Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 04: Luân lý của Tin Mừng

 

            Nếu muốn đặc trưng hoá nền luân lý Tin Mừng chỉ bằng hai từ, thì người ta có thể nói hai từ đó là : ân sủng và lời mời gọi.

            Bằng cả cuộc sống, bằng mọi hành động cũng như bằng tất cả lời dạy dỗ, Đức Giêsu đã đặt sự hiện diện của Kitô giáo dưới dấu hiệu của ân sủng và lời kêu gọi tin vào Tin Mừng. Quả vậy , Đức Giêsu đến trần gian , mặc lấy thân xác loài người đã trở thành một sự kiện mới mẻ : chính Thiên Chúa đến giữa chúng ta : “ Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng ” (Mc 1, 15)

Vì Thiên Chúa hiện diện ở đó, trong nước của Ngài, nên chúng ta hãy nhanh chóng khuôn rập đời sống mình theo những đòi hỏi Đức Giêsu đã loan báo : “Anh em hãy yêu kẻ thù, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hày giơ cả má bên kia nữa. Ai xin, thì hãy cho – Ai muốn theo tôi , phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo – Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không thích hợp với nước Thiên Chúa ” (Lc 6, 27-38 ; 9, 23-26 ; 9, 57-62)

Những lời mời gọi này của Đức Giêsu diễn tả một căn cốt, một sự đòi hỏi không thể lơ là. Nó không cho phép chúng ta bằng lòng với chính mình, như lời thánh Luca nhắn nhủ : “Đối với anh em cũng vậy : khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói : chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.” (Lc 17, 10)

Những lời này cũng cho chúng ta thấy ý nghĩa luân lý của Tin Mừng : nó là một sự đòi hỏi và vượt xa những gì chúng ta có thể làm tốt hơn. Tuy nhiên : “Những đòi hỏi bề ngoài xem ra có vẻ khắt khe và nghiêm túc này lại hàm ý bên trong hình ảnh Nước Thiên Chúa trao ban cho chúng ta một viễn cảnh viên mãn và thành toàn vì đây chính Thiên Chúa ” (C.H.DODD. Morale de l, Évagile, Coll. “Livre de Vie 118, Paris, Plon, 1958, p.75” )

Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Ngài cho anh em” (Lc 12, 32)

Qua Đức Giêsu , Thiên Chúa ban ân sủng cho chúng ta. Từ “ân sủng” trong Tin Mừng diễn tã ơn ban nhưng không (không cần đáp trả, không có điều kiện), tràn đầy, diễn tả lòng yêu thương vô bờ (Lc 1,30 ; 2, 40-52), lòng trắc ẩn, sự thứ tha của Thiên Chúa (Lc 5,32). “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời .” (Ga 3,16)

Kitô giáo là sự sống của Thiên Chúa và bằng tình yêu, Thiên Chúa đã ban nhưng không sự sống này qua việc trao hiến bản thân, trao ban người Con duy nhất cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa đã trao cho chúng ta như vậy, thì chúng ta cũng phải có khả năng trở nên “ơn sủng” cách nhưng không ; để rồi từ đó có thể chuyển ban ân sủng đã nhận được thành sự sống cho mọi người, theo gương của Đức Giêsu (Ga 13, 15-34)

Cuộc sống mới trong tình yêu này được các thư trình bày chi tiết và cụ thể hơn. Thánh Phaolô, thánh Gioan, thánh Giacôbê, thánh Phêrô đã chỉ rõ chiều kích cụ thể luân lý của Tin Mừng: 

- Là sức mạnh của Thiên Chúa , Tin Mừng giải thoát con người khỏi sức mạnh của sự chết (Rm 6, 12-24 ; 7, 5-6 ) và làm sống lại nơi con người sự sống của Thiên Chúa trong sự tự do của Thần Khí (Rm 8, 10-17). Để sống cuộc sống làm con Thiên Chúa , chúng ta phải có một đời sống chính trực, trung thành với hai mặt của giới luật đó là tin vào Đức Giêsu , Con Thiên Chúa và có lòng thương mến tha nhân (Ga 1, 3-17). Xem thêm (Gc 1, 27-29)

- Lời Chúa phải được đem ra thực hành, phải là động lực để hoàn thiện những công việc tốt (Gc 1, 22-27 ; 2, 10-26)

- Cuối cùng niềm tin phải được vững mạnh trong thử thách, có Đức Giêsu là gương mẫu (1 Pr 2, 21-25 ; 3, 18 ; 4, 1); niềm tin ấy là sự tỉnh thức và là lời cầu nguyện trong việc trông chờ Thiên Chúa  quang lâm (Ga 5, 13-18 ; 1 Pr 4, 7-11) 

Những mệnh lệnh này không phải là những nguyên lý, những quy tắc hạnh kiểm chính xác. Tin Mừng không như một thứ quy tắc, một bộ lề luật mới, nhưng là một hướng đi, là một con đường. Con đường của công lý, của lòng trắc ẩn, yêu thương của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã đi. Con đường này, chính là Đức Giêsu. Chính Ngài đã đi hết chặng đường , chính Ngài đã sống trọn vẹn giá trị của tình yêu (Ga 13, 1). Còn chúng ta, theo như lời thánh Phaolô nói, chúng ta phải cố gắng hết sức để đạt được mục đích này (Pl 3, 13-14).

            Trong cuốn chú giải về “Người cha nhân hậu” (Lc 15, 11-32), tác giả Chanoine Guelluy đã diễn tả một khía cạnh năng động của tình thương Thiên Chúa trong cuộc sống Kitô hữu của chúng ta như sau : “ Người cha chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ”.  Đó là người cha chạy ra và như chúng ta biết thời đó với một người chủ trong gia đình thì hành động này thể hiện sự trút bỏ phẩm cách của mình. Nếu như người con có chạy đến với cha mình, thì cũng là vì người cha đang chạy đến với anh … Người con nhận thấy người cha đang đến với mình như ông đã từng đến với anh khi còn nhỏ. Đứa trẻ chập chững bước đi không phải vì nó biết dùng chân  để đi, hay vì chân đã khoẻ, nhưng vì não bộ kích hoạt : hãy vượt thắng nỗi sợ. Nghĩa là việc bước đi chính do con tim quyết định. Đứa trẻ có những cơ năng để bước đi, nhưng lại không dám, vì nó sợ. Để rồi một ngày, nó bước đi được vì nó không còn sợ nữa : nó đã vượt thắng được, nó giang cánh tay về phía cha mẹ nó, nó vâng theo sự vẫy gọi của cha mẹ : nó không còn nghĩ đến bản thân, nhưng chỉ nghĩ tới cha mẹ nó, nó đã cất bước .. mà chẳng nghĩ gì đến hành động ấy.

             Đời sống Kitô hữu không phải là chuyện tự mình cố gắng chiến thắng bản thân, song là đón nhận sự thúc đẩy từ trái tim của Thiên Chúa . Đời sống kitô hữu là đón nhận Thần Khí.

CÂU HỎI BÀI SỐ 4

  1. Cựu Ước diễn tả một Thiên Chúa “đầy lòng nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu lòng nhân nghĩa và thành tín”. Bạn đọc sách Xuất hành : (Xh 34, 6-9). Qua đoạn văn này, bạn giải thích thế nào về lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa ?
  1. Bạn đọc thư Rôma :

-         Rm 8, 32

-         Rm 11, 5-6

-         Rm 12, 5-8

Thánh Phaolô đã trình bày lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa với những nét đặc trưng nào ?


Bài đọc thêm

ĐỨC TIN ĐÒI SỰ CAN ĐẢM VÀ LÀ PHƯƠNG THUỐC CHỮA LÀNH NHỮNG VẾT THƯƠNG LÒNG

Một trong những nhu cầu sâu xa nhất của con người là nhu cầu được quí trọng. Mọi người đều muốn mình có giá trị. Điều đó không có nghĩa là mọi người muốn người khác khen mình là tuyệt vời. Đó cũng là một khát vọng nhưng không phải là điều chúng ta muốn nói ở đây. Chúng ta có thể nói rằng mọi người muốn mình được yêu. Nhưng nói như vậy xem ra có vẻ mơ hồ vì có nhiều loại tình yêu khác nhau giống như nhiều loại hoa. Đối với một số người, tình yêu là một cái gì đam mê. Với số người khác, tình yêu là một cái gì lãng mạn. Nhưng với số người khác nữa, tình yêu là một cái gì liên quan đến tình dục. Tuy nhiên, có một tình yêu sâu xa hơn, chân thật hơn, đó là sự chấp nhận. Mọi người đều muốn mình được chấp nhận. Không có gì trong đời sống con người có một ảnh hưởng lớn lao và lâu dài như cho bằng cái kinh nghiệm bị khước từ không được người ta chấp nhận. Khi tôi không được chấp nhận, có một cái gì trong tôi bị đỗ vỡ. Một đứa trẻ sơ sinh không được chấp nhận sẽ bị sẽ bị tiêu huỷ đi ngay từ lúc ban đầu. Một học sinh không được thầy cô chấp nhận sẽ không muốn đến trường. Một công nhân không được đồng bạn chấp nhận sẽ không muốn đến sở và cảm thấy buồn chán khi ở nhà. Lịch sử các tù nhân cũng cho thấy rằng họ đã sống cuộc đời lang thang nay đây mai đó với đủ mọi hạng người và phạm đủ mọi thứ tội là vì không có ai thật sự đã chấp nhận họ. Cũng vậy, khi một tu sĩ cảm thấy mình không được chấp nhận bởi cộng đoàn của họ, họ sẽ cảm thấy buồn chán và sẽ ly khai khỏi cộng đoàn. Một cuộc đời không có sự chấp nhận là một cuộc đời trong đó nhu cầu căn bản nhất của con người không được đáp trả.

Chấp nhận có nghĩa là những người tôi sống với, mang lại cho tôi một cảm giác kính trọng, một cảm giác mà mình còn có giá trị chứ không phải hoàn toàn vô dụng. Chấp nhận cũng có nghĩa là tôi được chào đón như tôi hiện là. Điều đó có nghĩa là dẫu cho mọi người đều ước muốn tôi trưởng thành hơn, đều muốn tôi nên tốt hơn, muốn tôi hoàn thiện hơn, nhưng tôi không bị bắt buộc. Tôi không bị bó buộc phải là người của khuôn mẫu mà họ muốn. Tôi không bị đóng khung bởi cái quá khứ hoặc hiện tại của tôi. Nhưng tôi luôn được cho một khoảng trống để tôi có thể lớn lên , để tôi có thể ra khỏi những sai lầm của quá khứ. Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng chấp nhận là một sự vén màn. Mọi người được sinh ra với nhiều khả năng khác biệt. Nhưng ngoại trừ họ được lay động, được đánh thức, được khích lệ bởi sự chấp nhận của người khác, họ sẽ mãi mãi nằm yên ngủ. Sự chấp nhận làm thức tỉnh những gì đang nằm yên nghỉ trong tôi. Chỉ khi tôi được yêu trong cảm giác sâu xa của sự chấp nhận hoàn toàn đó, tôi mới có thể trở nên chính con người đích thật của tôi. Tình yêu và sự chấp nhận của những người khác làm cho tôi trở thành một con người độc đáo đích thật của tôi. Khi một người được quí trọng bởi công việc họ làm, họ không có cái gì độc đáo, vì người khác cũng có thể làm được điều đó và có khi còn làm trội vượt hơn họ. Nhưng, khi một người được yêu không phải bởi công việc họ làm mà là bởi chính họ, bấy giờ họ trở thành một cái gì cá biệt, độc đáo mà không ai có thể thay thế họ được. Và tôi cần một sự chấp nhận như thế để tôi trở thành cái đích thật và cá biệt của tôi. Một người được chấp nhận  là một người hạnh phúc, một người được giải thoát, một người có thể lớn lên với cái bản lĩnh độc đáo của mình.

Chấp nhận một người không có nghĩa là tôi chối từ những khuyết điểm của họ, cũng không có nghĩa là tôi cắt nghĩa một cách sai lệch, hoặc cắt nghĩa một cách qua loa những khiếm khuyết đó. Chấp nhận cũng không có nghĩa là xem mọi sự họ làm đều tốt đẹp. Nhưng ngược lại thì đúng hơn. Khi tôi chối từ những khuyết điểm của một người là tôi không chấp nhận họ. Tôi đã không chạm đến chiều sâu của con người đó. Chỉ khi nào tôi chấp nhận những khuyết điểm của họ, tôi mới thật sự là chấp nhận họ.

Nếu nói trong cách tiêu cực thì sự chấp nhận có nghĩa là tôi không bao giờ cho một người nào cái cảm giác rằng họ không có một giá trị nào cả. Không mong đợi một cái gì nơi một người là giết họ, là làm cho họ chết khô vì họ không còn chút sinh lực nào để tồn tại và tăng trưởng. Và đây là triệu chứng của những người không được chấp nhận :

v     Ngạo đời : Trong một trạng thái bất cần đời họ tự gán cho mình những lời ca tụng mà họ luôn ước muốn.

v     Cứng nhắc : Thiếu sự chấp nhận gây nên sự thiếu an toàn trong cuộc sống. Vì thế, khi phải giải quyết vấn đề họ luôn cứng nhắc, thiếu uyển chuyển.

v     Mặc cảm tự ty.

v     Thủ dâm : Tận đáy lòng họ cảm thấy thiếu thốn mọi sự đến nỗi họ ước muốn có bất cứ cái gì họ có thể lấy được từ cuộc sống một cách thế dễ dàng nhất.

v     Sợ hãi : Họ muốn được để ý một cách thái quá vì cảm thấy mình bị đe doạ. Có khuynh hướng khuếch đại. Hay nghi ngờ người khác.

CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ĐỂ GIÚP HỌ ?

Chúng ta phải giúp họ nhận thức được điều này là : “Cho dẫu mọi người đều khước từ, bỏ rơi, không chấp nhận tôi, tôi vẫn được chấp nhận bởi Thiên Chúa “như tôi hiện là” mà không có một đòi hỏi nào cả. Thiên Chúa không ra điều kiện : Ngài sẽ yêu khi tôi trở thành một con người tốt. Không, “Cái tôi sẽ là” là một cái gì chưa có thật, một cái gì còn trống rỗng và có thể tôi sẽ chẳng bao giờ trở nên được như vậy. Tôi biết rằng trong thực tế, tôi không đi con đường ngay chính. Có nhiều khúc quanh, có nhiều ngã rẽ cộng với những yếu hèn và quyết định sai lầm của tôi đã đưa tôi đến chỗ mà bây giờ tôi đang đứng. Nhưng Kinh thánh cũng đã nói cho tôi rằng : “Chỗ tôi đang đứng là đất thánh” (Xh 3:5). Và cũng hãy nhớ rằng : “ Thiên Chúa biết tên tôi. Ngài đã viết tên tôi vào lòng bàn tay Ngài. Ngài không bao giờ nhìn vào bàn tay Ngài mà không nhìn thấy tên tôi ” (Is 49:16). Và tên tôi chính là tôi. Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa luôn biết rõ tôi.

Thánh Augustinô nói : “Một người bạn thật là một người biết rõ mọi sự về bạn mà vẫn chấp nhận bạn”. Đó là điều mơ ước của con người. Con người mơ ước: Một ngày nào đó mình gặp được một người mà mình có thể chia sẻ được, người đó thật sự hiểu mình, hiểu được những lời mình nói, người đó biết để ý, biết lắng nghe mà còn nghe rõ những điều mà mình không thể nói lên được. Và Thiên Chúa chính là điều mà mình đang mơ ước đó. Ngài yêu tôi với tất cả những cái cao đẹp cũng như với những yếu hèn của tôi. Ngài yêu tất cả : từ những ước mộng không thành của tôi, đến những hi sinh nhọc nhằn cay đắng của đời tôi, những niềm vui nho nhỏ của thành công cũng như những thất bại đắng cay ê chề của cuộc đời nữa. Vì thế đối với tôi chỉ có một điều cần biết là : tôi đã được chấp nhận và yêu thương bởi tình yêu sâu xa của Thiên Chúa . Thật ra chưa đủ : nếu chúng ta chỉ biết tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, mà chúng ta còn phải cảm nghiệm, phải chạm đến tình yêu đó nữa. Cuộc sống của chúng ta cần phải xây dựng trên tình yêu đó.

            Chúng ta thường được nói rằng: yêu Chúa là điều quan trọng đối với chúng ta và điều đó là đúng. Nhưng điều này còn quan trọng hơn: đó là Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa đến sau. Thánh Gioan đã nhấn mạnh đến tình yêu: “Đây là tình yêu, tôi muốn nói, không phải tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa , mà là tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta ”(1 Ga 4:10). Karl Rahner đã một lần ghi nhận rằng chúng ta đang sống trong một thời đại có rất nhiều sự cải tổ trong giáo hội. Đây có thể là một dấu chỉ của một niềm tin sâu xa. Nhưng cũng có thể là dấu chỉ của sự thiếu niềm tin. Và đâu là niềm tin ? Niềm tin căn bản của chúng ta là: tôi biết mình được chấp nhận và yêu thương bởi Thiên Chúa . “ Chúng ta đã biết và tin vào tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta ” (1 Ga 4:16). Và đây cũng là nội dung của toàn thể bản kinh Tin Kính của các Tông Đồ. Nội dung đó không có gì khác hơn là sự xác tín được lập đi lập lại của các Tông Đồ về niềm tin vào tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta

            Một niềm tin như thế , theo Tillich, phải có sự can đảm để chấp nhận. Chúng ta thì nghĩ rằng niềm tin như thế thì không có gì là khó. Trái lại, nó xem ra rất ngọt ngào và dễ dàng. Nhưng thật ra, nó đòi hỏi một sự can đảm lớn lao. Tại sao nó phải cần đến một sự can đảm lớn lao như vậy ?

            Trước nhất, khi những tai họa xảy ra cho chúng ta, chúng ta thường hay phàn nàn trách móc: Tại sao Thiên Chúa lại cho phép những điều như thế xảy ra ? Và chúng ta bắt đầu nghi ngờ tình yêu của Thiên Chúa nhất là khi có những điều không may xảy ra  cho cuộc đời chúng ta. Một niềm tin như thế, ngoài cảm nghiệm cá nhân của chúng ta. Bấy giờ chính niềm tin là một sự cắt nghĩa về cuộc sống mà tôi chấp nhận.

            Thứ đến, tình yêu của Thiên Chúa thì vô hạn. Chúng ta không bao giờ có thể chộp lấy được, nắm giữ được, hay điều khiển được. Một điều chúng ta có thể làm là như một đứa trẻ không cần biết đắn đo suy nghĩ, chỉ còn biết phó thác vào vòng tay của bố mẹ khi nó liều mình nhảy từ trên cao xuống, nhưng chúng ta lại không thích làm như vậy. Sven Stolpe đã ví đức tin giống như một người leo lên tháp cao, và từ trên chóp đỉnh người đó được phán bảo: “ Hảy nhảy xuống và tôi sẽ chụp lấy anh”. Người dám nhảy  là người có đức tin.

            Lý do thứ ba xem ra tế nhị hơn. Đó là dễ tin vào tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta một cách tổng quát nhưng rất khó để tin vào tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta một cách cá biệt. Chính vì thế, rất ít người bằng lòng với chính mình để rồi sẵn sàng chấp nhận cách thức mà tình yêu Thiên Chúa dành cho họ. Thật vậy, rất ít khi chúng ta gặp được một người  có thể đối phó với những khủng hoảng, những thử thách xảy ra cho cuộc đời họ.

            Đến đây, có thể nói được là quá đủ để chúng ta có thể hiểu được lý do tại sao đức tin đòi hỏi một sự can đảm để chấp nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta. Và một khi chúng ta dám xác tín rằng cho dẫu chúng ta bất xứng nhưng Thiên Chúa vẫn chấp nhận và yêu thương chúng ta, bấy giờ chúng ta sẽ không còn lo lắng, sợ hãi gì nữa: không còn phải lo cô đơn, không còn phải sợ khước từ, không còn phải lo gian nan, không còn phải sợ thử thách vì chính niềm tin mang lại cho chúng ta một sự giải thoát khỏi tất cả những lo lắng sợ hãi đó. Chỉ với niềm tin, con người mới có thể tìm lại được sự an bình và hạnh phúc đã bị đánh mất bởi sự ngược đãi của cuộc đời. Và cũng chỉ với niềm tin, những vết thương đau của lòng người mới có thể được hàn gắn và chữa lành một cách hoàn hảo.

            Thật vậy, một khi con người đã đi vào hố sâu của tuyệt vọng thì chỉ có niềm tin mới có sức mạnh chữa lành một cách kỳ diệu những vết thương lòng sâu xa của con ngưòi, và cũng chỉ có niềm tin mới mang lại cho đời sống tâm linh của con người một sự an bình thanh thản một cách sung mãn.

Lm. Lê Văn Quảng