Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 13: Vương quốc Đavít – Việc xét xử Giê-ru-sa-lem

            Giai đoạn 5 này gồm ba đề tài văn chương nhằm triển khai, dưới những hình thức khác nhau, giáo huấn của Đức Giêsu về cái chết và sự phục sinh của Con Người.

            Nơi đề tài thứ nhất (Mc 10, 32 – 11, 25), trước hết, Đức Giêsu dường như thể hiện vai trò của một vị vua để tiếp đến thi hành sứ vụ của vị Thượng Tế, người canh phòng Nhà của Thiên Chúa.

            Đề tài thứ hai (11, 26 – 12, 44) trình bầy Đức Giêsu như một kinh sư, một tiến sĩ Luật.

            Đề tài thứ ba (13, 1 – 37) mang âm hưởng ngôn sứ: Đức Giêsu loan báo thời kỳ đã mãn và sự đăng quang của Con Người.

1.      Mc 10, 32 – 11, 25.

*    Đoạn này bắt đầu bằng lời loan báo cuộc Thương Khó lần thứ ba  (10, 32-34)

*    Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu gặp Báctimê (10, 46-52). Người mù ăn xin bên lề đường là hình ảnh của một cộng đoàn chậm hiểu rằng đau khổ và cái chết có thể nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa....

*    Mác-cô giới thiệu Đức Giêsu đi vào thành Giêrusalem như là việc cử hành phụng vụ về ngày phong vương của Con Vua Đavit.

Quả thật, khi tấn phong Giêhu (2V 9, 13), các chức sắc trải áo choàng của họ đặt dưới chân ông ta với ý thức ông ta là người được tuyển chọn của Giavê.

Nhiều người chặt và vẫy những nhánh lá cây tựa như những lời cầu khẩn “Chúc Tụng” đã được đưa vào trong  nghi thức Lễ Lều nhằm tưởng nhớ đến Vương Quốc Toàn Năng của Giavê.

“Chúc tụng Triều Đại đang tới, Triều Đại Vua Đavít” (Mc 11, 10). Đức Giêsu là người kế vị đích thực của lời hứa dành cho Đavít qua lời tiên tri của Nathan (2V 7, 16).

*    Mác-cô đặt phân đoạn cây vả không sinh trái (11,11-14), vào sáng ngày hôm sau trên đường đi từ Bêtania lên Giêrusalem. Cây vả cũng như cây nho mang một nghĩa biểu tượng: Chúng diễn tả dân Israel sanh trái (Đnl 8,8; Is 36,17; Dc 2,13; Kg 2,20) hay tàn lụi (Ds 20,5; Tv 105,3; Is 34,4; Gr 5,17) theo mức độ họ trung tín hay không trung tín với những giới răn trong Lề Luật. Đây chính là ngữ cảnh mà ta phải đọc hiểu phân đoạn này: Đấng Mêsia mặc khải về sự bất tín của dân Người.

*    Đức Giêsu tiến vào thành Giêrusalem; Người đi vào Đền Thờ và xua đuổi những người buôn bán để tẩy uế nhà của Thiên Chúa.

Đối với Mác-cô, việc Đức Giêsu xuất hiện tại Đền Thờ đã hoàn tất cuộc cải cách việc thờ phượng đã được các ngôn sứ nhắm đến (Mlk 3, 1-3; Gr 7, 11; Is 56, 7).

Một lần nữa, câu hỏi nẩy sinh nơi những người bị sự sợ hãi chiếm lĩnh khi đối diện với Đức Giêsu: Người này là ai khi ông ta thể hiện lời tiên tri bằng một cách thức như thế?

*    Phân đoạn trên được kết thúc bằng giáo huấn về cầu nguyện.

Cây vả (11, 11-14) là hình ảnh nói về đức tin không sinh hoa trái, nghĩa là đức tin co cụm.

Đối với Đức Giêsu, lòng tin vào hiệu quả của lời cầu nguyện làm nảy sinh tức thời nhận thức về ơn cứu độ cuối cùng được xác định bời sự xuất hiện của Người. Chính Người đã thành lập cộng đoàn các môn đệ. Cộng đoàn này bắt nguồn trong ơn tha thứ lãnh nhận từ Con Yêu Dấu và đuợc chia sẻ giữa anh em : “Nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em.” (11, 25)

2.      Mc 11, 26 – 12, 44.

*     Trong Đền Thờ Giêrusalem, Đức Giêsu không tán thành các thượng tế và kỳ mục cùng những phe nhóm trong dân. Câu chuyện mang dáng dấp một cuộc kiện tụng.

