Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 11: Thiên Chúa mời gọi ta cho một dự án

Ơn gọi hiện hữu kéo dài thành ơn gọi hiệp thông với Chúa và với tha nhân. Có nghĩa là, cuộc sống là một thôi thúc xây dựng sao cho thành một hiệp thông toàn cầu, vì nó hàm chứa tính trung gian cho ơn mình đã nhận.

Trong Giáo hội tiên khởi, ta thấy mỗi kitô hữu là một sứ giả Tin Mừng bằng cả cuộc sốg chứng nhân. Chỉ cần đọc sách Công vụ để thấy Lời Chúa lan tỏa qua chứng từ của Nhóm Mười Hai và các tín hữu đầu tiên đuợc đầy sức mạnh Thánh Thần. Qua họ, lời Chúa Kitô hứa thành hiện thực :” Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Samari và cho đến tận cùng trái đất (Cv 1,8). Việc sai đi truyền giáo đó nằm trong ơn gọi của kitô hữu đã nhận Lời Chúa trong Giáo hội : “ Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. (Mt 28,20)

Trong sứ vụ đó, kitô hữu được bảo đảm về sự hiện diện và tác động của Chúa :” Vì Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’ (Mt 28,20). Qua phép rửa, được nên chi thể Đức Kitô trong nhiệm thể Giáo hội, mỗi kitô hữu được sai đi như Chúa Kitô vì phần rỗi thế giới. “ Toàn thể Kitô hữu là dấu chỉ và dụng cụ phần rỗi mọi người. (L.G,s.1)* ; không chỉ là dấu theo nghĩa biểu hiện tỏ rõ ơn cứu độ mà ai cũng được gọi tới, mà còn là dụng cụ nghĩa là phương thế hữu hiệu và cần thiết qua đó các kẻ chịu phép rửa có thể đạt tới.

Quả thế, mỗi người đều được mời gọi tự phát triển và lớn lên theo hướng vuợt qua để gia nhập vào Giáo Hội thật đầy trọn như Chúa Kitô. Từ đó con người được thăng hoa cách mới mẻ, cho nên họ hoàn trọn hơn, cho bản thân được phát triển tột bậc.” Do đó, con người chỉ được thành thân trong mức độ biết vượt qua và mở ra vô biên”(P.P,s15 và 16)** Tất cả cuộc sống con người từ lúc đầu thai đã được hướng về sự gặp gỡ đầytrọn với Chúa. (Gr 1,4-19).

Khi tạo dựng vũ trụ và loài người, Thiên Chúa mới khởi sự công trình để rồi đạt tới hoàn bị với sự hợp tác tự do và yêu thương của chính con người.

Trong dự kiến của Chúa được nên trọn trong Đức Kitô, con người nhận ra mình được gọi để nên con thật của Chúa (xem Gl 4,4-7 ; Rm 8,14-17). Thánh Phaolô đã làm chứng điều đó và tạ ơn một cách tuyệt đẹp :
Chúc tụng Thiên Chúa là Thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.
Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người.
Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu.
Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta đuợc cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người ..” ( Ep 1,3-7)

Thế là Đức Kitô trở nên trung tâm, mục đích, dự án của đới ta, và trong Người, ta được thông hiệp với Chúa:” Vì những ai Người đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc.” (Rm8,29). “ Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được Chúa đã hòa giải với mình. Nhờ Máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời “( Cl 1,19-20)

Sự thông hiệp trọn hảo với Chúa Kitô vinh hiển quả là dự án phức tạp cuối cùng của ta. Được hoàn toàn đổi mới trong Người, ta trở nên “con” cách trọn nghĩa và đuợc thông công quan hệ với Ba Ngôi. với chính sự sống của Thiên Chúa, biết Thiên Chúa và mến Thiên Chúa như Thiên Chúa biết và yêu ta. Ngay tại thế này, ta đuợc hưởng sự thông hiệp với Thiên Chúa nhờ ân huệ và các nhân đức Chúa ban. Nhưng trên thiên đàng vinh hiển, thì được hoàn hảo, khi Đức Kitô giao hoàn tất cả vương quyền cho Cha và lúc đó Thiên Chúa sẽ nên “tất cả trong muôn loài” (1Cr 15,28)

KẾT LUẬN

- Lời Chúa kêu gọi đến sự sống trước hết là một ơn nhưng không và tràn đầy tình thương đối với con người, để họ được thực hiện bản thân trọn vẹn trong tự do.
- Công trình đó chỉ thành sự thật trọn vẹn trong mức độ con người hiệp thông tình yêu với Chúa và tha nhân.
- Do đó ơn Chúa gọi không khiến ta xa lạ với cộng đồng nhân loại, trái lại cho ta gắn bó với nhân loại, liên đới với mọi người.
- Sự hiệp thông và con đuờng dẫn tới đó là độc nhất:” Đức Kitô”. Mỗi người phải lo thuộc về Người nếu không muốn hỏng mất ơn gọi làm người thật. Tham dự sự sống Đức Kitô là sống mầu nhiệm phục sinh, là chính nội dung thiết yếu của mọi ơn gọi.

.... Đó là nét thiết yếu của mọi ơn gọi kitô hữu thật, dù ở bậc nào, và trong hoàn cảnh cụ thể bản thân ta đang sống mà Chúa gọi ta. Từ các yếu tố nền tảng đó, ta có thể nêu tiếng “Xin Vâng” trọn vẹn vô điều kiện cho” vinh danh Chúa” như Đúc Kitô và nhờ ơn Người (2 Cr 1, 1-20)

CÂU HỎI BÀI 11

Bài học cho ta biết Chúa muốn ta sống hiệp thông với Chúa và tha nhân.
Bạn hãy đọc Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu : Mt 18,15-22

Bạn cảm nhận điều gì qua đoạn Tin Mừng này? Chúa Giêsu có muốn ta cắt đứt quan hệ với người xúc phạm ta không ?
 


Bài đọc thêm
CON NGƯỜI LÀ GÌ ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA


Con Người là chi mà Chúa cần nhớ đến,
Phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?
(Tv 8,5)

Lời nói đầu

Ta đọc trong kinh cầu Tên Đức Chúa Giêsu :” Chúa Giêsu là ánh sáng Đức Chúa Cha”
Ánh sáng đó soi cho ta bỏ được cái nhìn trần tục, đầy những “ tham, sân, si”- nói theo kiểu nhà Phật- làm cho ta nhìn người khác một cách vụ lợi, ghen ghét và ngu si. Không phải là vì người ta không biết yêu thương nhau , nhưng có yêu thương thì cũng chỉ hạn hẹp vào người trong gia đình, hay là người đồng đạo, ít khi có thật lòng quảng đại mở rộng ra với những người không quen biết. Hơn nữa, vì phải cạnh tranh sinh tồn, cho nên quen nghi ngờ người khác, thậm chí nhiều khi còn gán cho người khác những mưu mô ám muội, những ẩn ý độc ác, rồi cứ theo thiên kiến như thế mà cư xử, chứ không muốn nghe người khác phân trần, và ít khi tìm hiểu thị phi một cách khách quan. Từ đó thường sinh ra ghen ghét, xuyên tạc lời nói và công kích công việc người khác làm, cho rằng là do ác tâm.

Ánh sáng của Chúa soi cho ta để học cho biết nhìn người khác theo quan điểm của Chúa, theo như vận mệnh tốt lành mà Chúa muốn cho mọi người đạt tới. Thiên Chúa của chúng ta không phải như người ta thuờng quen quan niệm về các thần linh: hoặc là vô tình hoặc là đùa bỡn với số phận mong manh của con người, thậm chí còn ghen tương khi thấy con người được tốt đuợc hay ( Truyện Kiều , câu 6 “ Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”) Trong sách sáng thế ta thấy ngay từ đầu Chúa đã chúc phúc lành cho mọi người (1). Chúa muốn chúng ta bắt chước Người như thế, vì Người cho mặt trới mọc lên và cho mưa rơi xuống cho tất cả chúng sinh, cho người thiện cũng như người ác (Mt 6,43-48). Các giới luật của Chúa tóm lại chỉ là hai giới luật là mến Chúa yêu người , và hai giới luật này tựu chung cũng chỉ là một giới luật duy nhất. Cho nên khi Chúa Giêsu nói về cuộc phán xét chung, thì thực ra ta thấy chỉ xét về cách cư xử của ta với người khác mà thôi (Mt 25,31-46)

Nhưng ánh sáng đó không phải là từ một nơi xa xăm nào ở bên ngoài soi vào cho ta thấy rõ hơn các sự việc trong thế giới. Ánh sáng đó chính là từ cuộc đời của Đức Giêsu, cuộc đời của một người có tư cách, có nhân cách, đáng làm cho mọi người chung quanh để ý và muốn bắt chước. Người ta nhận ra tư cách của Người trước khi nhận ra nếp sống của Người phản ánh một cái gì đặc biệt, khác thường. Vì nhận ra cách cư xử của Chúa Giêsu, như ta thấy trong phúc âm, phản ảnh thái độ của Thiên Chúa đối với loài người ta, cho nên ta gọi Người là ánh sáng Đức Chúa Cha, là gương mọi nhân đức. Đó là thái độ tôn trọng người kkác:

· Người coi người khác là tốt đẹp, và sẽ còn tốt đẹp hơn cái hình ảnh do thiên kiến người đời vẽ ra, hơn cái định mệnh do hành động trong quá khứ gây nên.
· Gặp ai thì Người coi người ấy, cho dù có tội lỗi đến đâu, cũng vẫn còn có nhiều khả năng, nhiều hi vọng cải thiện.
· Người còn khám phá ra trong người ấy những điểm tốt mà không ai ngờ. Vì lẽ rằng Nhìn người ấy theo như quan điểm của Chúa Cha, theo như cái vận mệnh mà Chúa Cha muốn cho người ấy đạt tới.
Sau đây xin đề nghị một ít đoạn văn trong phúc âm mà ta nên suy gẫm để hiểu rõ thái độ của Chúa Giêsu, và dự định của Thiên Chúa về vận mệnh của con người. Vì:” Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đuờng lối các ngươi không phải là đường lối của Ta- đó là sấm ngôn của Đức Chúa” (Isaia 55,8)

Mấy lời đáng suy gẫm

Khi gặp người đàn bà ngoại đạo ở giếng nước ( Ga 4, 5-30) Người không nói: Mụ này nhẹ dạ, không đứng đắn, lại sống trong xã hội đồi tệ, thiếu đạo đức. trái ại Người xin Bà ấy cho uống nước và khơi mào nói chuyện đứng đắn về đạo giáo.

Khi nói về một người kỹ nữ (Lc 7,36-50), Người tuyên bố rằng những người như thế có nhiều may mắn đuợc vào nuớc trời hơn là những người giàu có, thông thái và làm nhiều việc đạo đức. Trong trường hợp tương tự, Người nói với các vị thượng tế và kỳ mục:” Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Chúa trước các ông…”( Mt 21, 31)

Khi phải xét xử một người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang (Ga 8,1-11) – ta chỉ lạ một điều là không thấy nói gì về người đàn ông tòng phạm!- Người bảo người đứng xem chung quanh:” Ai trong các ông sạch tôi thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” rồi nói với người đàn bà ấy:” Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”

Khi người đàn bà bị băng huyết chạm vào tua áo của Người để mong được lành mạnh, thì Người không nói rằng bà này bị loạn trí, trái lại nNgười nghe bà ấy phân trần và nói mấy lời yên ủi, rồi chữa cho lành (Mt 9,20-22)

Khi thấy một bà goá nghèo bỏ hai đồng tiền nhỏ vào hòm dâng cúng trong đền thánh, thì Người bảo đó là cử chỉ thật có giá trị và nên bắt chước (Mc 12,41-44)

Đứng trước một người mù từ thuở mới sinh, Người không bảo đó là tại tội người ấy hay là tại tội cha mẹ, nhưng Người tỏ ra rằng người ấy được Thiên Chúa yêu thương và cứu chữa ( Ga 9,1-41)

Khi người ta dãn trẻ em đến, Người không bảo đó chỉ là tụi con nít, tụi trẻ ranh, nhưng Người bảo phải để cho chúng đến với Người, và Người chúc lành cho chúng rồi nói:” Nước Trời thuộc về những ai giống như chúng” ( Mt 19, 13-15 và 18,1-7)

Trong ba dụ ngôn nói về lòng thương xót của Thiên Chúa ( Lc 15,1-32), Người nói khi có một người tội lỗi ăn năn sám hối thì trên trời vui mừng hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn (Lc 15,7). Rồi khi người con phung phí trở về thì người cha ra đón, làm tiệc ăn mừng, mà không trách móc hạch tội, hay là bắt đền gì cả (Lc 15, 11-32).

Trông thấy ông Da-kêu, Người không nói: Cái ông này là một công chức nịnh trên nạt dưới, bóc lột dân chúng. Nhưng Người tự mời đến chơi nhà ông ấy và nói nhà này được ơn cứu độ ( Lc 19,1-10).

Gặp người đại đội trưởng trong đội quân Rôma, Người không nói: Người này chỉ là quân xâm lăng, nhưng Người nói:” Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế “ (Mt 8,5-13)

Gặp ông Nicôđêmô, Người không nói : Ông này chỉ là hạng trí thức suông, ngưng Người chỉ lối cho ông ấy được sống một đời mới từ trên ban xuống (Ga 3,1-8)

Gặp lại Giuđa trong vườn, Người không nói: Đồ phản phúc ! nhưng đã hôn mặt chào hỏi và gọi Giuđa là bạn (Mt 26,48-50)

Trên thâp tự giá Người nói với người gian phi cùng bị tử hình :” Tôi bảo thât anh, hôm nay, anh sẽ ở với tôi trên thiên đàng.” (Lc 23,43)

Cũng trên thập tự giá, Người không nói: Hêrôđê chỉ là một ông vua bù nhìn, Philatô là một quan tổng trấn lưu manh, các thầy thượng tế là quan tòa gian ác, đám dân hò hét xin đóng đanh chỉ là mê muội, bọn lính là những người tàn ác. Trái lại Người thưa với Chúa Cha:” Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Gặp lại Phêrô, Người không nhắc lại ông này đã huênh hoang nói thánh nói tướng, nhưng chỉ hỏi rằng :” Anh có mến thầy hơn các anh em này không? “ ( Ga 21,15-17)

Nói tóm tắt

Chúa Giêsu tôn trọng và quí mến mọi người, Người không bao giờ nói : người này hay người kia, nhóm này hay nhóm kia, hoàn toàn là xấu, không có gì tốt cả, vì người ta ai cũng là hình ảnh Thiên Chúa và đuợc Thiên Chúa yêu thương.

Thật như ta đọc trong Kinh cầu : “Chúa Giêsu yêu mến chúng tôi” và “ Chúa Giêsu là gương mọi nhân đức”.

Gs Antôn Trần văn Toàn
( viết rộng ra theo bài suy gẫm của cố Hồng y Albert DECOURTRAI, TGM LYON )

(1) “ chúc lành” hay là “ban phép lành » là dịch chữ latinh “bene-dicere” ( Pháp:”bénir) có nghĩa gốc là nói lên cái tốt về người này hay người khác
 

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn