Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 10: Thư gửi tín hữu Rôma – phần 1

I.   CỘNG ĐOÀN TÍN HỮU RÔMA VÀ CÁC HOÀN CẢNH CỦA LÁ THƯ

Sự giàu sang của tất cả các quốc gia mà Rôma xâm chiếm được gây ảnh hưởng trên chính nó ; đồng thời dân chúng khắp bốn phương của đế quốc hội tụ về thành phố gồm người tứ xứ này và làm tăng dân số thủ đô của đế quốc. Vào thế kỷ thứ nhất, người ta ước tính có khoảng một triệu dân. Phần lớn thuộc tầng lớp dân giả (bình dân, nô lệ được giải phóng, nô lệ và di dân). Trong các tầng lớp thượng lưu, giai cấp truởng giả thượng viện mất đất vì lợi ích của giai cấp hiệp sĩ và những viên đội trưởng mới được thăng cấp. Vả lại, những người nô lệ được giải phóng dần dần chiếm được một tầm ảnh hưởng quan trọng trong cách hành xử thực tiễn những vấn đề chính trị và kinh tế.

Các nhóm đến từ phương đông thường tập họp lại thành từng khu, tạo thành một số dân đông đúc. Trong số họ, người Do Thái tạo thành một thuộc địa đặc biệt thuần nhất và quyền lực. Chỉ dụ của Claude (có lẽ vào khoảng năm 49) đuổi họ khỏi Rôma ; họ đã có thể quay trở lại sau cái chết của vị hoàng đế này (năm 54). Người ta biết rằng khi Phaolô thực thi sứ vụ ở Cô-rin-tô, ông đã gặp các thương nhân Do Thái có gốc tích ở Pont là Aquilas và Priscille, những người đã rời Rôma sau chỉ dụ của hoàng đế (Cv 18,1-3). Dường như những cuộc biến động nội bộ, điều gây ra chỉ dụ, đã xảy ra vì các tín hữu đến từ phương đông đã giới thiệu bài giảng kitô giáo : người ta không biết thêm điều gì về nguồn gốc của cộng đoàn kitô hữu địa phương.

Phaolô đã viết thư cho tín hữu Rôma trong những hoàn cảnh nào ? Người ta biết rằng vị tông đồ có lẽ ở Cô-rin-tô, tại nhà ông Gai-ô « người đón rước tôi và đón rước cả Hội Thánh trong nhà của anh » (Rm 16,23  1Cr1,14-15). Ông chuẩn bị đi Giêrusalem (Rm 15,25-33) (một số người nghĩ rằng cũng có thể ông đã đi ), với hoa trái của cuộc lạc quyên mà ông đã tổ chức ở Macédoine và ở Achaie vì lợi ích của « những người nghèo trong số dân thánh ở Giêrusalem » (Rm 15,26). Ông vừa ở Cô-rin-tô 3 tháng (Cv 20,3) vào cuối cuộc hành trình truyền giáo thứ ba. Trước đó vài tháng ông đã viết thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, Ga-lát và có lẽ cả Phi-lip-phê. Vì thế, ông đang trong giai đoạn năng động nhất của hoạt động tông đồ. Thư Rôma được viết có lẽ vào khoảng 57 hoặc 58, vào đầu mùa xuân, nghĩa là vào khoảng thời gian trong năm sự giao thông đường thủy khởi động lại sau những tháng ảm đạm mùa đông.

      Tóm lại, ta có thể xác định rằng trong cuộc đời và tư tưởng của Phaolô, đây là giai đoạn quyết định. Thật vậy, sau gần 15 năm, ông đã thành lập các cộng đoàn trên đất dân ngoại : ở Chypre, Pisidie, Lycaonie, Phrygie, Ga-lát, Macédoine, Achaie, Á châu. Hiện nay, các cộng đoàn này lớn mạnh và tăng trưởng nhưng vai trò sáng lập đã hoàn tất. Ông không thấy còn  việc gì dành cho mình ở miền đông Địa Trung Hải nữa và ông quay sang miền tây : ông định đến Tây Ban Nha qua đuờng Rôma (Rm 15,17-24  28-29 ;  Cv 19,21). Chuẩn bị đi đến thủ đô, ông viết cho Hội Thánh mà ông quen vài người anh em (Rm 16). Ông không phải là thủ lãnh của họ và thật tế nhị để dạy họ (Rm 15,20 ; 2Cr 10,13-17) ; ông chỉ đề nghị trao đổi với họ vài suy nghĩ về Tin Mừng (Rm 1,11-15). Nhưng thật ngạc nhiên, các suy nghĩ này có tầm phong phú đáng kể. Các khủng hoảng tế nhị ở Cô-rin-tô và Ga-lát vừa mới đặt Phaolô vào tư thế chủ động hoàn toàn trong tư tưởng : ông đã suy nghĩ lâu dài về mầu nhiệm ân sủng và sự công chính của Thiên Chúa và đã chín muồi trong tư tưởng. Lá thư thân mật này cũng mang những phần của một tổng hợp tín lý to lớn : phần sâu sắc nhất, phần xây dựng nhất, phần hài hòa nhất của các thư ông.

-----------------------------------------------------------------------------------

Dàn bài thư gửi tín hữu Rôma

Mở đầu : chào thăm (1,1-7 ) và tạ ơn (1,8-15)

Tin mừng, sức mạnh của Thiên Chúa cho tất cả mọi người tin (1,16 – 11,36)

1.    Do tin vào Tin Mừng, con người vượt qua cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đi đến sự công chính cứu rỗi của Người (1, 18 – 4,26)

a)  Cơn giận của Thiên Chúa bày tỏ trên dân ngoại và trên dân Do thái (2,1 – 3,20)

b)  ….. Nhưng sự công chính của Thiên Chúa đã tỏ hiện (3,21 – 4,25)

2.    Đức Kitô, bằng cách đem sự công chính đến cho mọi người tin, đã thay thế thể chế tôn giáo của Lề Luật, bằng thể chế của Thánh Linh  (5,1-8  , 39)

3.    Sự khước từ tạm thời Chúa Giêsu là Đấng Mêsia của Israel không làm cản trở kế hoạch cứu độ hoàn vũ của Thiên Chúa (9,1-11, 36)

a)  Sự bất trung của dân được tuyển chọn (9,1-330

b)  Sự thiếu hiểu biết không thể tha thứ được về sự công chính của Thiên Chúa (10,1-21)

c)   Kế hoạch của Thiên Chúa và tương lai của Israel (11,1-36)

 Phần khuyên nhủ (12,1-15.13)

  1. Áp dụng cho suốt đời kitô hữu (12,3 – 13,14)

a)  Nguyên tắc cho đời sống cộng đoàn (12,3-21)

b)  Nguyên tắc cho thái độ đối với nhà cầm quyền (13,1-7)

c)   Trở lại nguyên tắc cho đời sống cộng đoàn

  1. Áp dụng riêng cho cộng đoàn Rôma (14,1-15 , 13)

Phần kết thúc (15, 14-16.23)

  1. Dự tính cá nhân (15,14-33)
  2. Giới thiệu và chào thăm (16,1-16)
  3. Tái bút (16,17-23)
  4. Vịnh tụng ca (16,25-27)

-----------------------------------------------------------------------------------

II.             PHÂN TÍCH

Mở đầu : chào thăm (1,1-7) và tạ ơn (1,8-15)

Lời chào thăm với giọng văn trang trọng, trình bày chủ định của Thánh Phaolô nhấn đến nội dung thần học phong phú của lá thư : Tin Mừng được các tiên tri loan báo đã thể hiện nơi Đức Kitô, thuộc dòng dõi Đavít, nhưng xét như Đấng sống lại trong tư cách Đức Chúa, với quyền năng thánh hóa chúng ta nhờ Thánh Thần. Phaolô đã được chọn để rao giảng Tin Mừng này cho dân ngoại trong đó có dân Rôma. Đó là lý do vì sao, với lời tạ ơn về lòng tin của họ, Phaolô muốn đến thăm họ trong chương trình của ông, vì ông mắc nợ mọi người, Hi lạp hay man di, thông thái hoặc dốt nát (1,8-15)

TIN MỪNG , SỨC MẠNH CỦA THIÊN CHÚA CHO MỌI NGƯỜI TIN (1,16 – 11,36)

Lời đề nghị định nghĩa Tin Mừng của Phaolô (1,16-17) không chỉ là một lời tuyên xưng đức tin ; nó được triển khai trong suốt phần thứ nhất (1,18-11,36). Phaolô giải thích rằng Đức Kitô đề nghị ơn cứu độ cho tất cả mọi người, Do Thái hay không Do Thái, nhưng chỉ với thể chế tôn giáo của lòng tin. Lời giải thích triển khai thành ba nhánh nhỏ : 1,18 – 4,25 ; 5,1-8,39 ; 9,1-11,36

1.    Bởi tin vào Tin Mừng, con người vượt qua cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đi đến sự Công chính cứu rỗi của Người (1,8-4, 26)

a)  Mọi người đều là đối tượng của cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, không thể tự vươn tới sự công chính : đó là điểm thứ nhất. Phaolô diễn giải qua 2 giai đoạn : cho người ngoại và cho người Do thái.

