Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 11: Thư gửi tín hữu Rôma – phần 2

2. Đức Kitô, bằng cách đem đến  cho mọi người sự công chính bởi đức tin, đã thay thế thể chế tôn giáo của lề luật bằng thể chế của Thánh Linh (5,1-8,39)

a)  Từ sự chết đến sự sống (5,1-6,23)

Cho đến tận đây, Phaolô đã công bố mặc khải về sự Công chính của Thiên Chúa trong Tin Mừng (1-3), ông công bố trong Cựu ước. Bây giờ ông đề cập đến việc thực hiện cụ thể. Một đề tài mới xuất hiện thay thế đề tài công chính. Đó là tình yêu của Thiên Chúa, nguyên tắc của ơn cứu độ ; Thiên Chúa đã minh chứng chúng ta là những người tội lỗi, theo sau đức tin của ta vào cái chết cứu độ của Đức Kitô, sự hòa giải của chúng ta ; đó là tình yêu Thiên Chúa chiếu giải trong lòng chúng ta bởi Chúa Thánh Thần và đem đến cho chúng ta một đảm bảo vui mừng về ơn cứu độ sau hết (5,1-11).

Để mô tả công việc của Chúa Giêsu, Phaolô khơi lên gương mặt của Ađam, người đầu tiên chịu trách hiệm về vận mạng nhân loại. Ađam xuất hiện ở đây chỉ cốt làm nổi bật khuôn mặt của Chúa Giêsu : giữa hai thủ lãnh dẫn dắt nhân loại trong vận mệnh của họ, điều trái ngược đã đầy đủ. Sự liên đới giữa Chúa Giêsu với dân Người mạnh mẽ hơn rất nhiều : « Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô lại còn lớn lao hơn biết mấy » (5,17). Nếu Ađam đưa vào thế giới vương quốc của tội lỗi và sự chết, thì Đức Kitô, Ađam mới đưa vào thế giới vương quốc của ân sủng, công lý và sự sống (5,12-21).

Sự đối kháng « tội - ân sủng » ở đoạn 5,20 … được lấy lại ở đoạn 6,1 …. tạo nên một gạch nối giữa hai chương và  chuyển tiếp tới sự triển khai mới của Thánh Phaolô về tình trạng mới của người chịu phép Rửa trong cái chết của Đức Kitô. Tội lỗi vẫn còn rình rập và người tín hữu phải chiến đấu để chống lại cám dỗ (6,1-2). Tất cả kinh nghiệm và thần bí của Phaolô xuất hiện trong bài giảng huấn này. Bài giảng đi từ điểm khởi đầu trong nghi thức rửa tội, nơi đó người tín hữu mới tìm thấy sự sống (6,3-4). Đó là hình ảnh của đời sống kitô hữu, kết hợp cách mầu nhiệm với sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu ; và vì thế được giải thoát mãi mãi khỏi tội (6,5-10). Người tín hữu phải chiến đầu trung kiên chống lại tội (6,11-14). Để khuyến khích, Phaolô dẫn đời đời họ đến các kỷ niệm về tội trong quá khứ : tình trạng nô lệ nhục nhã và cằn cỗi của sự bất công và ô trọc. Giờ đây, đã vuợt qua tội lỗi, họ sống trong sự phục vụ, bằng cách vâng lời Thiên Chúa, họ được dẫn đưa tới sự thánh thiện và sự sống (6,15-23).

b)  Từ thể chế của Lế Luật đến thể chế của Thánh Linh (7,1 – 8,39)

Được chuộc lại bằng cái chết của Đức Kitô qua phép Rửa, người Kitô hữu được giải thoát khỏi Lề luật thường khơi gợi sự tội (Phaolô đặc biệt nghĩ tới những người Do Thái trở thành kitô hữu) ; đời sống mới của Thánh Linh tiếp nối thể chế cũ của mặt chữ. Bây giờ Thánh Linh gợi hứng cho đời sống kitô hữu và dẫn đưa nó vào nội tâm bằng đức tin và tình yêu (7,1-6)

Tiếp theo là một cuộc thảo luận : Lề luật có thể là sự tội không ? (7,7-25). Cái ống kính viễn vọng này không cho ta một phân tích tâm lý của tình trạng nhân loại từ thời tội nguyên tổ (5,12), cũng không cho ta lịch sử tôn giáo của Thánh Phaolô trước khi người trở lại ; nó càng ít giải thích tình trạng tôn giáo của các tín hữu, nhưng nó mô tả tình trạng của người Do Thái sống dưới luật cũ. Tình trạng này tự nó là tốt, thánh thiện , thiêng liêng, nhưng nó lại liên kết với tội trong con người làm tăng thêm những thèm muốn (7,8). Nó cũng làm cho ta thấy tất cả sự hiểm độc của tội. Nói cách khác, ý muốn và lý trí tự nó bất lực trong việc đảm bảo thi hành Luật (=ý muốn của Thiên Chúa) nơi con người tội lỗi : luật sản sinh ra tội và đưa tới sự chết. Đối nghịch với luật của trí thông minh là vui lòng chấp nhận luật của Thiên Chúa, luật của xác thịt liên kết thắng lợi với tội lỗi, với Luật ; chỉ có Đức Giêsu mới mang lại sự giải thoát. Thế mà Thiên Chúa đã lên án tội lỗi nơi thân xác Đức Kitô để nhờ sống theo Thần Khí, người tin được giải thoát khỏi ách thống trị của tội có thể hoàn thành những đòi buộc của Luật và đạt tới niềm hy vọng phục sinh (8,1-11). Cũng vậy, sau khi liên tiếp chỉ ra ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô là sự giải phóng khỏi sự chết, khỏi tội lỗi và khỏi Luật, bây giờ Phaolô trình bày đời sống kitô hữu dưới khía cạnh tích cực : đó là đời sống trong Thần khí. Để dễ hiểu, trước hết ông đặt con người xác thịt đối kháng với con người Thần Khí (8,5-13). Xác thịt hay Thần Khí là hai nguyên tắc của đời sống, đối kháng hay phù hợp với ý định của Thiên Chúa. Hai nhóm người sống khác nhau chưa phải là được phân biệt luôn mãi ; vẫn còn thời gian để khuyến khích các tín hữu sống theo Thần Khí. Hành động của người sống theo Thần khí thì rát nhiều ; trong tâm trí người kitô hữu, nó chứng thực người đã lãnh nhận Thần Khí (8,14-17), nó thúc đẩy nơi họ niềm hy vọng được nối kết với nổ lực to lớn của sự Tạo thành ( 8,15-25) ; nó cũng chính là lời cầu nguyện của những đứa con của Thiên Chúa (8,26-27). Đối với Phaolô, tất cả mọi ý định của Thiên Chúa đều là ý định của tình yêu (8,28-30). Trước sự dịu dàng không phai mờ này tâm hồn vang lên bài ca hy vọng của người Kitô hữu (8,31-39)

3. Việc Israel tạm thời từ chối Chúa Giêsu là Đấng Mêsia không làm cản trở kế hoạch cứu độ hoàn vũ của Thiên Chúa (9,1-11,36)

a)  Sự bất trung của dân được ưu tuyển (9,1-33)

Đoạn tiếp theo với đoạn trước là một phản đề : đối diện với niềm hy vọng kitô giáo thì hoàn cảnh của người Do thái - dân của sự tuyển chọn và giao ước, dân mà Đức Kitô chọn để sinh ra làm người - là gì ? Trên thực tế, sự nghi ngờ của người Do Thái dường như mâu thuẩn với bài thuyết giảng của Thánh Phaolô về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa (9,1-6). Trong phần trả lời, Phaolô xác định rằng Thiên Chúa không bao giờ đảm bảo ơn cứu độ cho con cái của giao ước, đối tượng tự do chọn lựa của Người (9,6-13). Không ai có thể đòi Thiên Chúa phải giải thích nếu Người muốn tỏ cơn thịnh nộ nơi người này và lòng thương xót nơi người khác (9,14-24). Cuối cùng, Kinh Thánh chứng nhận rằng dân ngoại sẽ trở thành dân của Thiên Chúa trong khi đó người Do thái chỉ còn tồn tại một số sót (9,15-33). Điều đó đã xảy ra khi Israel vấp vào điều trở ngại là Đức Kitô.

  b) Sự thiếu hiểu biết không thể tha thứ được về sự công chính của Thiên Chúa (10,1-21)

Lo tìm kiếm sự công chính của riêng mình, người Do Thái đã không nhận biết sự công chính của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô là cứu cánh của Lề luật(10,1-4). Israel tìm ơn cứu độ trong Lê luật, trong khi đó Đức Kitô  mang đến sự công chính  của đức tin cho mọi người, Do thái hay dân ngoại (10,5-13). Sự công chính này được các vị rao giảng Tin Mừng loan báo, nhưng rất ít người Do thái tin theo, trong khi Thiên Chúa tìm ra đuợc nơi những người không hề đi tìm nó (10,14-21). Toàn bộ phần này được cấu tạo dựa trên Lời Kinh thánh.

  c) ý định của Thiên Chúa và tương lai của Israel (11,1-36)

Giai đoạn cuối cùng của kế hoạch Thiên Chúa diễn ra theo cách thức sau đây, Thiên Chúa không ruồng bỏ dân Người. Người chọn số sót giữa đám đông cứng lòng (11,1-10) Nhưng nếu sự sa ngã của họ chứng minh cho sự cứu độ của « các dân nước », thì ân sủng cũng sẽ theo sau khi họ trở lại (11,11-15)

Vì « các dân nước » cũng giống như cành cây ô-liu dại ghép vào rễ gốc Israel (11,16-24). Việc họ đông đảo bước vào con đường cứu độ sẽ kêu gọi ơn cứu độ trở lại trên toàn thể Israel nhờ ơn huệ của Đấng đã kêu gọi và ân sủng của Thiên Chúa thì không thay đổi. Cũng thế, mọi người bị tội lỗi khóa chặt sẽ cuối cùng nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa (11,15-32). Việc chiêm ngắm mầu nhiệm kết thúc bằng một bài thánh thi thờ phượng và tạ ơn ; người ta không thể biết được kế hoạch của Thiên Chúa ; nhưng Thiên Chúa là ông chủ tối cao xứng đáng với mọi lời chúc tụng (11,33-36)

PHẦN KHUYÊN NHỦ (12,1 -15,13)

Lời khuyên nhủ trình bày trước tiên qui tắc căn bản của Thánh Phaolô : chớ gì các tín hữu khi thi hành ý muốn của Thiên Chúa, sống tự do kitô giáo và chớ gì đời sống của họ cũng trở thành một của lễ sống động thánh thiện dâng lên vinh quang Thiên Chúa (12,1-2)

1.    Áp dụng cho suốt đời kitô hữu (12,3-13,14)

a)   Nguyên tắc cho đời sống cộng đoàn (12,3-21) :

Thiên Chúa ban ân sủng khác nhau cho mỗi người và mọi người phải dùng ân sủng của mình để xây dựng Thân mình Đức Kitô là giáo Hội (12,3-13). Cái nhìn này mở rộng ra trong lời mời gọi cho sự chúc lành, cho niềm vui và đức ái đối với kẻ thù (12,14-21).

b)  Nguyên tắc cho thái độ đối với nhà cầm quyền (13,1-7) :

Trong thế giới dân ngoại nơi mà cộng đoàn kitô hữu chưa có thể chế hợp pháp, điều quan trọng là thái độ của các thành viên đối với nhà cầm quyền bày tỏ lòng trung thành của họ « vì lý do lương tâm » (13,5)

c)   Trở lại nguyên tắc của đời sống cộng đoàn (13,8-14)

Phaolô biết rằng ở Rôma tốn tại sự đối kháng giữa những người tự cho là « mạnh » ( những người phán xét mọi sự với tự do mà đức tin ban cho và những người được gọi là « yếu » (Do thái kitô hữu chưa được giải thoát khỏi sự thực hành Lề luật). Đối với hai thành phần này, Phaolô kêu gọi họ chấp nhận và kính trọng nhau (14,1-22). Có nhiều cách để sống một đời sống kitô hữu đích thực nhắm vào vinh quang Thiên Chúa (15,1-6). Người cắt bì và không cắt bì đều ca tụng Thiên Chúa (15,7-13)

PHẦN KẾT LUẬN (15,14 -16,23)

 Phần trình bày thiết yếu đã châm dứt, Phaolô đến với  tin  tức cá nhân. Ông nhắc lại dự tính đi về phía tây ngang qua Rôma. Ông biện bạch cho sự táo bạo viết thư cho tín hữu Rôma và nhấn mạnh việc dựa vào ơn gọi tông đồ dân ngoại (15,14-33). Tiếp đến giới thiệu chị Phêbê (là người đưa thư ?) và một danh sách chào thăm (16,1-16).  Cuối cùng, Phaolô kết thúc bằng cách cảnh giác chống lại những kẻ Do Thái hóa của cộng đoàn, bằng lời chào thăm vài người bạn đồng hành với Phaolô (16,17-230 và bằng vịnh tụng ca kết thúc lấy lại những chủ đề lớn trong Tin mừng của Phaolô (16,25-27)

CÂU HỎI BÀI SỐ 11

1.    Thư Rôma chương 6 giúp ta nắm bắt được tầm quan trọng của phép Rửa trong những điều gì ? Nó có cho ta một ý nghĩa luân lý kitô giáo không ?

2.    Đoạn Rm 8,14-27 có thể giúp chúng ta thực hiện cụ thể vai trò của Thánh Linh trong đời sống của chúng ta không ? như thế nào ?

3.    Các chương từ 12 đến 15 soi sáng gì cho đời sống kitô hữu của chúng ta ?

                        ----------------------------------

Bài đọc thêm

“Yêu thương là chu toàn Lề Luật” (Thơ Roma 13:10)

Những lời này kết thúc một đoạn dài trong lá thư gởi các tín hữu ở Roma. Trong thư thánh Phaolô trình bày cho ta thấy cuộc sống đạo như một cuộc sống yêu thương người anh chị em mình. Thực sự đó là việc thờ phượng tinh thần mới mà người tín hữu Kitô được mời gọi dâng lên Thiên Chúa dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần (Xem Rm 12:1), Đấng gợi lên điều đó nơi tâm hồn họ.

Tóm tắt lại nội dung đoạn này, thánh tông đồ khẳng định rằng lòng thương yêu người bên cạnh làm cho ta thực hiện được trọn vẹn, hoàn hảo ý Chúa chứa đựng trong Lề luật (nghĩa là những điều răn). Lòng thương yêu người anh chị em mình là cách thế tốt đẹp nhất, đích thực nhất để tỏ ra lòng ta yêu mến Thiên Chúa.


“Yêu thương là chu toàn Lề Luật”


Nhưng thực tế sự trọn vẹn và toàn hảo này hệ tại điều gì? Người ta nhận ra điều đó từ những câu trước, nơi thánh tông đồ vạch ra cho ta những diễn tả cùng hiệu quả khác nhau của lòng thương yêu này.

Trước hết lòng yêu thương người bên cạnh đích thực không làm điều ác (Xem Rm 13:10). Như vậy nó làm cho ta sống tất cả mọi điều răn của Thiên Chúa, không trừ một điều răn nào (Xem Rm 13:9), bởi vì trước tiên chúng hướng đến chỗ làm cho ta tránh xa tất cả mọi hình thức độc ác ta có thể làm cho chính mình và cho những người anh chị em mình. Sau đó, ngoài việc không làm điều ác nào, lòng thương yêu đó còn thúc đẩy chúng ta thực hiện tất cả những điều tốt mà người bên cạnh cần đến (Xem Rm 12:6-8).


