Sách » Tôn Giáo » Đạo Phật » Cuộc đời Đức Phật

Phần 6

X- ÐỀ-BÀ-ÐẠT-ÐA BỊ TRỤC XUẤT KHỎI GIÁO HỘI

Sa môn Ðề-bà-đạt-đa là người tính khí rất kiêu mạn. Y không chịu ai chi phối. Y có tham vọng thay thế Phật, nhưng y biết các sa môn không ai muốn theo y nổi loạn. Vì thế, y cần đến sự hậu thuẫn của vua chúa hay hoàng tử.

Một hôm, y tự bảo lòng: "Quốc vương Tần-bà-sa-la già rồi; hoàng tử A-xà-thế trẻ trung, dũng cảm, hằng mong thay cha lên ngôi. Ta có thể khuyên hoàng tử chiếm lấy ưu thế, và rồi chàng có thể đến giúp ta thống lãnh giáo hội."

Y đến gặp A-xà-thế. Y tâng bốc chàng đủ điều; y ca ngợi chàng nào là khỏe mạnh, can trường, hào hoa phong nhã!...

Y nói: "Ồ, nếu hoàng tử là vua, ánh vinh quang rực rỡ sẽ đến cho Vương-xá này biết bao! Hoàng tử sẽ chinh phục các nước lân cận; tất cả vua chúa trên thế giới sẽ thần phục ngài: ngài sẽ là đương kim hoàng đế, ngài sẽ được tôn thờ như một thiên thần."

Bằng lời lẽ đường mật, Ðề-bà-đạt-đa đã chiếm trọn lòng tin yêu của A-xà-thế. Y nhận được nhiều bảo vật và lên mặt kênh kiệu hẳn ra.

Mục-kiền-liên thấy Ðề-bà-đạt-đa thường lui tới với hoàng tử. Thầy quyết định báo cho Ðức Thế Tôn biết.

Tôn giả thưa: "Bạch Ðức Thế Tôn, Ðề-bà-đạt-đa rất thân thiện với hoàng tử A-xà-thế".

Ðức Thế Tôn ngắt lời thầy:

"Hãy mặc cho Ðề-bà-đạt-đa làm gì tùy ý; rồi đây chúng ta sẽ biết sự thật. Ta biết A-xà-thế quí trọng Ðề-bà-đạt-đa lắm; điều đó không giúp cho y tiến thêm bước nào trên đường đạo hạnh. Hãy mặc cho Ðề-bà-đạt-đa tha hồ kiêu mạn! Nó sẽ đốt cháy y lúc nào không chừng. Một khi chuối ra trái, tre lên măng, thế là chúng sắp tàn; những vinh dự mà Ðề-bà-đạt-đa đang thọ hưởng cũng sẽ chóng tàn như thế đó."

Tính kiêu mạn của Ðề-bà-đạt-đa không mấy chốc đã lên đến tột đỉnh. Y không thể chịu nỗi sự tôn kính dành cho Ðức Phật, và một hôm, y đánh bạo thưa Ngài.

"Bạch Ðức Thế Tôn, ngài nay tuổi tác khá cao, khó khăn lắm Ngài mới điều khiển nổi tăng đoàn; Ngài nên nghỉ đi thôi. Hãy an tâm quán tưởng giáo pháp tối thượng mà Ngài đã khám phá, còn giáo hội xin để tôi gánh vác."

Ðức Thế Tôn mỉm cười:

"Này Ðề-bà-đạt-đa, đừng bận tâm đến ta làm gì; ngươi tử tế quá. Ta sẽ biết lúc nào ta nghỉ. Hiện nay, ta còn điều khiển được giáo hội. Hơn nữa, khi thời điểm đến, ta còn không giáo quyền thống lĩnh tăng đoàn cho Xá-lợi-Phất hay Mục-kiền-liên, những bậc trí tuệ minh mẫn như ngọn đuốc sáng ngời, còn ngươi, này Ðề-bà-đạt-đa, sự hiểu biết của ngươi tầm thường quá, trí tuệ của ngươi không sánh bằng ánh đèn leo lét trong đêm!"

Ðề-bà-đạt-đa cung kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn nhưng y không thể dấu được ánh lửa sân hận đang bừng cháy trong đôi mắt y.

Ðức Thế Tôn sau đó mời tôn giả Xá-lợi-Phất đến.

Ngài nói: "Này Xá-lợi-Phất, hãy đi khắp thành Vương-xá và lớn tiếng thông báo rằng: "Hãy coi chừng Ðề-bà-đạt-đa! Y đã ra ngoài chánh đạo. Ðức Phật không chịu trách nhiệm về ngôn ngữ và hành động của y; giáo pháp không còn nhằm nhò gì với y, giáo hội không còn dính dáng gì với y nữa. Vì thế, Ðề-bà-đạt-đa muốn nói gì tùy ý".

Thật là khổ cho Xá-lợi-phất phải làm một việc đau buồn; nhưng, hiểu ý Ðức Thế Tôn, tôn giả đi khắp thành công bố điều ô nhục của Ðề-bà-đạt-đa. Dân chúng dừng lại để lắng nghe, một số suy nghĩ: "tăng đoàn đố kỵ Ðề-bà-đạt-đa kết thân với hoàng tử A-xà-thế." Nhưng số khác nói:

"Ðề-bà-đạt-đa đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng nên Ðức Thế Tôn mới công khai tẫn xuất y như vậy."

XI- MƯU ÐỒ CỦA A-XÀ-THẾ

Ðề-bà-đạt-đa đang trầm tư suy nghĩ:

"Tất-đạt-đa muốn hạ nhục ta bằng cách xem thường trí tuệ của ta. Ta sẽ vạch trần lỗi lầm của hắn cho hắn thấy. Uy danh của ta rồi đây sẽ làm lu mờ ánh huy hoàng của hắn; ngọn đèn đêm sẽ thành ánh mặt trời. Nhưng vua Tần-bà-sa-la là bạn thân của hắn; vua sẽ bao bọc che chở hắn. Bao lâu nhà vua còn sống là ta chả làm ăn được gì. Trái lại, hoàng tử A-xà-thế là người tôn vinh kính trọng ta, chàng đặt hết tin tưởng vào ta, nếu chàng lên ngôi, ta sẽ muốn gì được nấy."

Y đến cung điện của A-xà-thế.

Y nói: "Thưa thái tử, chúng ta đang sống trong một thời đại nhiễu nhương! Những bậc hiền tài đáng ngôi thiên tử thì hình như phải sống dở chết mòn chứ không bao giờ được lên ngôi để cứu nước. Ðời người quả thật mong manh! Thọ mạng của phụ vương ngài làm tôi lo cho ngài không ít."

Y nói thao thao, y khuyên thái tử làm những điều vô cùng ác độc. Thái tử nhẹ dạ nghe theo. Và không mấy chốc, chàng đã quyết định hạ sát phụ vương chàng."

Bấy giờ, A-xà-thế ngày đêm thường xuyên qua lại hoàng cung, chờ dịp thuận tiện để lẻn vào ám át phụ vương. Nhưng chàng không thể qua mặt vệ binh. Sự bồn chồn xao xuyến của chàng làm họ nghi ngờ, họ tâu vua Tần-bà-sa-la:

"Tâu bệ hạ, thái tử A-xà-thế của ngài mới đây có những cử chỉ kỳ lạ. Có thể thái tử đang dự tính làm một điều gì ác độc?"

Nhà vua đáp: "Im đi! Con ta là người tính tình cao thượng. Thái tử sẽ không bao giờ làm điều tồi bại".

"Tâu bệ hạ, nên triệu thái tử hỏi xem".

"Này quân sĩ, hãy im đi. Ðừng vu khống con ta."

Vệ binh tiếp tục canh phòng nghiêm mật, và sau vài ngày, họ lại tâu vua. Ðể họ thấy rõ lỗi lầm, nhà vua triệu A-xà-thế đến.

Thái tử đứng trước phụ vương, run sợ cầm cập thưa:

"Tâu phụ vương, phụ vương đòi con có việc chi?"

Tần-bà-sa-la nói: "Này con, quân sĩ nói mới đây con có những cử chỉ kỳ lạ. Chúng tâu với phụ vương là con đang thực hiện điều gì bí mật; chúng bảo rằng con hay tránh né ánh mắt của mọi người. Con à, chúng vu khống sao?"

A-xà-thế đáp: "Tâu phụ vương, họ không vu khống đâu."

Lòng ân hận bỗng dưng dâng nghẹn cả người chàng. Chàng sụp lạy dưới chân phụ vương, và vì quá tủi nhục, chàng nức nở khóc.

"Tâu phụ vương, con muốn giết phụ vương"

Tần-bà-sa-la giật mình. Ngài lên giọng thống thiết hỏi:

"Tại sao con muốn giết cha?"

"Ðể lên ngôi."

"Thế thì lên ngôi, vương vị đáng gì để con phải hận thù" nhà vua kêu lên.

Ngày hôm sau, A-xà-thế được công bố lên ngôi vua.

Việc làm đầu tiên của chàng là hết lòng tôn vinh phụ hoàng. Nhưng Ðề-bà-đạt-đa vẫn lo sợ quyền lực của phụ vương, y quyết định dùng ảnh hưởng của mình để triệt hạ ngài.

Y kích động A-xà-thế: "Bao lâu phụ vương ngài còn tự do thì ngài vẫn còn có nguy cơ mất ngôi. Cựu hoàng còn nhiều túc vệ lắm; ngài phải ra oai để dằn mặt bọn chúng."

Ðề-bà-đạt-đa khuyến dụ A-xà-thế thực hiện ý đồ của mình, thế là Tần-bà-sa-la khốn nạn kia bị tống giam. Bấy giờ A-xà-thế quyết định bỏ đói cựu hoàng cho đến chết, chàng không cho phép ai mang thực phẩm đến ngài.

Tuy nhiên, hoàng hậu Vi-đề-hi (Vaidehi) thỉnh thoảng được phép đến ngục thăm Tần-bà-sa-la. Bà lén đem cơm đến và ngài dùng ngon lành. Nhưng chẳng bao lâu, A-xà-thế chận đứng việc làm đó; chàng hạ lệnh cho vệ binh khám xét bà mỗi khi bà đến thăm tù nhân. Sau đó bà dấu cơm trong búi tóc, đến khi sự việc vỡ lỡ, bà phải dùng mọi thiện xảo để cứu cựu hoàng khỏi chết đói. Nhưng rồi bà cũng bị phát hiện, và A-xà-thế, cuối cùng, không cho bà vào khám đường nữa.

Trong khi đó, chàng lại ngược đãi môn đệ của Phật. Họ không được phép trông coi ngôi chùa mà xưa kia Tần-bà-sa-la đã tôn trí vài lọn tóc và một ít móng tay của Ðức Thế tôn. Hương hoa lễ vật chẳng còn, trong điện ngoài chùa chả ai lau chùi quét dọn.

Tại cung điện của A-xà-thế, có một phụ nữ tên là Xờ-ri-ma-ti (Srimati). Nàng thuần thành lắm. Nàng thấy đau lòng vì không làm được việc thiện. Trong những lúc đau buồn đó, nàng thắc mắc là không biết làm sao bày tỏ tín tâm của nàng cho Ðức Thế Tôn thấy. Mỗi khi nàng ngang qua chùa, thấy cảnh đìu hiu vắng vẻ, thấy cảnh bụi đất bám đầy, nàng ngậm ngùi than khóc.

Xờ-ri-ma-ti nghĩ: "Rồi Ðức Thế Tôn sẽ biết rằng trong căn nhà này vẫn còn có một tín nữ tôn kính Ngài. Ðánh liều, nàng vào chùa quét dọn và chưng cúng một tràng hoa tươi.

Nhìn thấy tràng hoa, A-xà-thế tức lắm, chàng muốn biết ai dám cả gan vi phạm lệnh chàng. Không cần phải che dấu, Xờ-ri-ma-ti đích thân ra trước vua nhận tội.

A-xà-thế hỏi:

"Tại sao ngươi dám ngang nhiên cãi lệnh ta?"

Nàng đáp: "Nếu như thần thiếp cãi lệnh bệ hạ ấy là thần thiếp vâng lệnh phụ hoàng Tần-bà-sa-la của bệ hạ."

A-xà-thế khỏi cần nghe thêm nửa lời. Giận tái mặt, chàng nhào đến đâm Xờ-ri-ma-ti một dao. Bị thương nặng, nàng ngã nhào xuống đất; nhưng mắt nàng vẫn sáng lên niềm hoan hỷ, nàng sung sướng cất tiếng hát:

"Mắt ta đã nhìn thấy đấng cứu tinh của nhân thế; mắt ta đã nhìn thấy ánh hào quang của nhân thế; và để cúng dường Ngài, trong màn đêm,ta đã thắp lên vô vàn ngọn đèn. Ðể cúng dường Ngài phá tan đêm tối, ta đã diệt trừ hắc ám vô minh. Hào quang của Ngài rực rỡ hơn ánh sáng của mặt trời, tia sáng của Ngài tinh khiết hơn tia sáng của mặt trời, ta đê mê nhìn ngắm hào quang rực rỡ của Ngài. Ðể cúng dường Ngài phá tan đêm tối, ta đã diệt trừ hắc ám vô minh."

Nàng qua đời, toàn thân nàng rực lên một màu sáng thánh thiện.

XII- CÁI CHẾT CỦA ÐỀ-BÀ-ÐẠT-ÐA

Ðề-bà-đạt-đa nóng lòng muốn thay Phật cầm đầu giáo hội. Một hôm, y nói với A-xà-thế:

"Tâu bệ hạ, Ðức Phật khinh miệt bệ hạ lắm. Hắn oán ghét bệ hạ lắm. Vì tiền đồ xán lạn của bệ hạ, bệ hạ hãy trừ hắn đi. Bệ hạ hãy lệnh cho một số vệ binh đến Trúc-lâm giết quách hắn; bần đạo sẽ dẫn đường."

A-xà-thế bị thuyết phục dễ dàng. Những tay sát nhân đến Trúc-lâm, nhưng khi thấy Ðức Thế Tôn, chúng sụp lạy tôn thờ dưới chân Ngài. Sự kiện đó làm cho Ðề-bà-đạt-đa càng giận thêm. Y thẳng đến tàu voi của hoàng gia, tìm một con voi hung bạo nhất, rồi mua chuộc đám vệ binh thả voi khi Phật đi qua để nó vung vòi quật Ngài hoặc dùng chân chà đạp Ngài. Nhưng khi nhìn thấy Ðức Thế Tôn, con voi trở nên ngoan ngoãn, nó đi đến trước Ngài, đưa vòi phủi những vết bụi bám trên vạt áo cà sa của Ngài. Ðức Thế Tôn vui cười hoan hỷ nói:

"Ðây là lần thứ hai, nhờ Ðề-bà-đạt-đa, mà một con voi đã biết kính lễ ta."

Sau đó, chính Ðề-bà-đạt-đa quyết tâm hãm hại Ðức Thế Tôn. Thấy Ngài đang nhập định dưới bóng cây, y bạo gan ném Ngài một cục đá nhọn, cục đá va vào chân Ngài; vết thương từ từ rỉ máu. Ðức Thế Tôn nói:

"Ðề bà-đạt-đa, ngươi đã phạm một trọng tội; nghiệp báo rồi đây sẽ ghê gớm lắm. Những nổ lực hãm hại thân mạng Ðức Thế Tôn đầy tội ác của ngươi đều vô ích; Ngài sẽ không qua đời non yếu đâu. Ngài sẽ ra đi theo hạnh nguyện của Ngài, Ngài sẽ viên tịch theo giờ giấc Ngài chọn."

Ðề-bà-đạt-đa bỏ đi. Y dứt khoát không theo qui luật của giáo hội nữa, y dốc lòng tìm kiếm môn đệ riêng của y.

Trong khi đó, vua Tần-bà-sa-la đang chết dần chết mòn vì đói khát. Nhưng ngài không chết hẳn. Một năng lực huyền nhiệm nào đó đã duy trì mạng sống của ngài. Cuối cùng, con của Ngài quyết định hạ thủ ngài, chàng ra lệnh đốt hai lòng bàn chân của ngài, rạch hai chân ngài rồi đổ dầu muối lên trên vết thương. Tên đao phủ y lệnh, nhưng hắn cũng rơi lệ khi thấy cụ già bị hành hạ như vậy.

Ngày A-xà-thế hạ lệnh giết phụ hoàng cũng là ngày chàng có một bé trai ra đời. Nhìn con, chàng cảm thấy vô vàn sung sướng; bớt đi tính khắc nghiệt phần nào, chàng vội phái vệ binh đến ngục ngăn cuộc hành hình. Nhưng họ đến trễ quá; vua Tần-bà-sa-la đã chết trong cảnh thống khổ kinh hồn.

A-xà-thế bắt đầu ân hận. Một hôm, chàng nghe hoàng hậu Vi-đề-hi bế hoàng tử tí hon tỉ tê:

"Nguyện cầu cha cháu thương cháu như cha của cha cháu thương cha cháu. Xưa kia, khi cha cháu còn bé, cha cháu bị một cái nhọt trên đầu ngón tay, nó hành hạ cha cháu đau đớn khóc hoài; không có một loại thuốc nào chữa khỏi; vì thế, hoàng thượng Tần-bà-sa-la phải dùng môi ngậm đầu ngón tay mà hút mủ ra, A-xà-thế nhờ vậy mà ăn chơi vui đùa trở lại. Ồ, cháu ơi, hãy yêu quí cha cháu; đừng đem lòng độc ác hành hạ cha cháu như cha cháu đã đem lòng độc ác hành hạ cựu hoàng Tần-bà-sa-la."

A-xà-thế xót xa rơi lệ. Chàng hối hận vô vàn. Ðêm đêm, trong giấc ngủ, chàng thường thấy phụ hoàng bị thương đổ máu, và nghe tiếng ngài than oán rợn người. Chàng bị sốt nặng, ngự y Kỳ-bà (Jivaka) được triệu đến hoàng cung để chữa trị chàng.

Kỳ-bà nói: "Hạ thần không thể làm gì được cho bệ hạ. Thân bệ hạ không bệnh. Hãy đến gặp Ðấng Ðại Giác, Ðức Thế Tôn, Ðức Phật; chỉ có Phật mới an ủi và hồi phục sức khỏe cho ngài."

A-xà-thế theo lời khuyên của Kỳ-bà. Chàng đến gặp Ðức Thế Tôn; chàng bộc lộ hết mọi hành vi thâm độc của chàng, chàng thấy an tâm trở lại.

Ðức Phật nói: "Phụ hoàng của bệ hạ đã được sanh lên cõi trời Ðạo-lợi, người đã hiểu lòng ân hận của bệ hạ và đã tha thứ cho bệ hạ tất cả. Hỡi vua A-xà-thế, hãy nghe ta; hãy đạt ngộ giáo pháp và đoạn diệt khổ đau."

A-xà-thế ban hành một quyết định trục xuất Ðề-bà-đạt-đa ra khỏi nước, lệnh dân chúng đóng cửa tống khứ y nếu thấy y đến xin tá túc.

Bấy giờ Ðề-bà-đạt-đa ở gần thành Xá-vệ, y hy vọng được vua Ba-tư-nặc đón tiếp, nhưng y cũng bị khinh miệt khước từ và buộc phải rời khỏi nước. Không thể khuyên dụ tín đồ, y cuối cùng phải trở về thành Ca-tỳ-la-vệ.

Y vào thành lúc màn đêm buông xuống. Ðường phố tối nhem, kinh thành vắng ngắt; hầu như không ai nhận ra y khi y đi qua, vì làm sao người ta có thể nhận ra một sa môn gầy gò khốn khổ, men men theo bóng vách tường, với Ðề-bà-đạt-đa huênh hoang kiêu mạn? Y đi thẳng đến cung điện của công chúa Da-du, nơi bà sống một mình trong cô đơn hiu quạnh.

Y được mời vào.

Da-du nói: "Thưa thầy, thầy muốn gặp tôi có chuyện chi? Thầy mang tin vui đến cho tôi phải không? Thầy vâng lệnh chồng tôi sai đến phải không?"

"Chồng của công chúa à! Ngài ít khi lo cho công chúa! Hãy nghĩ lại lúc Ngài tàn nhẫn bỏ công chúa!".

"Ngài đã bỏ tôi để giải thoát cho nhân thế".

"Công chúa còn yêu Ngài chứ?"

"Tình yêu của tôi sẽ làm hoen ố sự trong sạch của đời Ngài."

"Thế thì hận Ngài muôn đời là phải."

"Tôi hết lòng tôn kính Ngài."

"Này bà, Ngài đã khinh bỉ ruồng bỏ bà, bà phải báo thù Ngài mới được."

"Này sa môn, hãy im đi! Lời lẽ của ngươi thô ác quá"

"Em không nhận ra anh sao? Anh là Ðề-bà-đạt-đa, người yêu em tha thiết đó!"

"Ðề-bà-đạt-đa, Ðề-bà-đạt-đa, ta biết ngươi là người điêu ngoa độc ác; ta biết ngươi là một sa môn bất tín lọc lừa, nhưng ta không bao giờ nghi ngờ những mưu sâu hèn hạ của ngươi".

"Da-du, Da-du, anh yêu em! Chồng em khinh miệt em; hắn tàn nhẫn lắm! Hãy thù hắn. Hãy yêu anh!"

Da-du giận đỏ mặt. Ðôi mắt dịu hiền của bà bỗng dưng tràn ra những giọt lệ ô nhục.

"Chính ngươi khinh miệt ta! Tình yêu của ngươi sẽ là một sỉ nhục nếu nó chân tình, nhưng ngươi lại láo khoét bảo rằng ngươi yêu ta. Ngươi ít khi để ý đến ta trong những ngày ta còn son trẻ, trong những ngày ta còn xinh đẹp nõn nà! Nay ngươi gặp ta, một cụ bà héo gầy chuyên tu khổ hạnh thì ngươi lại bày chuyện yêu đương, lại tỏ tình ái ân tội lỗi! Ðề-bà-đạt-đa, ngươi là người đáng nguyền rủa nhất! Hãy cút đi! Cút đi!"

Ðề-bà-đạt-đa nỗi giận nhào đến bà. Bà đưa tay ra đỡ, y ngã nhào xuống đất, lăn tròn mấy vòng, máu trong miệng y vọt ra xối xả.

Y lặng lẽ bỏ đi. Cả dòng tộc Thích-ca nghe y về thành Ca-tỳ-la-vệ, họ ra lệnh vệ binh tống khứ y ra khỏi thành, đưa y đến yết kiến Phật để Ngài quyết định số phận của y. Y giả vờ hối hận, nhưng y đã tẩm thuốc độc vào móng tay, và khi y sụp lạy dưới chân Ðức Thế Tôn, y cố tình cào vào mắt cá của Ngài. Ðức Thế Tôn đưa ngón chân cái đẩy nhẹ y, mặt đất như nứt ra; lửa dữ vọt lên, phủ kín tên Ðề-bà-đạt-đa hèn hạ.

XIII- BA-TƯ-NẶC VÀ A-XÀ-THẾ

Mặc dù Phật đã uốn nắn tính tình của A-xà-thế nhưng có lúc vua vẫn còn sân hận. Một hôm, vì sự xích mích giữa một người ở Vương-xá và một người ở Xá-vệ mà vua tuyên chiến với quốc vương Ba-tư-nặc.

Vua huy động một binh lực khổng lồ: gồm bộ binh, kỵ binh, chiến xa, tượng xa, và cung tên giáo mác lấp lánh dưới ánh mặt trời khi họ tiến quân ra trận.

Quốc vương Ba-tư-nặc cũng tập họp quân đội với nhiều chiến xa, tượng xa và kỵ binh hùng hậu, ngài tiến tới trước để đối mặt với vua A-xà-thế.

Ðó là một chiến trận ác liệt kéo dài trong bốn ngày. Ngày thứ nhất, Ba-tư-nặc mất hết voi; ngày thứ hai, mất hết ngựa; ngày thứ ba, mất hết chiến xạ; ngày thứ tư, bộ binh bị giết và bị bắt toàn bộ; Ba-tư-nặc bị đại bại kinh hoàng, chui vào chiếc xe duy nhất được giải cứu trong cơn ác chiến và trốn về Xá-vệ.

Tại đó, trong một căn phòng nhỏ bé, tối om, nhà vua ném mình trên một chiếc giường con ẩm thấp. Ngài im lặng, nghĩ đến cảnh chiến bại khốc liệt mà đau đớn ê chề, mặc cho nước mắt tuôn chảy đầm đìa xuống hai gò má.

Một người bước vào; đó là trưởng giả Cấp-cô-độc.

Người nói: "Tâu bệ hạ, chúc bệ hạ vạn tuế, nguyện phen này thắng trận!"

Nhà vua than: "Quân sĩ của ta chết hết rồi, tất cả quân sĩ của ta đều thiệt mạng hết rồi! Quân sĩ ơi! Quân sĩ ơi!"

"Tâu bệ hạ! Ðừng đau khổ nữa. Hãy gầy dựng đoàn quân khác".

"Ta mất quân sĩ là mất cả sơn hà xã tắc"

Cấp-cô-độc thưa: "Tâu bệ hạ! Hạ thần sẽ cấp vàng cho bệ hạ, bệ hạ sẽ tất thắng phen này".

Ba-tư-nặc nhảy vọt xuống giường nói:

"Cấp-cô-độc! Khanh đã cứu trẫm, trẫm xin cảm ơn khanh".

Nhờ vàng của Cấp-cô-độc, Ba-tư-nặc thành lập được một binh đoàn vững mạnh. Ngài ra quân chinh phạt A-xà-thế.

Khi hai đoàn quân giáp mặt, tiếng hò reo vang dội kinh hồn, ma quỉ thánh thần cũng phải vỡ gan tím mật. Ba-tư-nặc dàn binh theo thế trận của người xứ khác truyền đạt. Ngài tấn công chớp nhoáng; không kịp phòng thủ, A-xà-thế phải thất bại và bị tóm gọn.

A-xà-thế nói với Ba-tư-nặc: "Hãy giết ta đi!"

Ba-tư-nặc đáp: "Ta sẽ tha mạng cho ngươi. Ta sẽ đưa ngươi đến gặp Ðức Thế Tôn, Ngài sẽ quyết định phận số của ngươi."

Ðức Thế Tôn vừa đến Kỳ-viên được ít lâu. Ba-tư-nặc đến bạch:

"Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài nghĩ xem! Vua A-xà-thế là tù binh của con. Con không có ác tâm ác ý gì với hắn mà hắn vẫn oán thù con. Vì một vài nguyên do vặt vãnh, hắn cất binh tấn công và đánh bại con lần đầu, nhưng nay con hỷ xả cho hắn. Bạch Ðức Thế Tôn, con không muốn giết hắn. Vì phụ hoàng của hắn, quốc vương Tần-bà-sa-la, là bạn thân của con, con muốn trả tự do cho hắn".

Ðức-Thế-Tôn nói: "Thế thì hãy trả tự do cho A-xà-thế. Thắng thì gây hận thù; bại thì chuốc đau khổ. Những bậc hiền giả sáng suốt không còn ôm lòng thắng bại. Hủy báng sanh hủy báng, hận thù sanh hận thù. Những bậc hiền giả sáng suốt không còn ôm lòng thắng bại. Hại người thì người hại. Ðoạt người thì người đoạt. Những bậc hiền giả sáng suốt không còn ôm lòng thắng bại."

Trước sự hiện diện của Ðức Thế Tôn, A-xà-thế nguyện hứa là bạn trung thành với Ba-tư-nặc.

"Và, chúng ta hãy còn hơn là bạn tâm phúc nữa" người nói tiếp. "Ta có một hoàng tử như ngài biết, ngài có một công chúa Cờ-sê-na (Kshena) chưa lấy chồng. Ngài vui lòng gả công chúa của ngài cho hoàng tử của ta được chứ?"

Ba-tư-nặc nói: "Thế thì tốt quá. Mong rằng cuộc tác hợp đậm đà này sẽ thắt chặt thêm tình bằng hữu thắm thiết của chúng ta."

Ðức Thế Tôn hài lòng. Hai vị quốc vương từ đó chung sống hòa bình với nhau. A-xà-thế về sau nổi danh là một vì vua nhân ái.

XIV- PHẬT TRUYỀN GIÁO PHÁP

Ðức Thế Tôn mỗi lúc một già yếu dần. Khi Ngài ở tại Vương-xá, Ngài tập họp tăng đoàn và thuyết giảng cho họ rất lâu.

"Này các thầy tỳ kheo, đừng quên giáo pháp mà ta đã trao truyền cho các thầy. Hãy cẩn thận giữ gìn chúng. Các thầy hãy nhóm họp mỗi tháng hai lần, các thầy sẽ chỉ vẽ lỗi lầm cho nhau. Nếu thầy nào thấy mình có lỗi mà không phát lồ sám hối, thầy ấy sẽ phạm tội vọng ngữ. Hãy sám hối: sám hối tất an lạc. Như các thầy biết đó, bốn trọng tội mà một thầy tỳ kheo có thể phạm phải là: tác hợp với phụ nữ; trộm lấy bất cứ vật gì; giết người hay xúi người giết; giả có năng lực siêu nhân mà thật ra vốn mình không có. Tỳ kheo nào phạm một trong bốn tội đó là phải trục xuất ra khỏi giáo hội. Tỳ kheo không được dùng lời hoa mỹ hoặc làm hỏng đời phụ nữ. Không được vu oan cho huynh đệ. Không được gieo mối bất hòa trong hàng tăng chúng. Không được cố tình tránh né thiện ý phê bình. Không được vọng ngữ hoặc nhục mạ ai. Này các thầy tỳ kheo, hãy giữ gìn cẩn thận tất cả những giáo pháp mà ta đã truyền đạt cho các thầy."

Ngài dạy tiếp:

"Oai nghi tế hạnh là lãnh địa của bất tử trường tồn; cẩu thả buông lung là cứ điểm của vong thân hoại thể. Oai nghi tế hạnh thì sống; cẩu thả buông lung thì chết. Thế nên, các bậc hiền trí lúc nào cũng điềm đạm uy nghi. Các bậc hiền trí đều đạt đến niết bàn vô thượng. Thầy nào có nghị lực và nhớ nhiều, suy nghĩ thật thà, hành động cẩn trọng, tiết dục tri túc, sống hợp giáo pháp, đứng đắn trang nghiêm; thầy ấy sẽ thấy đạo hạnh của mình tăng trưởng rực rỡ. Cẩu thả buông lung là ngu ngơ đần độn; bậc hiền trí giữ uy nghi như người hà tiện giữ vàng. Thầy nào đứng đắn trang ngiêm, thầy ấy sẽ thấy rõ mối nguy hại của tính buông lung cẩu thả; thầy ấy sẽ đoạn trừ ác pháp như gió thổi lá rơi; thầy ấy sẽ bẻ nát xích xiềng buộc vào trần thế; thầy ấy sẽ gần gũi với niết bàn. Ðứng trên lầu cao trí tuệ, giải thoát hết mọi khổ đau, bậc nghiêm túc uy nghi, người đã hàng phục thói quen phóng dật, sẽ thấy chúng sanh khốn khổ như kẻ đứng trên núi cao nhìn xuống đám người lố nhố dưới ruộng.

XV- ÐỨC PHẬT VÀ GÃ MỤC ÐỒNG

Trước khi Ðức Thế Tôn tịch diệt, Ngài quyết định làm một cuộc hành trình thật xa. Ngài muốn viếng thăm một số môn đệ và khuyên nhủ họ cẩn thận, giữ gìn giáo pháp của Ngài. Với một mình A-nan theo hầu, Ngài lên đường rời thành Vương-xá.

Một hôm, nhân khi ngồi nghỉ trên một bờ ruộng, Ngài nói với A-nan:

"Ðây rồi có lúc người đời sẽ tự hỏi tại sao ta còn phải đầu thai vào dạ đàn bà. Họ sẽ thắc mắc về chuyện đản sanh thanh tịnh tuyệt đối của ta, họ sẽ hoài nghi uy lực tối thượng nhiệm màu của ta. Những kẻ phàm phu kém cỏi đó sẽ không bao giờ hiểu rằng ai cống hiến đời mình cho sự nghiệp thánh thiện thì hình hài đâu còn vướng vào chu trình cấu uế của việc hạ sanh. Ai muốn chứng đắc vô thượng bồ đề, người ấy phải vào dạ đàn bà; vì lòng xót thương nhân thế, người ấy phải nguyện sanh vào cỏi nhân gian. Vì nếu người ấy là thiên thần, làm sao người ấy có thể chuyển vận bánh xe chánh pháp? Này A-nan, nếu Phật là một thiên thần, loài người e không mấy chốc sẽ nản lòng thối chí. Họ sẽ nói: "Ðức Phật là vị thiên thần, Ngài vốn có hạnh phúc, thánh đức và hoàn hảo tuyệt vời; còn chúng ta, làm sao chúng ta có hy vọng đạt đến ngần ấy thứ? Họ sẽ đâm ra chán nản đau buồn. Ồ, đừng động đến hạng người kém cỏi ấy: Ðừng để chúng trộm cắp giáo pháp của ta, chúng sẽ làm bệnh hoạn giáo pháp đó. Hơn nữa, đừng để chúng nhận định Phật tánh là khó hiểu, chúng sẽ không bao giờ đo lường được sự cao cả siêu việt của ta đâu!"

Một gã chăn cừu đang băng ngang qua ruộng. Y có sắc thái thanh tịnh của một người đang âm thầm làm việc hoan hỷ.

Ðức Thế Tôn hỏi: "Ngươi là ai, mục tử?"

"Tôi là Ða-ni-da (Dhaniya)" Mục tử đáp.

"Ngươi đi đâu?" Ðức Thế Tôn hỏi.

"Tôi về nhà với vợ con tôi."

"Mục tử, hình như ngươi có được niềm hạnh phúc trong sạch".

"Cơm tôi đã nấu chín,
Sữa tôi đã vắt xong,
Trên bờ sông tôi ở,
Cùng với vợ con tôi,
Mái nhà lợp kỹ rồi,
Trong nhà đèn sáng rỡ,
Mưa rơi mặc mưa rơi".

Ðức Thế Tôn nói:

"Ta đoạn trừ sân hận,
Ta đốn phá mê lầm,
Một đêm ta chờ đợi,
Trên bờ sông mênh mông,
Nhà ta không có mái,
Lửa dục ta tắt rồi,
Mưa rơi mặc mưa rơi."

Mục tử nói:

"Dê tôi không bị muỗi mòng,
Cừu tôi mặc sức thong dong,
Bò tôi đầy đồng gặm cỏ,
Mặc cho mưa gió phũ phàng."

Ðức Thế Tôn nói:

"Ta đã làm bè kiên cố,
Chống chèo đến cảnh niết bàn,
Băng qua thác ghềnh tham dục,
Ðến được bến bờ thênh thang,
Thuyền bè ta không cần nữa,
Mặc cho mưa gió phũ phàng."

Mục tử nói:

"Vợ tôi ngoan ngoãn vâng lời,
Tiết trinh đức hạnh mấy đời phôi pha,
Bao năm chung sống hài hòa,
Nhân từ vui tính ấy là vợ tôi,
Gần xa ai cũng mến người,
Mưa rơi thì mặc mưa rơi sá gì."

Ðức Thế Tôn nói:

"Tâm ta ngoan ngoãn vâng lời,
Si mê ràng buộc nhiều đời gỡ xong,
Bao năm tu tập tinh ròng,
Hiền hòa nhu nhuyến tâm ta sáng ngời,
Khổ đau ác trược đoạn rồi,
Mưa rơi thì mặc mưa rơi sá gì."

Mục tử nói:

"Tôi tự trả lương người giúp việc,
Khẩu phần con cháu nhận nơi tôi,
Không ai lên tiếng than hơn kém,
Mặc sức mưa giăng ngập cả trời."

Ðức Thế Tôn nói:

"Ta không nô lệ cho ai cả,
Ðất trời lồng lộng ta thênh thang,
Với ta không cần người nô lệ,
Mặc sức mưa giăng trải hàng hàng."

Mục tử nói:

"Tôi có bò sữa, nghé tơ và bê con,
Lại thêm một chó theo chăn chúng,
Mưa gió hề chi mưa cứ mưa ."

Ðức Thế Tôn nói:

"Ta không bò sữa, nghé tơ và bê con,
Cũng không có chó theo chăn chúng,
Mưa gió hề chi mưa cứ mưa."

Mục tử nói:

"Cọc nhọn đóng xuống đất,
Mấy ai nhổ xem nào,
Giây mới bện có chắc,
Trâu bò phá được sao,
Mưa sa mặc mưa sa. "

Ðức Thế Tôn nói:

"Như chó bứt xiềng xích,
Như voi phá xích xiềng,
Vĩnh viễn ta đoạn tuyệt,
Vào ra cõi ta bà,
Mưa sa mặc mưa sa."

Mục tử Ða-ni-da đảnh lễ Ðức Thế Tôn và bạch:

"Bạch Ðức Thế Tôn, con biết Ngài là ai rồi; xin mời Ngài ghé đến nhà con."

Vừa mới vô nhà, trời đổ mưa tầm tã, nước mưa tạo thành những dòng suối nhỏ chảy dài trên mặt đất. Ða-ni-da nghe mưa rơi mà thốt lên những lời cảm thán:

"Thật vậy, từ khi gặp Phật, chúng con được nhiều của quí. Bạch Ðức Thế Tôn, Ngài là nơi nương tựa của chúng con, Ngài đã nhìn chúng con bằng ánh mắt trí tuệ. Hỡi thánh nhân, xin Ngài mãi mãi là đấng cứu độ của chúng con! Con và vợ con xin qui y Ngài; nếu chúng con sống đời thánh thiện, chúng con sẽ đoạn trừ sanh tử, chúng con sẽ chấm dứt khổ đau."

Ma-vương, tên ác quỉ, chẳng ai hay biết hắn từ đâu xuất hiện trước mặt Ðức Thế Tôn và Ða ni da, nói:

"Có con sung sướng vì con,
Có bò sung sướng vì bò;
Sung sướng cho ai lắm của tiền,
Người không tiền của khổ triền miên."

Ðức Thế Tôn nói:

"Có con khốn khổ vì con,
Có bò khốn khổ vì bò,
Khốn khổ cho ai lắm của tiền,
Người không tiền của sướng vô biên".

Ma-vương trốn mất. Ða-ni-da và vợ lắng nghe Ðức Thế Tôn trao truyền giáo pháp.

XVI- PHẬT DẠY CÁC THẦY TỲ KHEO Ở TỲ-XÁ-LI

Ðức Thế Tôn đến thành Ba-liên-phất (Pataliputra) đang được xây cất trên bờ sông Hằng (Gange). Ngài cúi đầu thi lễ những bức tường vừa nhô lên khỏi mặt đất và tán thán:

"Ngày kia thành này sẽ là nơi lừng danh cao quí; một quốc vương kiệt xuất sẽ cai trị thành này và nhiều vị anh hùng cái thế sẽ ra đời tại đây. Hỡi Ba-liên-phất, ngươi sẽ là kinh thành trù mật phú cường, thế nhân sẽ ca tụng tên ngươi qua bao thời đại."

Ngài băng qua sông. Ngài nhắm đến thành Tỳ-xá-li, nhưng mới đến thành Bai-va (Bailva) thì Ngài lâm trọng bệnh. Ngài đau ê ẩm cả người. A-nan khóc sướt mướt, thầy nghĩ là Ngài sắp tịch diệt. Nhưng Ðức Thế Tôn nhớ đến nhiều môn đệ mà Ngài phải viếng thăm; Ngài chưa muốn vào niết bàn, Ngài muốn trao truyền giáo pháp cho họ lần cuối. Nhờ ý chí vững mạnh, Ngài đã khắc phục được con bịnh, sự sống chưa từ bỏ Ngài. Ngài bình phục trở lại.

Ðến lúc khỏe hẳn, Ngài ra khỏi nhà và ngồi cạnh cửa ra vào. A-nan đến ngồi bên Ngài và bạch rằng:

"Bạch Ðức Thế Tôn, con thấy Ngài đã hồi phục sức khỏe. Hôm Ngài bịnh nặng, con mất cả nghị lực; con cũng bịnh theo Ngài. Có lúc con nhận thấy Ðức Thế Tôn không thể nào bịnh được. Con vững tin là Ngài còn nhớ đến giáo hội. Con biết Ngài không thể vào niết bàn mà trước tiên không bày tỏ ý định với giáo hội."

Ðức Thế Tôn nói:

"Này A-nan, giáo hội còn đòi hỏi ở ta điều gì?" Ta đã khai thị chánh pháp, ta đã truyền đạt chánh pháp; không còn một điểm nhỏ nào ta chưa giảng giải! Ai nghĩ rằng: "Ta muốn lãnh đạo giáo hội" thì hãy bày tỏ ý định với giáo hội. Này A-nan, Ðức Thế Tôn không bao giờ nghĩ "Ta muốn lãnh đạo giáo hội" thì tại sao Ngài phải bày tỏ ý định với giáo hội? Này A-nan, ta già rồi; tóc ta bạc, thân ta yếu. Ta đã tám mươi tuổi, ta đã đi đến cuối đoạn đường. Bây giờ mỗi thầy hãy tự mình là một ngọn đuốc soi đường; không ai có thể mang ánh sáng đến cho các thầy. Sau khi ta giã từ dương thế, thầy nào tự mình thắp lên ngọn đuốc cho chính mình thì rõ ràng là thầy ấy đã hiểu được ý nghĩa lời dạy của ta; này A-nan, thầy ấy sẽ là đệ tử chân chính của ta; thầy ấy sẽ biết sống theo chánh nghiệp."

Ngài lại lên đường, sau đó Ngài đến Tỳ-xá-li. Ngài khất thực từng nhà qua kinh thành. Bỗng nhiên Ngài thấy Ma-vương đứng trước Ngài.

Tên ác quỉ nói: "Bạch Ðức Thế Tôn, đã đến giờ rồi; người hãy vào niết bàn!"

Ðức Thế Tôn nói: "Không! ta biết khi nào ta phải vào niết bàn; này ác quỉ, ta biết rõ hơn ngươi. Còn một vài tháng nữa. Ba tháng nữa Ðức Thế Tôn sẽ vào niết bàn."

Ðức Thế Tôn nói xong, cả trái đất rung chuyển, sấm rền vang bầu trời: Ðức Thế Tôn đã từ bỏ ý chí lưu lại trần thế; Ngài đã ấn định thời hạn vào niết bàn. Cả trái đất rung chuyển, sấm rền vang bầu trời.

Ðêm đó, Ngài tập họp tăng đoàn ở Tỳ-xá-li lại. Ngài dạy:

"Này các thầy tỳ kheo, hãy cẩn thận giữ gìn tri kiến mà ta đã chứng đắc và trao truyền cho các thầy, hãy theo chánh đạo cho nếp sống thánh thiện được trường tồn, vì sự an lạc và giải thoát cho đời, vì sự an lạc và giải thoát cho chư thiên, vì sự an lạc và giải thoát cho nhân thế: một vài tháng nữa ta sẽ vào niết bàn. Ta ra đi và các thầy ở lại. Nhưng, này các thầy tỳ kheo, đừng bao giờ ngừng tinh tiến. Thầy nào vững bước trên đường chân chính, thầy ấy sẽ thoát khỏi sanh tử, thầy ấy sẽ vĩnh viễn giải thoát khổ đau."

Ngày hôm sau, Ngài lại vào thành khất thực; rồi cùng với một vài đệ tử, Ngài lên đường đến Câu-thi-na (Kusinagara), Ngài quyết định nhập niết bàn tại đó.

XVII- BỮA NGỌ TRAI TẠI NHÀ THUẦN-ÐÀ

Ðức Thế Tôn và môn đệ của Ngài dừng tại Ba-va (Pava), trong vườn cây của gã thợ rèn Thuần-đà (Cunda). Thuần-đà đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và bạch:

"Bạch Ðức Thế Tôn, ngày mai, xin mời Ngài hoan hỷ đến nhà con thọ trai."

Ðức Thế Tôn nhận lời. Ngày hôm sau, Thuần-đà dọn thịt heo và các món cao lương khác để đãi khách quí. Ðức Thế Tôn và đồ chúng ngồi vào bàn. Nhìn thấy thịt heo, Ngài chỉ tay nói:

"Thuần-đà, chỉ có ta là dùng được món này; ngươi phải dành nó cho ta. Ðệ tử của ta sẽ dùng các thứ khác.

Khi dùng bữa, Ngài nói:

"Hãy chôn sâu xuống đất những gì ta còn chừa lại; chỉ có ta là dùng được món này."

Ngài từ giã lên đường. Ðồ chúng lại theo Ngài. Ðức Thế Tôn và đồ chúng đi cách Ba-va được một đoạn ngắn thì Ngài cảm thấy mệt và nhuốm bệnh. A-nan đau buồn, thầy nặng lời than trách Thuần-đà, chú thợ rèn đã cúng dường Ðức Thế Tôn một ngọ trai khốn nạn.

Ðức Thế Tôn nói: "Này A-nan, đừng giận chú thợ rèn Thuần-đà. Nhờ cúng dường ta thức ăn mà chú ấy sẽ được nhiều phúc báo to lớn. Trong tất cả các bữa cúng dường ngọ trai cho ta, có hai bữa đáng được ca ngợi nhất: một là của Tu-xà-đa (Sujata) và hai là của chú thợ rèn Thuần-đà".

Ngài khắc phục mệt mỏi và đi đến bờ sông Ca-cút-tha (Kakutstha). Nước sông chảy êm đềm trong mát. Ðức Thế Tôn xuống sông tắm mình trong làn nước trong veo. Tắm xong. Ngài uống nước, rồi đi đến một vườn xoài. Tại đây, Ngài bảo sa môn Cun-đa-ca (Kundaka):

"Hãy xếp hộ y ta làm tư để ta nằm nghỉ"

Cun-đa-ca sung sướng vâng lời: Thầy vội xếp y làm tư và trải trên mặt đất. Ðức Thế Tôn nằm xuống, Cun-đa-ca ngồi bên cạnh Ngài.

Ðức Thế Tôn nghỉ được vài giờ, rồi Ngài tiếp tục lên đường, cuối cùng Ngài đến Câu-thi-na. Tại đó, trên bờ sông Hi-ran-da-va-ti (Hiranyavati), có một khu vườn nhỏ xinh xắn êm đềm.

Ðức Thế Tôn nói:

"A-nan, đi sửa cho thầy một chỗ nằm giữa hai cây song thọ. Hãy quay đầu về phương bắc. A-nan, Thầy bịnh lắm rồi."

A-nan sửa xong giường, Ðức Thế Tôn đến nằm trên đó.

XVIII- PHẬT NHẬP NIẾT-BÀN

Lúc ấy không phải là mùa cây nở hoa, nhưng hai cây che mát Ðức Thế Tôn lại bừng hoa rực rỡ. Hoa xinh nhẹ trĩu trên chiếc giường Ngài, và âm điệu ngọt ngào từ trời cao vọng xuống.

Ðức Thế Tôn nói với A-nan trung tín:

"Xem kìa: Không phải mùa cây nở hoa, vậy mà hoa nở tưng bừng, mưa hoa phủ kín cả hình hài ta. Nghe kìa! Không gian vang khúc hoan ca, thiên thần tán thán Phật Ðà Như Lai. Nhưng Ðức Phật còn được tán thán hơn thế nữa. Các tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắt, ưu bà di; tất cả những ai thấy được sự thật, tất cả những ai sống hợp giáo pháp, họ là những người hết lòng tôn kính Phật vậy. Thế nên, A-nan, con phải sống họp với giáo pháp; và ngay trong những vấn đề tế toái nhất, con cũng phải noi theo chánh đạo cao quí."

A-nan khóc ròng. Thầy lảng ra chỗ khác để dấu đi những giọt nước mắt chân tình.

Thầy nghĩ: "Ta còn mang nhiều nghiệp chướng, tội lỗi hãy còn chất đầy. Ta chưa đạt đến thánh quả thì Ðức Thế Tôn, đấng Ðạo sư thương yêu ta, sắp vào niết bàn."

Ðức Thế Tôn gọi Thầy lại nói:

"A-nan, không nên đau buồn, không nên thất vọng! Hãy nhớ lời huấn thị của Thầy: những gì ta thích, những gì ta quí, ngày kia cũng phải chia lìa. Có gì sanh ra mà không bị biến thiên hủy hoại? Có gì sinh ra mà được mãi mãi trường tồn? A-nan, con theo hầu Thầy đã lâu, con là bạn hiền tâm phúc của Thầy. Thầy ghi nhận thâm tình của con. Con trung hậu cả ý nghĩ, lời nói lẫn việc làm. A-nan, con đã tạo được một thiện nghiệp cao quí; hãy tiếp tục trên đường chánh Ðạo, con sẽ giải thoát hết mọi vọng nghiệp lâu đời."

Màn đêm buông xuống. Dân chúng Câu-thi-na nghe tin Ðức Thế Tôn đang nằm dưới hai cây song thọ, họ lũ lượt kéo nhau đến đảnh lễ Ngài. Một ẩn sĩ cao niên tên là Tu-bạt-đa-la (Subhadra) cũng đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và nguyện xin qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng; Tu-bạt-đa-la là đệ tử sau cùng và được hân hạnh gặp Phật lần cuối.

Trời đêm hôm đó đẹp lắm. A-nan ngồi cạnh Ðức Thế Tôn, Ngài nói:

"A-nan, có lẽ con sẽ nghĩ: "Chúng ta không còn Thầy nữa". Nhưng con không được nghĩ thế. Giáo pháp vẫn còn, giáo pháp mà thầy đã truyền đạt cho các con đó; A-nan, khi Thầy nhập diệt, các con hãy lấy giáo pháp làm Thầy."

Ngài dạy tiếp:

"Thật vậy, này các thầy tỳ kheo, các pháp đã có sanh, tất yếu phải có diệt. Ðừng bao giờ quên siêng năng tinh tiến."

Ðức Thế Tôn không còn hiện hữu trên thế gian này. Khuôn mặt Ngài tỏa ra ánh hào quang rực rỡ. Giác tánh Ngài đã về cõi chân như, Ngài đã nhập Niết-bàn. Cả trái đất rung chuyển, sấm rền vang bầu trời.

Tảng sáng, gần thành Câu-thi-na, dân chúng chất một đống củi hỏa táng khổng lồ như thể hỏa táng một đương kim hoàng đế, họ ngậm ngùi thiêu xác Ðức Thế Tôn tại đó.

- Hết -