*     Câu hỏi của các thành viên trong Thượng Hồi Đồng: “Ông lấy quyền gì mà làm điều ấy?” Đức Giêsu làm điều này với tư cách cá nhân hay là Người lãnh nhận quyền hạn từ một nhân vật khác?

     Giới lãnh đạo tôn giáo trách móc Đức Giêsu lạm quyền khi đối xử với những người buôn bán, bởi vì trách nhiệm về trật tự trong Đền Thờ thuộc về viên đại đội trưởng nơi đây. Đức Giêsu trả lời những người lãnh đạo dân bằng cách đưa ra cho họ một câu hỏi. Người gợi lại phép rửa của Gioan. Bày tỏ lập trường đối với vị tiền hô là đã bày tỏ lập trường đối với Người. Câu hỏi về quyền hạn trở thành câu hỏi về đức tin.

*     Đức Giêsu tiếp tục đối thoại bằng cách đưa ra cho thính giả của Người dụ ngôn những tá điền bất trung (12, 1-12). Dụ ngôn này đã tác động mạnh đến những người đối thoại:

“Họ thấu hiểu rằng Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy” (12, 12).

Quả thật, dụ ngôn đó lột trần sự từ chối bên trong cùng sự cứng lòng của những kẻ tìm cách hại Người nhưng lại không dám vì sợ dân chúng.

*     Tiền nộp thuế cho Cêsarê (12, 13-17). Những câu hỏi đặt ra cho Đức Giêsu thuộc về những vấn đề gây bối rối mà người ta có thói quen đệ trình các Rabbi để thử khả năng hiểu biết Kinh Thánh và sự khôn ngoan của họ trong việc xử lý tình huống.

Vào thời kỳ đó, việc đóng thuế chia thế giới làm 2 phe, chính trị và tôn giáo:  Những người quá khích (Zêlốt) từ chối đóng thuế vì lý do tôn giáo; những người thuộc nhóm Hêrôđê tự cho mình độc lập không lệ thuộc vào quyền lực địa phương và những Pharisêu, đối lập về nguyên tắc, thì đồng ý thỏa hiệp.

Những đối thủ có mặt lúc đó hy vọng sẽ đưa Đức Giêsu vào thế kẹt. Nhưng câu trả lời của Người lại vượt tầm mức câu hỏi. Người không đưa ra một cách xử sự thuộc luât đời. Câu trả lời nước đôi của Người một mặt xác nhận sự hiện diện của các triều đại tạm thời trong thế giới của chúng ta, mặt khác mời gọi đối thủ chấp nhận đối mặt với một lập trường khó khăn: “Hãy trả lại cho chính quyền những gì là của họ”; “Hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa”, nghĩa là tất cả con người của các ông.

*            Người chết sống lại: Những người Xađốc không tin có sự sống lại trong khi những Pharisêu xác nhận điều đó dựa vào Kinh Thánh. Tình huống đặt ra cho Đức Giêsu là một tình huống cực đoan và đồng thời là một sự chế nhạo. Đức Giêsu trả lời nghiêm chỉnh: những liên hệ tình dục thuộc về điều kiện xác thịt của con người. Còn sự sống lại thì không thuộc trật tự xác thịt này nữa, đó là diện đối diện với “Thiên Chúa hằng sống” (12, 27).

*     Điều răn đứng đầu: “Trong mười điều răn, điều nào đứng đầu?” (12, 28)

Câu hỏi này thì quá xưa cũ đối với các Rabbi. Để trả lời câu hỏi trên, Đức Giêsu nhắc lại những lời trong kinh nguyện quan trọng mà những người Do Thái vẫn thường đọc sáng,chiều: kinh shema’Israel (...Hãy nghe đây Israen...) (Đnl 6, 4-5)

Một lần nữa, Đức Giêsu bỏ qua các chiều kích của câu hỏi bởi Người liên kết điều răn thứ hai với điều thứ nhất: yêu Chúa yêu người khác. Đức Giêsu yêu cầu một sự dấn thân thực tế, tích cực đối với người đồng loại.

*     Tính kiêu căng của các kinh sư và bà góa hào phóng (12, 38-44).

Bằng một vài nét, Đức Giêsu đã vẽ lên chân dung của các kinh sư biểu lộ: sự kênh kiệu, bóc lột các bà góa, phô trương trong cầu nguyện. Và ngược lại, Mác-cô viết về bà góa nghèo đã bỏ vào thùng tiền của Đền Thờ “tất cả tài sản” nghĩa là “tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (12, 44). Và Đức Giêsu đưa ra kết luận cho các môn đệ: người đàn bà này biết cái giá của việc giao trả  thực sự cái mình có cho Thiên Chúa: Người đòi tất cả chứ không phải là cái dư thừa.

3.      Mc 13, 1-37.

*     Các dấu chỉ về những ngày đó: Đức Giêsu khởi đầu bằng lời cảnh giác về sự lầm lạc gây nên do nhiều người đến nhân danh Người,tức những Mêsia giả hay những ngôn sứ giả.

    Chiến tranh, đói kém mà Đức Giêsu nói sau đó, làm nẩy sinh trong tâm hồn mối suy tư về thân phận mỏng dòn của con người và sự tìm kiếm điều gì có thể cứu độ thực sự. Phải thăm dò những tai biến này và cố khám phá ra điều bí ẩn của chúng. Các môn đệ cũng sẽ không được miễn trừ: các ông sẽ bị bách hại vì danh Thầy. Sức mạnh của các ông sẽ là lời trong Thần Khí.

*     Con Người quang lâm: Mác-cô không mở rộng thêm chút nào đặc tính biểu lộ việc quang lâm của Con Người. Những hình ảnh này được vay mượn nơi các bản văn khải huyền trong Cựu Ước. Vũ trụ đảo lộn đi kèm với biến cố (Am 8, 9; Mk 1, 3-4; Is 13, 10 và 34, 4; Gr 4, 23-26; Ed 32, 7-8, Ge 2, 10;  3,4; 4,15)

Mác-cô làm nổi bật việc Con Người quang lâm trong vai trò tập hợp những người được tuyển chọn.

*     Thời kỳ của biến cố. Đừng tự hỏi “khi nào” sẽ xẩy ra cái mà bây giờ đã ở ngoài cửa rồi. Ngày của Đức Chúa luôn gần kề đối với ai biết để cho “ lời Chúa không thể qua đâu” thấm vào trong tâm hồn của mình. (13, 31)

     Câu 10 làm rõ : “Mọi điều ấy” có nghĩa vừa là sự tàn phá của Đền Thờ, vừa là cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu và cái mà chúng biểu lộ tận thế. “Thế hệ này” là một thành ngữ chỉ tất cả những ai có tiếp xúc với Đức Giêsu tại Palestin và  tất cả những ai tin vào sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Biến cố thì không thể thấy trước được và việc quy chiếu “chỉ có Chúa Cha biết” (13, 32) cho thấy rằng có một thực tại vượt quá trật tự tương lai của con người và các niên đại của chúng ta.

*     Lời khuyên tỉnh thức.

Đức Giêsu mời gọi các môn đệ tỉnh thức mọi lúc mọi nơi. Tỉnh thức không có nghĩa là tích lũy sự an toàn hay phòng chống sự đột nhập; nhưng chính xác là sự mài giủa tâm hồn mình luôn thức tỉnh để đón nhận Đấng không ngừng hiện diện.

BÀI TẬP

1.      Đức Giêsu loan báo lần thứ ba cuộc Thương Khó và Phục sinh (10, 32-34).

So sánh lời tiên báo lần này với hai lần trước đó (8, 31-33; 9, 31-32) dựa vào các điểm:

a)  điều gì đã được loan báo

b)  tình cảm của các môn đệ

2.      Người mù ở Giê-ri-khô(10, 46-52)

a)     Danh xưng: CON VUA ĐAVÍT mang ý nghĩa gì?

b)     Đức tin của Bactimê bao gồm những gì?

c)     Tại sao Mác-cô ghi chú rằng “anh ta đi theo Người trên con đường Người đi”?         

3.      Con Người quang lâm  13, 24-37)

a)    Lời khuyên “phải tỉnh thức”  quan trọng như thế nào?

b)   Tại sao đây là lời khuyên cho tất cả mọi người?

             c)   Ý nghĩa  của đoạn văn này đối với chúng ta ngày nay là gì?