Lời này thúc đẩy chúng ta đến lòng yêu thương liên đới cùng nhậy cảm đối với những nhu cầu, ước vọng, những quyền lợi chính đáng của người anh chị em mình; đến lòng yêu thương tôn trọng phẩm giá con người cùng phẩm giá Kitô; đến lòng yêu thương tinh tuyền, toàn diện, có khả năng chia sẻ, mở rộng đến mọi người, như Đức Giêsu đã dạy chúng ta.


Ta không thể thực hiện lòng yêu thương này, nếu ta không sẵn sàng vượt ra ngoài tính ích kỷ của mình và thái độ tự mãn của mình. Vì thế Lời này giúp chúng ta vượt trên tất cả mọi khuynh hướng ích kỷ (kiêu ngạo, tham lam, ưa khoái lạc, tham vọng, phù phiếm, v.v...), mà chúng ta mang trong mình và chúng tạo nên cản trở chính cho lòng yêu thương ấy (Xem Rm 12,9-21).


“Yêu thương là chu toàn Lề Luật”


Vậy làm sao chúng ta thực hiện được Lời sống trong tháng Giáng Sinh này? Bằng cách để ý đến những đòi hỏi khác nhau của lòng yêu thương người bên cạnh mà Lời Sống nhắc nhở ta.

Trước hết ta hãy tránh làm điều ác dưới mọi hình thức cho người bên cạnh. Ta hãy luôn luôn chú ý đến sinh hoạt nghề nghiệp của mình, đến môi trường nơi ta sinh sống. Điều kiện đầu tiên để thể hiện lòng yêu thương Kitô là không bao giờ đi ngược lại những điều răn của Chúa.

Hơn nữa ta hãy để ý đến điều tạo nên cái hồn, nên động lực, nên đối tượng của tất cả mọi giới răn. Như ta đã thấy, mỗi giới răn đều muốn đưa ta đến một lòng yêu thương càng ngày càng để ý hơn, càng ngày càng tế nhị và tôn trọng hơn, càng ngày càng cụ thể hơn đối với những anh chị em mình.

Cùng một trật ta hãy phát triển nơi mình tinh thần từ bỏ chính mình, vượt trên tính ích kỷ của mình, là điều đi liền với việc thực hiện lòng yêu thương Kitô. Như vậy chúng ta sẽ chu toàn ý Chúa trọn vẹn; sẽ chứng tỏ cho Người thấy lòng yêu thương của ta theo cách thế Chúa hài lòng nhất (Xem Rm 12:2).


“Yêu thương là chu toàn Lề Luật”


Đó là kinh nghiệm của một luật sư làm việc tại Bộ Lao động. Ông kể lại: “Một hôm tôi đưa cho ông chủ một hãng xưởng giấy tố cáo là công nhân của ông đã không được trả lương theo luật định. Sau mười bốn ngày không ngừng tìm tòi tôi tìm thấy những giấy tờ chứng tỏ sự lầm lỗi đó. Tôi cầu xin Đức Giêsu sức mạnh được trung thành với những lời của Người muốn tôi đối xử theo sự thật, và cùng một trật cũng là khí cụ cho tình thương của Người.


Trước những bằng chứng, người chủ hãng bào chữa nói rằng có một số luật xem ra không công bằng. Tôi cho ông ta thấy rằng những sai lầm của người khác không thể biện minh cho những lầm lỗi của ông. Trong câu chuyện sau đó tôi hiểu rằng ông ta có cùng những đòi hỏi về công lý và bình đẳng như tôi, nhưng ông đã để mình bị môi trường lôi kéo.

Cuối cùng ông bảo tôi: ‘Ông đã có thể dằn mặt tôi và đè bẹp tôi, nhưng ông đã không làm. Vì thế tôi có bổn phận luân lý là phải bắt đầu lại’. Tuy nhiên một việc khẩn cấp đang chờ đợi và ông không có giờ để làm giấy nhận lỗi. Vì thế ông lấy một tờ giấy trắng, ký tên và cho tôi thấy là ông sẵn sàng thay đổi ngay tức khắc”.


(Chiara Lubich)

LM Nguyễn Trung Điểm

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí