Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Giáo lý Công giáo

Bài 04: Bản tính đức tin

“Chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi
nói với các ông chuyện trên trời, làm sao các ông tin được?” (Ga 3,12)

Nhiều người lấy làm băn khoăn lo ngại vì dường như giũa đức tin với cuộc đời có một cái gì bất ổn. Bất ổn ở chỗ đức tin dạy một đường, trong khi ta lại sống một nẻo với bao vấn đề cụ thể phức tạp. Đối với họ, đức tin xem ra chỉ quả quyết mà không minh chứng, chỉ an ủi xoa dịu mà không giải quyết những nỗi khó khăn gặp phải trên đuờng đời; chỉ chú trọng đến phần tâm linh mà lại bỏ rơi hay coi nhẹ phần nhu cầu vật chất nơi con người. Nói tóm lại, giữa đức tin với cuộc đời cụ thể có cái gì như đi ngược chiều nhau.

Quả thật, nếu chỉ nhìn qua vấn đề thì không thể không có những cảm giác như thế. Nhưng nếu nhìn đức tin và cuộc đời mỗi bên theo một phương diện thì lại khác; vì phải nhận rằng đức tin và cuộc đời thuộc hai phạm vi không giống nhau, dù rằng bên này có ảnh hưởng tới bên kia. Đã không giốngnhau thì phải phân biệt ra mà nhận định mới khỏi lẫn lộn và thấy rõ phạm vi của mỗi bên.

Đức tin thuộc phạm vi thiêng liêng và siêu nhiên. Chỉ nguyên thế cũng thấy đức tin là một thực tại không giống những thực tại khác và đủ để gây ra những khó khăn cho người thời nay. Vậy cần hiểu rõ bản tính của đức tin để thấy được phạm vi riêng biệt này mà sống và giữ vững đường lối cần phải có của một người tín hữu.

1. TIN LÀ GÌ?

Tin là hoàn toàn xác nhận những điều Chúa nói, những việc Chúa làm là chân thật, dù ta chưa hiểu được ý nghĩa hay thấu cảm được gì cả. Ngoài ra, tin cũng là công nhận Đức Kitô là Con Thiên Chúa đã xuống trần để cứu chuộc nhân loại và đạo Người lập ra là đạo mặc khải, từ trời mang xuống; dù đạo này bị người đời nhạo báng, khinh chê hay sát hại. Bản sắc của đức tin Kitô giáo chính là điểm đó.

Quả vậy Thiên Chúa đã tỏ dự định cứu chuộc cho loài người qua những giai đoạn chuẩn bị trong lịch sử. Và đến ngày giờ đã định, Người đã sai con mình đến giảng dạy, dìu dắt và cuối cùng lấy cái chết và sự sống lại của chính con người ấy để minh chứng và làm dấu thị thực cho tình yêu của mình đối với nhân loại.

Vì vậy Thánh Phaolô đã định nghĩa đức tin là phương thế cho ta nắm được những đìêu ta hi vọng; là cách thức cho ta biết những điều ta không xem thấy (Dt 11,1) và công đồng Vaticanô cũng định nghĩa đức tin là:
“Nhân đức siêu nhiên, nhờ đó được ơn Chúa thúc đẩy và nâng đỡ, chúng ta tin những điều Người mặc khải là chân thật; không phải vì chân lý nội tại của sự việc mà ánh sáng tự nhiên của lý trí thấu hiểu nổi, nhưng vì uy quyền của chính Chúa mặc khải, vì Người không thể bị lừa, cũng không thể đánh lừa.”

2. TIN LÀ SÁP NHẬP VÀO ĐỨC KITÔ

Công đồng Vaticanô II khi muốn định nghĩa kitô hữu là gì, đã lấy chính Đức Kitô để làm công việc này. Đó thật là hiển nhiên vì kitô hữu là người thuộc Đức Kitô, bởi Đức Kitô mà ra. Vì thế trong các từ ngữ tây phương, danh hiệu kitô hữu thường được rút ra từ chữ Kitô. Bởi vậy, Công đồng nói:” Kitô hữu công khai xưng tụng Đức Kitô là Chúa và là chủ, Dấng trung gian duy nhất giũa Thiên Chúa và loài người, để tôn vinh Thiên Chúa độc nhất là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Hiệp Nhất số 20)

Đó là chân lý căn bản thiết yếu của Kitô giáo, trọng tâm sống động của đức tin. Ngay từ đầu khi đạo mới đuợc rao truyền, người ta đã gọi những người theo đạo là Kitô hữu: “Ở An-ti-ô-ki-a, lần đầu tiên người theo đạo được gọi là Kitô hữu vì họ đã đón nhận tin mừng của Chúa Giêsu và họ là người theo môn phái của Đức Kitô” (Cv 11,26).Bởi đâu họ lại được phân loại như thế nếu không phải vì họ theo Đức Kitô. Chính niềm tin này đã qui định thành phần cho họ. Đức tin đã ràng buộc chặt chẽ họ vào một ngôi vị sống động là Đức Giêsu. Đối với họ tin đã trở nên một hành động lựa chọn giữa hai đối tượng: Một bên là Đức Kitô, còn bên kia là người, vật, chủ nghĩa và bao sức hấp dẫn khác. Tuy nhiên lựa chọn này có tính tự do và ý thức, căn cứ trên sự nhận biết và tin theo.

Vì thế tin trước hết là một ân huệ Chúa ban, sau là một hành vi cá nhân độc lập, xây dựng trên việc ý thức và nhận định rõ ràng Đấng mình tin theo. Do đó tin là trở thành môn đồ sống động của Đức Kitô, lấy Người làm tiêu chuẩn sống như Thánh Phaolô nói: “Đối với tôi sống là Đức Kitô” (Pl11,21)

Khi sống đức tin chúng ta không có gì phải sợ, phải ngại ngần nhưng luôn thật lòng sám hối và tin tưởng vì đây là hai điều kiện gắn liền với nhau để đuợc cứu rỗi. Chúa Giêsu nói: “Đừng sợ, cứ việc tin” (Mc 5,35-36).Vì thế đối với người tin, mọi sự đều có thể làm được ( Mc 9,22-23). Đó là trường hợp của người bất toại: “Này anh, hãy tin, anh đã được tha tôi” (Mt 9,22), của người mù tên là Bác-ti-mê (Mc 10,52) và của người cùi ân nghĩa. Tất cả đều đã vì tin mà được cứu.

3. TIN LÀ GẶP GỠ, TIẾP XÚC VỚI THIÊN CHÚA

Tuy nhiên tin không phải là một thái độ chấp nhận hờ hững mà chính là một hành động dấn thân đưa con người tới chỗ gặp gỡ Thiên Chúa một cách mật thiết, mạnh mẽ.Gặp gỡ thân tình là một biểu chứng của lòng tin yêu và điều kiện tất yếu để tăng cường đức tin của con người đối với Thiên Chúa. Chính nhờ tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa mà tín hữu thêm hiểu biết và yêu mến Người. Sự gặp gỡ này sẽ giúp chúng ta khám phá Chúa mội ngày một nhiều hơn, để dung mạo của Người bộc lộ dưới mắt ta với tất cả vẽ trìu mến, yêu thương và tiếng nói Người trở nên ngọt ngào, linh động. Bởi vậy, nếu thiếu tiếp xúc và gặp gỡ Thiên Chúa, đức tin của chúng ta sẽ hóa ra cằn cỗi, sẽ không có được kinh nghiệm:

Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy.
Hạnh phúc thay kẻ nương tựa Người
(Tv 34,9)

Kinh nghiệm này có tính cá nhân chỉ dành riêng cho những ai chịu làm quen với Chúa: nhưng cũng nhiếu khi muốn gặp Chúa để nếm thử cảm nghiệm yêu thương này mà chúng ta không được toại nguyện, vì Chúa như lẫn trốn. Đó là lúc Người muốn thử thách những ai tin Người nên tước đoạt mọi thứ cảm xúc, để họ chỉ còn giữ lại niềm tin như một điểm son đã đuợc thanh luyện cho đức tin khỏi bị đồng hóa với cảm tính cá nhân của mỗi người. Đó là niềm tin thanh thoát đã bỏ được mọi tính giác quan. Người có niềm tin này sẽ bám chặt vào Chúa một cách vô vị lợi; đây là thái độ tin của người trưởng thành. Thái độ này cho ta quen cách gỡ mình ra khỏi những khuynh hướng tìm kiếm hoặc yêu chuộng những rung cảm của giác quan trong sinh hoạt đạo đức dù rằng những thứ này cũng góp phần thúc đẩy và tăng thêm những tình cảm sốt sắng, nhưng không nên quá bận tâm hay lệ thuộc vào chúng đến nỗi chỉ tưởng mình đạo đức hay thánh thiện khi được chúng yểm trợ. Phải chăng vì vậy Đức Kitô mới nói:” Đã đến thời người ta phải thờ phượng Chúa trong tinh thần và trong chân lý” (Ga 4, 23-24)

4. TIN LÀ TỪ BỎ MÌNH, KÝ THÁC VÀO CHÚA

Những lúc phải đắm chìm trong gian nan thử thách, người tín hữu mới thấy sức người có hạn và nhiều khi con người cũng thấy hoài nghi ngay chính mình, nên tự nhiên cầu cứu Chúa, ký thác mọi sự nơi Người, dốc lòng tin vào Người. Có người cho như thế là thoái nhiệm tiêu cực; song thực ra đấy chỉ là thái độ khiêm tốn vì biết nhận ra giới hạn của chính mình trong thân phận thụ tạo. Đó lại càng không phải là ươn hèn, khoán trắng mọi sự cho Chúa như người ta nghĩ, vì giữa tín nhiệm và khoán trắng rât khác nhau. Tín nhiệm là một thái độ thân tình, thiện cảm và trọng kính, còn khoán trắng là một hành vi ươn lười, ích kỷ và lợi dụng.

Nhưng tại sao lại phải từ bỏ mình và ký thác vào Chúa? Tự nhiên, con người thường có khuynh hướng cao tôn và độc lập đối với Thiên Chúa, do ảnh hưởng di truỵền của tội nguyên tổ. Khuynh hướng này dễ trở thành chướng ngại, cản đường người tin giao cảm với Chúa. Vì vậy cần phải dẹp bỏ tính tự phụ mà công nhận chủ quyền của Thiên Chúa để có thể bước vào vòng thân tình cha con với Người.

5. TIN LÀ CON ĐƯỜNG CĂN BẢN TRÊN CON ĐƯỜNG VÀO ĐẠO

Phải tin mới vào đạo được, bởi vì nếu không tin thì dù có lãnh bí tích Rửa tội, người ta cũng không thể là tín hữu đích thực. Vậy lòng tin là điều phải có nơi người kitô hữu và đức tin là một ân huệ nhưng không Chúa ban cho những ai Người muốn. Bởi vậy, việc học hỏi về tín lý và giáo lý để biết về đức tin chưa đủ mà còn phải cấu nguyện để xin ơn đức tin đồng thời khi đã có đức tin rồi thì lại phải luôn luôn vun trồng và nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, các Bí tích và những việc lành nữa.

(Giáo lý đại cương cho người lớn – NXB Đức Tin & Văn Hóa 2004)

CÂU HỎI BÀI 4

Trong các kinh người kitô hữu thường đọc, kinh nào là kinh tuyên xưng các điều người tín hữu phải tin? Gạch đầu dòng các điều phải tin đó.

FileEagle.com - Tải về phần mềm hữu ích cho máy tính của bạn