      Người ngoại (1,18-32) không thờ phượng Thiên Chúa và không tạ ơn Người, điều rất riêng của con người tôn giáo. Họ chối bỏ sự hiện hữu hợp pháp của Thiên Chúa mà lẽ ra họ có thể chiêm ngắm trong tạo thành. Hậu quả là họ rơi vào sự tội. Ở đây Phaolô dùng từ ngữ khôn ngoan để lên án sự ngu dại của con người chối bỏ việc nhận biết Thiên Chúa, và để diễn đạt một trong những luồng tư tưởng lớn về tôn giáo của ông : phải lựa chọn giữa Thiên Chúa là Đấng Khôn ngoan và Cứu Độ hay là sự khôn ngoan thế gian là hư ảo và điên rồ.

Người Do thái cũng xa rời ơn cứu độ như những người khác, bất chấp việc họ nhận biết lề luật và thực hành cắt bì : ở đây Phaolô bác bỏ những tham vọng Do Thái : không có Lề luật, không có tên Do Thái, Không có chuyện cắt bì thì không bị phán xét. Người Do thái có luật, nhưng dân ngoại có lương tâm (2,12-16). Người Do thái tự hào về ưu thế tôn giáo, nhưng tội lỗi của họ báng bổ Thiên Chúa nơi dân ngoại (2,17-24). Người Do thái được cắt bì, nhưng cắt bì thực sự là cắt bì trong tâm hồn

(2,15-29). Nói chung, theo những gì Kinh thánh nói, thì tất cả mọi người đều là tội nhân và đáng bị lên án trước mặt Thiên Chúa (3,4-20)

b)  Sự công chính của Thiên Chúa tỏ hiện (3,21-4,25) : đuợc Lề luật và các tiên tri loan báo, sự công chính này tỏ hiện vào thời đại Mêsia trong cái chết đẫm máu của Đức Kitô, là lời chúc phúc cho những kẻ tội lỗi có lòng tin vào Người. Thiên Chúa cũng bày tỏ kế hoạch công chính hoá (cứu độ) những ai tin vào Đức Giêsu (3,21-26). Bài thuyết trình dày đặcTin Mừng của Phaolô gợi lại các đề tài căn bản, diễn đạt bằng một ngôn ngữ vay muợn của Kinh Thánh (công chính, cứu rỗi, chúc phúc), nhưng nó cũng lấy lại những đề tài truyền thống kitô hữu sơ khai, mở rộng thêm suy tư tôn giáo của vị tông đồ và thích nghi với một chân trời mới. Chữ “đức tin” được lặp đi lặp lại như một điệp khúc.

Trong câu 3,27, lấy lại cuộc tranh luận với người Do thái, Phaolô miêu tả sự thất bại của công chính bởi việc làm, trước sự công chính bởi đức tin (3,27-31). Dựa trên lập luận này, ông bình giảng về gương của Abraham (St 15,6) như là một trường hợp Thiên Chúa tha thứ cho một người tội lỗi (Tv 31,1-2) (4,1-8). Trước lúc cắt bì, Abraham đã là cha của kẻ tin  cắt bì cũng như không cắt bì (4,9-12). Gia tài Thiên Chúa hứa ban cho kẻ đến với Người bằng sự công chính của Lề Luật, không kể đến Lế luật, chỉ là sự thịnh nộ (4,13-17). Đức tin của Abraham là mẫu gương  của chúng ta, điều “làm ông trở nên công chính” (4,18-22). Và chúng ta cũng vậy, đức tin của chúng ta vào Đức Kitô cũng làm cho chúng ta nên công chính theo cùng một cách thức (4,23-25). Đã trình bày sự công chính mới, Phaolô sẽ miêu tả sự phong nhiêu của nó.

CÂU HỎI BÀI SỐ 10

  1. Đoạn văn  Rm 1,18-32 cho phép chúng ta hiểu rõ hơn ý nghĩa của tội như thế nào ?
     
  1. Dưới ánh sáng của chương 2, các đòi buộc đặc biệt nào ta phải cân nhắc về việc hiểu biết Tin Mừng và sự hiệp thông vào mầu nhiệm kitô giáo?
     
  1. Câu hỏi tùy chọn:  Có thể Thánh Phaolô hình thành ý nghĩa của đức tin (Rm 4 ) nhờ vào một số đoạn trong Cựu ước , thí dụ : Is 7; 9 ; 8,6-10 ;  28,16 ; 30 ;  Habacuc 2,4 ;  Tv 116,10. Các đoạn văn trên làm rõ ý nghĩa của đức tin như thế nào ?
PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí