Chúa ban cho, Ngài lại lấy đi, Xin chúc tụng Danh Ngài ». Ông không hiểu, nhưng vẫn tin tưởng, và sau cùng ông đã nhận ra tình yêu thương nhân hậu của Thiên Chúa.

Một mẫu chuyện xứ Phi châu kể lại rằng một người Ả Rập sống ở sa mạc có thói quen nằm sát xuống đất, úp tai trên cát ở sa mạc. Một người bạn hỏi anh ta : « Bạn làm gì đó ? Anh trả lời : Tôi nghe sa mạc khóc vì nó rất muốn đuợc là một khu vườn. »

Không ai thích đau khổ, ngay cả sa mạc cũng mong muốn thoát khỏi đau khổ. Câu chuyện này làm tôi nghĩ đến cuốn « Đường Hy vọng »của Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận. Ngài viết cuốn sách nổi tiếng này vào năm 1975, ngay sau khi bị quản thúc, bắt đầu cho 13 năm tù trong đó có 9 năm biệt giam. Sau này Ngài viết thêm cuốn «Đường Hy vọng dưới ánh sáng của Lời Chúa và Công đồng Vatican II (1979), « Những người lữ hành trên đường hy vọng » (1980), cuốn « Chứng từ hy vọng » đã được nhà xuất bản Pauline Books & Media ở Hoa Kỳ xuất bản. Ngài đuợc thế giới biết đến như một « Chứng nhân Tình yêu và Hy vọng ». Trong dịp Đại hội Đệ tam thiên niên kỷ 2000, Ngài kể lại với các linh mục, tu sĩ và giáo dân về những năm tù đày của Ngài : 

«  Trong những năm khốn đốn bị biệt giam, những năm đau buồn nhất trong đời tôi, tôi chỉ nhìn thấy hai người lính canh và họ được lệnh không nói với tôi một lời nào.Tôi cảm thấy bị mọi người bỏ quên, tôi thấu suốt nỗi đau khổ tuyệt đỉnh của Chúa Giêsu, cô đơn trên thánh giá. Tôi nghĩ đến những giáo dân, những tín hữu, đến các linh mục, tu sĩ, chủng sinh đang ở ngoài kia, họ cũng bị ruồng bỏ, bị đau khổ tù đày và bị bách hại. Trong sâu thẳm của yếu đưối, tinh thần lẫn thể xác, tôi nhận được ân sủng của Đức Mẹ Maria.

Tôi không được phép dâng thánh lễ, nhưng tôi đã đọc hàng trăm kinh Kính Mừng, và Đức Mẹ đã ban cho tôi sức mạnh kết hợp với Đức Giêsu trên thánh giá. Tôi cảm thấy Chúa Giêsu đã cứu chuộc nhân loại khi Ngài cô đơn trên thánh giá, trong sự bất lực hoàn toàn.

Các người lính canh dần dần hiểu biết tôi. Chúng tôi trở thành bạn hữu   Họ đã giúp đỡ tôi. Họ cho phép tôi làm một cây thánh giá bằng gỗ. Tôi đã giấu trong một cục xà bông. Tôi dùng một đoạn dây điện để làm dây đeo và họ đã cho tôi muợn chiếc kềm nhỏ để làm và họ còn làm giúp tôi nữa. Chiếc thánh giá mà tôi mang đây làm bằng gỗ và dây điện từ nhà tù. Chiếc thánh giá này luôn luôn nhắc nhở : Hãy yêu thương mãi ! Hãy tha thứ mãi ! Sống với hiện tại để truyền bá Tin Mừng ! Mỗi giây phút sống là để yêu mến Thiên Chúa. »

Đức cố Hồng Y P.X Nguyễn văn Thuận, một chứng nhân của tình yêu và hy vọng trong đau khổ chính là hình ảnh của « Dụ ngôn cây viết chì ».

Bài phúc âm (Mc 1, 29-39) đưa ta vào hoàn cảnh của gia đình Phêrô – một gia đình đang có việc buồn. Marcô cho ta biết «  lúc ấy bà nhạc mẫu của Simon cảm sốt nằm trên giường ». Theo William Barclay, đối với người Do Thái thời đó, bệnh là do ma quỷ, và họ gọi bệnh cảm sốt này là talmud . Để chữa bệnh này, họ dùng một con dao bằng sắt, cột một nắm tóc vào con dao, rồi đưa vào bụi gai, đang khi đọc một câu bùa chú. Cách chữa này mang một ý nghĩa khác hơn là nhiệt độ của cơ thể nóng lên vì bệnh. Nó có nghĩa như trừ quỷ trừ ma. Do đó bà nhạc mẫu của Simon bị bệnh, đồng nghĩa với sự dữ trong gia đình- sự hiện diện của ma quỷ nơi người đàn bà. Trong hoàn cảnh bi đát này, Chúa Giêsu ra tay cứu chữa : « Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy ; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các Ngài. »

Từ ngữ của đoạn phúc âm này, đã được Marcô chọn lựa rất cẩn thận. Từ « egeiro » có nghĩa là « nâng lên » diễn tả việc Chúa Giêsu nâng bà lên giống như sự sống lại của Chúa giêsu từ cõi chết, được nâng lên đưa về trời. Sau khi được nâng lên rồi, bà bắt đầu phục vụ các ngài. Từ « diekonei » có nghĩa là « phục vụ », nguồn gốc của chức phó tế « diaconatus », mà Tân ước dùng để diễn tả chức vụ phó tế.

Bà đã được Chúa Giêsu gọi cũng như Ngài đã gọi Phêrô, Anrê, Gioan … và các môn đệ khác. Chỉ trong một giây phút được chữa lành, bà đã tin tưởng và nhận biết Chúa, rồi bà bắt đầu làm việc phục vụ người khác ngay. Người bệnh được chữa lành, và được gọi trở nên thừa tác viên đi thoa dịu, an ủi khổ đau, cực nhọc của người khác. William Barclay đã trích dẫn một câu châm ngôn trong những gia đình người Scottish như sau : « Được cứu để phục vụ ».Chúa Giêsu đã cứu chữa chúng ta. Vậy chúng ta phải đi giúp đỡ người khác.

Chuyện cổ Trung Hoa kể câu chuyện về một người đàn bà có một người con trai duy nhất đã chết. Trong đau thương buồn khổ, bà đến năn nỉ vị thánh hiền : « Xin Ngài hãy dạy cho con biết những lời cầu khẩn, hay những câu thần chú nào làm cho con trai của con được sống lại ». Thay vì lý luận dài dòng với bà, vị thánh hiền trả lời : « Bà hãy đi tìm cho tôi một hạt rau cải từ một gia đình chưa từng biết buồn khổ là gì. Tôi sẽ dùng nó làm thuốc chữa cho con bà sống lại. » 

Người đàn bà bắt đầu đi lang thang khắp nơi tìm kiếm hạt cải kỳ diệu đó. Trước hết bà đến gõ cửa một lâu đài vô cùng sang trọng : Tôi đang tìm kiếm một nhà chưa bao giờ biết buồn khổ là gì. Xin cho hỏi có phải là nhà này không ạ ? Chủ nhà trả lời : Thưa bà chắc chắn là bà đã đi lộn nhà rồi .Chồng tôi đang hấp hối nằm trên giuờng bệnh ! Con trai tôi bỏ nhà ra đi. Tôi sợ rằng tôi sẽ sống trong cô đơn góa bụa ! »

Nghe xong bà nói : « Ai là người may mắn hơn tôi để có thể giúp đỡ cho những người bất hạnh đáng thương này, cho dù tôi cũng có những rủi ro của riêng mình ? » Sau đó bà ở lại để an ủi chủ nhà trước khi lên đường tìm cho ra một nhà chưa bao giờ biết buồn khổ là gì. Nhưng bất cứ nơi nào bà ghé vào, cho dù là lâu đài sang trọng, dinh thự giàu có đến đâu, bà đều nghe kể về những chuyện buồn bả và bất hạnh. Cuối cùng đi đến đâu bà cũng đều khuyên răn, an ủi và khích lệ người khác cho tới nỗi chính bà đã trở nên một thừa tác viên phục vụ cho những người buồn phiền dau khổ. Trong công tác mục vụ này bà đã quên việc đi tìm hạt cải kỳ diệu làm thuốc cứu chữa con bà. Bà quên đi nỗi buồn của chính bà.

Khi nào bạn đau khổ chán nãn tuyệt vọng…. Hãy nhớ rằng Chúa giêsu cùng hiện diện với bạn cũng như Thiên Chúa ở bên cạnh ông Gióp. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Hãy nhớ rằng bạn đang đuợc yêu thương. Hãy tiếp tục tin tưởng, hy vọng, yêu thương và phục vụ. 

Khi nào bạn đau ốm về thể xác, tinh thần hay tình cảm, hãy cởi mở tâm hồn ra đến với Chúa Giêsu. Ngài sẽ chữa lành bạn, nắm chặt lấy tay bạn và giúp bạn đứng dậy. Ngài sẽ chữa lành bạn như như Ngài đã chữa bệnh cho bà nhạc mẫu của Phêrô. Hãy lắng nghe tiếng Ngài mời gọi, bước theo Ngài và phục vụ tha nhân, vì ơn sủng của Ngài sẽ ban xuống đầy đủ cho bạn.


Bài đọc thêm

THĂM VIẾNG 

Kinh nghiệm của những lần đi thăm viếng bệnh nhân tại nhà thương khi còn ở Đàlạt cho tôi thấy : nhiều lúc mình chỉ cần ngồi thinh lặng, lắng nghe họ kể những tâm sự buồn, từ chuyện gia đình đến chuyện con cái, từ chuyện buôn bán đến chuyện đau ốm. Giải tỏa được những tâm sự buồn ấy, họ cảm thấy nhẹ nhỏm và tìm lại được niềm vui sống. Thì ra điều họ cần là sự chia sẻ và cảm thông.

Từ kinh nghiệm kể trên, chúng ta đi vào đoạn Tin Mừng sáng hôm nay : Chúa Giêsu chữa lành nhiều bệnh nhân, với những chứng bệnh khác nhau. Sở dĩ Ngài làm được điều ấy vì Ngài chính là Thiên Chúa quyền năng. Còn với chúng ta thì sao ? 

Dĩ nhiên chúng ta không thể làm phép lạ, không thể cứu chữa họ. Tuy nhiên chúng ta có thể dự phần vào việc chữa lành của Chúa Giêsu, cũng như vào việc xoa dịu phần nào nỗi đau của họ, bằng cách thăm viếng ủi an họ. Đây cũng là điều Chúa Giêsu hằng mong mõi chúng ta thực hiện. Và nếu chúng ta thực hiện được, hẳn Ngài sẽ chúc phúc cho chúng ta.

Chúng ta còn nhớ, trong hoạt cảnh về ngày phán xét, Ngài phán với những người bên hữu : « Hãy vào lãnh nhận phần thưởng đã được sắm sẵn cho các ngươi từ thuở đời đời, vì khi Ta đói các ngươi đã cho ăn, khi Ta khát các ngươi đã cho uống, khi Ta mình trần các ngươi đã cho mặc, khi Ta dau yếu và bị cầm tù các ngươi đã viếng thăm. Vì khi các ngươi làm những việc ấy cho một trong những kẻ bé mọn nhất, thì đó là các ngươi đã làm cho chính ta vậy. »

Trong Cựu ước chúng ta cũng thấy như thế : « Đừng chậm trễ trong việc thăm viếng người bệnh, vì nhờ đó mà con được quí mến. » Tại gia đình hay tại bệnh viện, chúng ta đếu có thể xoa dịu những đau đớn tinh thần, cũng như thể xác của họ.

Vậy thì chúng ta phải làm những gì cho các bệnh nhân ? Tôi xin thưa :

-          Hãy lắng nghe họ tỏ lộ tâm sự với một thái độ chia sẻ và cảm thông.

Đây quả là một nghệ thuật, bởi vì nó đòi hỏi chúng ta phải kiên trì và chịu đựng, nhất là trước những câu chuyện chúng ta đã nghe đi nghe lại nhiếu lần. Ngoài ra, chúng ta còn có thể đem đến cho họ một tin vui, một câu chuyện lượm lặt, một nụ cười thông cảm, một thái độ ân cần và chăm sóc.

Tuy nhiên chúng ta phải chuẩn bị trước để biết mình sẽ nói những gì và nói thế nào. Ngoài ra chúng ta còn có thể mang theo những quà tặng như trái cây và các loại đồ ăn giúp bệnh nhân phần nào trong việc bình phục. Tuy nhiên khi chọn quà tặng, chúng ta cũng cần phải tế nhị, chọn quà tặng nào phù hợp với nhu cầu hay sở thích của bệnh nhân. Những món quà đơn giản, không xa xỉ lại thường là những món quà quí giá.

-          Ngoài ra, một cú điện thoại, một bức thư thăm hỏi cũng sẽ giúp cho bệnh nhân rất nhiều.

Trong phạm vi và khả năng của mình, hãy quan tâm giúp đỡ những người đau yếu như ngày xưa Chúa Giêsu đã làm.

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí