Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 05: Mười Điều Răn

Trong Kinh thánh, ông Mô-sê đã giới thiệu mười điều răn như dấu chứng cụ thể hóa giao ước chung cuộc giữa Thiên Chúa với Dân Người. Thiên Chúa đã tuyển chọn một dân tộc để cứu độ và dẫn đưa họ về Đất Hứa. Thập giới là hiến chương của giao ước. Kinh thánh ghi lại hiến chương này nhiều lần, như ở các đoạn : Xh 20, 1-17 và Đnl 5, 1-22.

Thập giới được giới thiệu bằng một câu, như một lời công bố, dẫn nhập và chiếu soi toàn bộ phần còn lại của văn bản. Câu này gợi lên danh của Thiên Chúa Ít-ra-en và sự kiện Thiên Chúa đã giải phóng dân Người : “ Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ.” ( Xh 20, 2)

Thiên Chúa đã không nói “ngươi mắc nợ” nhưng Người nói : “Ta đã giải phóng ngươi”. Và dân ta đã đáp trả lại bằngthái độ yêu mến, cậy tin.

Qua việc giải phóng dân, Người biết họ yếu đuối. Vì thế Người ban cho họ mười điều răn để cứu vớt sự tự do của họ và giúp họ luôn vượt thắng. Nếu dân tuân giữ hiến chương Thiên Chúa ban cho họ , họ sẽ được nếm thử sự tự do thật. Hiến chương không phá vỡ bất cứ cái gì thuộc con người. Ngược lại nó thanh luyện, củng cố và nâng con người lên.

 Với thập giới, con người ngày càng ý thức hơn đòi hỏi của giao ước. Cùng một trật, thập giới vừa là mặc khải của Thiên Chúa cho con người, vừa là khám phá của con người về những đòi hỏi của Thiên Chúa.Thập giới được thiết lập ngay từ bên trong mối tương quan giữa Thiên Chúa với dân Người.

Ngày nay, người ta có xu hướng gạt thập giới của Thiên Chúa qua một bên. Người ta không còn thấy Thiên Chúa của giao ước mà chỉ thấy khuôn mặt của Thiên Chúa độc tài, áp đặt các luật lệ. Thập giới tự nó là hiến chương của sự sống, là lời mời gọi bước đi trên con đường thánh thiện.

Luân lý của thập giới là luân lý đặt trên Giao ước . Tương quan giữa Thiên Chúa và con người, dưới dạng lời nói và hành động, khơi dậy một kiểu sống.

Thập giới ghi trên bia đá, cho ta hai nhóm điều răn :

Bia thứ nhất liên quan đến mối tương quan giữa cộng đoàn và Gia-vê, tương quan giữa con người với Thiên Chúa , nhấn mạnh phải nhìn nhận một Thiên Chúa duy nhất.

Bia thứ hai gồm những tương quan giữa các thành phần của cộng đoàn, nghĩa là tương quan giữa con người với nhau.

Việc sắp xếp thập giới trên hai bia đá như thế muốn nói lên một quan điểm nào đó của giao ước : Ít-ra-en là dân Chúa chọn, dân này có tương quan với Thiên Chúa là Đấng đã lựa chọn họ. Đồng thời, dân phải được cứu thoát và tự trong lòng dân phải có thái độ đúng đắn chi phối các mối tương quan giữa người với người.

Lợi ích kép này được lấy lại từ trong tân ước ưới dạng điều răn kép, điều răn tóm lược mọi lề luật ( Mt 22, 34-40)

 Khi đọc mười điều răn , chúng ta cần lưu ý :

-         Không dễ dàng liệt kê sự khác biệt giữa điều răn 1, 2 và 3. Điều răn thứ nhất liên quan đến việc thờ kính một mình Gia-vê. Điều răn này đưa đến việc cấm tạc tượng và thờ cúng tượng ; cũng cấm mọi sự xúc phạm đến Thiên Chúa (cấm kêu tên Chúa vô cớ)

-         Có thêm vào : “Vì Ta … Ta là Thiên Chúa ghen tương” (Đnl 5, 9-10), nhắc nhớ chủ đề tình yêu gợi hứng cho Giao ước. Thiên Chúa ghen tương vì Người yêu con người. Thiên Chúa phạt tội vài người (c.5) nhưng ban ơn cho hàng vạn người (c.10)

-         Động cơ của ngày hưu lễ (Đnl 5, 12-15) phát triển dài lâu (Xh 20, 8-11). Nếu so sánh hai bản văn của sách Đệ nhị luật và sách Xuất hành, thì ta thấy rõ động cơ của ngày hưu lễ được xem như để tưởng nhớ việc giải phóng khỏi Ai Cập và mang đậm nét xã hội : phải có cách ứng xử giữa chủ - tớ. Bản văn trong sách Xuất hành đưa về việc tạo thành : Thiên Chúa nghỉ ngơi. Ở đây nổi bật lên ý nghĩa phụng vụ : Ngày hưu lễ dành cho Chúa, không cho bất cứ việc gì khác.

-         Sáu điều răn khác nối tiếp nhau. Lưu ý điều răn 2 thứ năm, dưới dạng chúc lành “để được sống lâu”

-         Mười điều răn có một chu kỳ tiêu cực, tương ứng với các điều kiện tối thiểu của Giao ước. Nhưng truyền thống đã giải thích theo hướng tích cực, làm phong phú thêm lên. Ví dụ như : “ Chớ giết người” trở thành “thăng tiến đời sống”;chớ ngoại tình” trở thành “thiết lập một đôi chung thủy”. Kiểu biến đổi này được thánh Phaolô làm rõ trong Rm 13, 8-9.

Dưới chân núi Sinai, Mô-sê đưa cho dân hai bia đá (Xh 19-20). Dân tích cực đáp lại Giao ước với Thiên Chúa. Một tiệc Giao ước đã diễn ra : nghi thức rẩy máu trên bàn thờ và trên dân chúng (Xh 24, 1-11) biểu trưng cho việc kết hợp giữa Thiên Chúa và người tham dự (bàn thờ tượng trưng cho Thiên Chúa ).

Việc viết ra mười điều răn, việc xây mười hai trụ đá (Xh 24,4) và việc làm mới lại bữa tiệc chứng nhận cho tính cách bền vững của giao ước giữa Thiên Chúa với dân Người : “Mệnh lệnh tôi truyền cho anh em đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên trời. Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển. Thật vậy Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành.” (Đnl 30, 11-14)

CÂU HỎI BÀI SỐ 5

1.      Bạn đọc bản văn Thập giới trong sách Xuất hành (Xh 20, 1-17) và sách Đệ nhị luật (Đnl 5, 1-12). Hãy giải thích động cơ (hoặc động lực) đi kèm với các điều răn (xem Đnl 6,1-25)

2.      Cựu ước thường ca ngợi những người khôn ngoan sống theo lề luật và tìm thấy niềm vui nơi lề luật như trong Thánh vịnh (Tv 15) hoặc trong I-sai-a (Is 33, 14-17)

Người khôn ngoan có phải là người tuân giữ cách tỉ mỉ hàng ngàn chi tiết hay là người đã tìm thấy sự thống nhất trong đời sống của mình ?

Theo bạn, phải khôn ngoan như thế nào mới thích hợp với đòi hỏi của Tin mừng ?

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn