Sách » Tôn Giáo » Đạo Phật » Cuộc đời Đức Phật

Phần 5

I- MA-HA BA-XÀ-BA-ÐỀ ÐƯỢC VÀO GIÁO HỘI

Ma-ha Ba-xà-ba-đề mãi trầm tư suy nghĩ. Bà nhận thấy sự vô vị trống rỗng của cõi đời này. Bà muốn thoát khỏi hoàng cung, thoát khỏi kinh thành Ca-tỳ-la-vệ, và sống một cuộc đời thánh thiện.

Bà nghĩ: "Ðức Thế Tôn hạnh phúc biết bao! Ðồ chúng của Ngài hạnh phúc biết bao! Tại sao không thể làm như họ? Tại sao ta không thể sống như họ? Nhưng họ lại khước từ phụ nữ. Chúng ta không được chấp nhận vào giáo hội, ta phải lưu lại kinh thành ảm đạm này, ta phải lưu lại hoàng cung thê lương này; ta bơ vơ lạc lõng, dưới mắt ta, tất cả đều trống rỗng!".

Bà đau khổ. Bà vất hết xiêm y sang trọng; bà phân phát châu báu ngọc ngà cho các thị nữ, bà khiêm tốn giản dị trước mặt mọi loài.

Một hôm, bà tự nhủ:

"Ðức Thế Tôn từ bi lắm, Ngài sẽ thương xót ta. Ta sẽ đến gặp Ngài, và biết đâu Ngài sẽ tiếp nhận ta vào giáo hội".

Ðức Thế Tôn đang trú tại một cánh rừng gần thành Ca-tỳ-la-vệ. Ma-ha-ba-xà-ba-đề đến gặp Ngài, bà rụt rè thưa:

"Bạch Ðức Thế Tôn, chỉ có Ngài và môn đệ của Ngài là thật sự hạnh phúc. Còn con, giống như Ngài và mọi người theo Ngài, con muốn đi trên con đường giải thoát. Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ cho con được vào giáo hội."

Ðức Thế Tôn im lặng. Bà tiếp:

"Làm sao con có thể an vui hạnh phúc trong một thế giới mà con ngao ngán ê chề? Con đã thấy rõ những hoan lạc hào nhoáng của nó. Con muốn đi trên con đường giải thoát. Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ cho con được vào giáo hội. Con biết có nhiều phụ nữ cũng muốn theo gương con. Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ cho chúng con được vào giáo hội."

Ðức Thế tôn vẫn im lặng. Bà tiếp:

"Hoàng cung của con nay tẻ nhạt u buồn lắm. Kinh thành bị bao trùm trong một màn đen tối. Những tấm vải thêu sặc sỡ chỉ đè nặng lên vầng trán con; vương miện, vòng kiềng chỉ làm con thêm đau nhói. Con phải đi trên con đường giải thoát. Biết bao phụ nữ nhiệt tình, biết bao phụ nữ thuần thành đang sẵn sàng nối gót con. Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ cho phụ nữ được vào giáo hôi."

Ðến lần thứ ba, Ðức Thế Tôn vẫn im lặng.

Ma-ha-ba-xà-ba-đề trở về hoàng cung u tối với hai hàng nước mắt ròng ròng.

Nhưng bà không bỏ cuộc. Bà quyết tâm đến gặp Ðức Thế Tôn một lần nữa để van xin Ngài.

Bấy giờ Ngài an trú trong một khu rừng rộng bao la gần thành Tỳ-xá-ly. Ma-ha-ba-xà-ba-đề tự cắt tóc, khoác lên mình một chiếc y thô sơ màu ngà, bà lên đường đến thành Tỳ-xá-lỵ.

Bà làm cuộc hành trình bằng chân không; bà không hề than phiền mỏi mệt. Bụi bám đầy người, cuối cùng bà đến ngay tịnh xá Ðức Thế tôn đang nhập định. Bà không dám vào; bà đúng khóc sướt muớt ngoài ngõ. A-nan chợt đi ngang qua, nhìn thấy bà và hỏi:

"Thưa hoàng hậu, vì sao hoàng hậu đến đây; lại ăn mặc như thế này? Tại sao hoàng hậu lại đứng trước của tịnh xá của Ðức Thế Tôn?"

"Ta không dám vào diện kiến Ngài. Ðã ba lần Ngài từ chối lời thỉnh nguyện của ta, hôm nay ta đến cầu xin Ngài một lần nữa: Xin Ngài hoan hỷ cho ta, cho giới phụ nữ được vào giáo hội."

A-nan vào tịnh xá, gặp Ðức Thế Tôn, bạch rằng:

"Bạch Ðức Thế Tôn, Ma-ha-ba-xà-ba-đề, hoàng hậu kính yêu của chúng ta, đang đứng trước cổng tịnh xá của Ngài. Bà không dám gặp Ngài, bà sợ Ngài sẽ khước từ lời thỉnh nguyện của bà một lần nữa. Bạch Ðức Thế Tôn, đó đâu phải là lời thỉnh nguyện của một phụ nữ điên rồ, bà không đáng cho Ngài ban ân huệ sao? Hoàng hậu đã một thời là di mẫu của Ngài; lúc nào bà cũng thương yêu chăm sóc Ngài; bà thật xứng đáng được Ngài chiếu cố. Vì sao Ngài dứt khoát không chấp nhận phụ nữ vào giáo hội? Có nhiều phụ nữ rất mực thuần thành, có nhiều phụ nữ can đảm nghiêm trì đường hướng thánh thiện lắm chứ."

Ðức Thế Tôn nói: "Này A-nan, đừng cầu xin ta cho phép phụ nữ vào giáo hội."

A-nan cáo lui. Hoàng hậu đang mong gặp A-nan.

Bà lo lắng hỏi: "Ðức Thế Tôn nói sao?"

"Ngài khước từ lời thỉnh nguyện của hoàng hậu. Nhưng đừng thất vọng."

Ngày hôm sau, đến gặp Ðức Thế Tôn, A-nan thưa:

"Ma-ha-ba-xà-ba-đề không chịu ra về. Bà đang nghĩ đến những ngày dài hạnh phúc của thời bà còn son trẻ. Lúc đó Ma-da còn sống; Ma-da, người phụ nữ diễm kiều nhất; Ma-da, người đã hạ sanh một bé trai. Em gái của Ma-da là người rất cao thượng; bà không hề ganh tị: bà yêu thương ngay cả trước khi bé mở mắt chào đời. Ðến khi bé ra đời, mang nguồn vui đến cho tất cả chúng sanh thì hoàng hậu khuất núi. Ma-ha-ba-xà-ba-đề đã sớm hôm chăm sóc đứa bé mồ côi mẹ đó: bé hình như non nớt lắm. Bà đùm bọc che chở bé; bà tận tụy nuôi dưỡng bé, bà bồng bế bảo hộ bé khỏi bị ảnh hưởng của bọn tỳ nữ ác tâm; bà hết lòng trông nom chiều chuộng bé. Ðến khi bé lớn lên, bà vẫn không rời bé. Bà đoán biết những sở thích vụn vặt nhất của bé; bà tôn thờ bé, người đã đạt đến nguồn hạnh phúc tối thượng. Người là cây đại thọ che mát các bậc hiền đức cao minh; và giờ đây, khi bà muốn tìm một nơi an trú khiêm tốn dưới bóng cây đại thọ của người thì ước vọng bình dị an lành đó lại bị từ chối. Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài độ lượng, xin Ngài hoan hỷ thâu nhận Ma-ha-ba-xà-ba-đề vào giáo hội."

Ðức Thế Tôn đắn đo suy nghĩ, rồi trịnh trọng phán rằng:

"Này A-nan, hãy lắng nghe. Hãy đi gặp Ma-ha-ba-xà-ba-đề và nói với bà rằng ta sẵn lòng đón nhận bà vào giáo hội, nhưng với điều kiện là bà phải chấp nhận một số giới luật nghiêm khắc. Ðây là giới luật mà ta buộc giới phụ nữ phải vâng giữ khi vào giáo hội; một tỳ kheo ni, dù đã trải qua trăm hạ, cũng phải đứng dậy cung kính trước sự hiện diện của một tỳ kheo tăng, dù cho vị ấy mới vào đạo được một ngày; tỳ kheo ni phải đến gặp tỳ kheo tăng để phát lồ sám hối những điều lỗi lầm và để cầu xin giáo thọ; tỳ kheo ni phạm trọng tội, trước mặt đại chúng tỳ kheo tăng và tỳ kheo ni, phải được xử phạt thích đáng trong vòng mười lăm ngày; trước khi tỳ kheo ni được nhận vào giáo hội, đức hạnh và chí hướng của họ phải được thử thách trong một giai đoạn là hai năm; tỳ kheo ni không được khích động tỳ kheo tăng. Ðây là giới luật buộc tỳ kheo ni phải giữ cùng với những giới luật đã được áp dụng cho tỳ kheo tăng."

Ma-ha-ba-xà-ba-đề sung sướng tuyên hứa nghiêm giữ giới luật. Bà gia nhập giáo hội, và chỉ trong vài tháng sau, nhiều phụ nữ đã nối tiếp theo gương bà.

Nhưng rồi, một hôm, Ðức Thế Tôn nói với A-nan:

"Này A-nan, nếu không chấp nhận phụ nữ vào giáo hội, chúng ta có thể duy trì sự tinh khiết trong một thời gian dài, và chánh tín có thể tồn tại, vững mạnh, thanh tịnh cả ngàn năm. Nhưng, này A-nan, nay chấp nhận phụ nữ vào giáo hội, sự tinh khiết đó rồi sẽ bị hoen ố và chánh tín, dù vững mạnh tới đâu, cũng sẽ chỉ tồn tại trong khoảng 500 năm."

 

II- PHẬT ÐIỂM MẶT BỌN GIẢ DỐI

Từ Tỳ-xá-li, Ðức Thế Tôn đến Xá-vệ, rồi Ngài đến Kỳ-viên. Một hôm, vua Ba-tư-nặc đến hầu thăm Ngài.

Quốc vương nói: "Bạch Ðức Thế Tôn, mới đây có sáu ẩn sĩ đến Xá-vệ. Họ không tin giáo pháp của Ngài. Họ cho rằng tri kiến của Ngài không bằng họ, và họ ra sức làm con ngạc nhiên bằng những phép mầu kỳ lạ. Con nghĩ là lời lẽ của họ không đúng, nhưng, bạch Ðức Thế Tôn, nếu như Ngài dẹp được tính táo bạo liều lĩnh của họ thì hay lắm. Việc giải thoát thế nhân tùy thuộc vào ánh vinh quang rực rỡ của Ngài. Xin Ngài hãy đối diện với bọn gian manh lường gạt đó và bắt chúng phải im ngay."

Ðức Phật đáp: "Này quốc vương, hãy cho xây một tòa đại sảnh gần kinh thành. Hãy hoàn tất trong bảy ngày. Ta sẽ đến. Hãy triệu tập đông đủ các ẩn sĩ bịp bợm đó lại, và rồi quốc vương sẽ chứng kiến ai là người làm được những phép màu cao quí nhất, họ hay ta."

Quốc vương Ba-tư-nặc hạ lệnh xây gấp một đại sảnh đường.

Trong khi đợi đến ngày so tài, bọn ẩn sĩ láo khoét tìm cách đánh lừa các Phật tử thuần thành của Ðức Thế Tôn, và những ai không nghe theo lời lẽ quái đãn của chúng thì phải chuốc lấy những hận thù cay nghiệt. Bấy giờ, Ðức Thế Tôn không có người bạn thân nào ở Tỳ-xá-li hơn là hoàng tử Ca-la (Kala), em ruột của vua Ba-tư-nặc. Ca-la ra mặt khinh hẳn bọn ẩn sĩ, và chúng quyết định phục thù.

Ca-la là một hoàng tử hào hoa phong nhã. Một hôm, khi dạo qua vườn ngự uyển, chàng gặp một trong những vương phi của vua Ba-tư-nặc, nàng tinh nghịch ném vào người chàng một tràng hoa. Bọn ẩn sĩ hay tin đó, chúng báo với quốc vương là em trai của quốc vương đã cố tình quyến rũ một trong những vương phi của ngài. Quốc vương đùng đùng nổi giận, không để cho Ca-la có dịp phân bua, quốc vương hạ lệnh chặt hết tay chân của Ca-la.

Ca-la khốn nạn đau đớn vô vàn. Bạn bè thân thích vây quanh giường của chàng khóc than thê thảm. Một trong những tên ẩn sĩ quái ác chợt đi ngang qua.

Họ gọi hắn nói: "Mời ngài đến đây, xin ngài phóng rọi quyền năng. Ngài biết Ca-la vô tội chứ. Xin ngài cứu Ca-la với:"

Tên ẩn sĩ đáp: "Hắn tin tưởng thằng con của dòng Thích-ca thì bảo thằng con của dòng Thích-ca cứu nó."

Thế là Ca-la cất tiếng hát:

"Sao Ðức Thế Tôn của nhân thế không thấy nỗi đau khổ của con? Chúng con xin kính lễ Ngài, người đoạn trừ hết mọi dục vọng: Chúng con xin tôn thờ Ngài, người xót thương vạn loại hữu tình."

A-nan bỗng nhiên hiện ra trước mặt chàng.

Tôn giả nói: "Này Ca-la, Ðức Thế Tôn đã dạy ta những lời có thể hàn gắn vết thương của ngươi".

Tôn giả đọc vài câu kệ, tay chân của hoàng tử hoạt động lại như thường.

Chàng tán thán: "Từ nay về sau, ta sẽ hầu hạ Ðức Thế Tôn! Dầu Ngài sai ta làm những việc hèn hạ đến đâu, ta cũng sẽ hoan hỷ làm đẹp lòng Ngài."

Chàng theo A-nan đến Kỳ-viên.

Ðức Thế Tôn niềm nở đón nhận chàng vào giáo hội.

Ðã đến ngày Ðức Thế Tôn định so tài với các ẩn sĩ. Từ sáng sớm, quốc vương Ba-tư-nặc đã đến đại sảnh đường. Sáu ẩn sĩ đều có mặt tại đó. Họ trao đổi cho nhau bằng những ánh mắt và nụ cười hý hửng.

Một ẩn sĩ nói: "Tâu quốc vương, chúng tôi là những người đầu tiên đến nơi dự hội."

Một tên khác nói: "Ngài thiết tưởng kẻ mà chúng tôi đang mong đợi có thật sự đến không?"

Quốc vương nói: "Này các ẩn sĩ, không nên khinh suất người ấy. Quí vị biết là Ngài đã phái một trong các môn đệ của Ngài đến chữa cho em ta như thế nào, người mà ta đã trừng phạt bất công đó. Ngài sẽ đến. Có lẽ Ngài đến đây rồi, trước mặt mọi người mà chả ai hay biết."

Quốc vương vừa nói xong, một vầng mây trắng bao phủ cả nhà. Ðám mây càng lúc càng trắng, và dần dần tan biến thành ánh sáng ban ngày, Ðức Phật xuất hiện trong ánh hào quang rực rỡ; phía sau Ngài là A-nan và Ca-la. A-nan trên tay cầm một hoa hồng, Ca-la cầm một hoa vàng, và trong khắp các hoa viên ở Tỳ-xá-li, chưa ai thấy hai đóa hoa kỳ diệu như thế bao giờ.

Vua Ba-tư-nặc thán phục vô vàn. Bọn ẩn sĩ lếu láo không dám cười đùa nữa.

Ðức Thế Tôn nói:

"Ðom đóm tỏa ánh sáng cho mọi người thấy chỉ khi nào mặt trời lặn, nhưng khi ánh sao vằng vặc xuất hiện thì đom đóm khốn nạn kia liền dập tắt ánh sáng hiu hắt của nó ngay. Bọn giả dối chỉ ồn ào trong lúc Phật im lặng, nhưng khi Phật lên tiếng thì chúng lại sợ khóc và im ngay."

Bọn ẩn sĩ bị báo động. Thấy quốc vương nhìn chúng bằng ánh mắt khinh bỉ, chúng cả thẹn cúi đầu.

Bỗng nhiên, mái tòa đại sảnh biến mất,trên vòm trời cao, Ðức Thế Tôn vạch một đường dài từ đông sang tây, Ngài đi trên đó. Thấy pháp màu huyền diệu này, tên đối thủ hỗn láo nhất của Ngài sợ hãi trốn mất. Hắn tưởng tượng một bầy chó săn đang gào thét đuổi theo hắn, hắn cắm đầu chạy riết đến một bờ hồ. Tại đó, hắn cột một hòn đá vào cổ và gieo mình xuống nước. Một ngư phủ thấy xác hắn ngày hôm sau.

Trong lúc đó, Ðức Thế Tôn tự phân thân ra hai hình ảnh giống nhau và cùng đi song song với nhau trên đoạn đường thiên giới. Người ta nghe thấy âm vang của Ngài vọng xuống.

"Hỡi các đệ tử của ta, ta sắp lên đến quốc độ của chư thiên. Ma-da, mẫu hậu của ta đã gọi ta; ta phải thuyết giảng giáo pháp cho người. Ta sẽ ở lại với người trong ba tháng. Nhưng, ngày ngày, ta sẽ xuống lại trần gian, và chỉ có Xá-lợi-phất là biết ta ở đâu. Xá-lợi-phất sẽ hướng dẫn đại chúng tu tập theo giáo pháp của ta. Trong khi ta vắng bóng ở bầu trời, tức là ta sẽ đi với mẫu thân ta, ta sẽ thuyết giảng giáo pháp cho người; đây là hình ảnh phân thân của ta."

 

III- KIỀU NỮ XU-BỜ-RA-BA

Ba tháng trôi qua, Ðức Thế Tôn xuống trần gian và đi thẳng đến thành Tỳ-xá-li. Khi gần đến Kỳ-viên, Ngài gặp một thiếu nữ. Nàng là tỳ nữ của một phú hộ trong thành, hôm đó ông làm việc ở ngoài đồng. Nàng đang bê một thố cơm cho ông dùng bữa. Thấy Phật, nàng cảm thấy sung sướng lạ lùng.

Nàng nghĩ: "Ðức Thế Tôn, đúng Ðức Thế Tôn rồi. Ta được ngắm Ngài tận mắt; có lẽ ta được sờ Ngài tận tay, Ngài đến gần lắm rồi. Ồ, cúng dường lễ vật cho Ngài là nguồn vui thánh thiện biết bao! Nhưng ta chả có gì là của ta cả."

Nàng thở dài. Nàng đưa mắt nhìn xuống thố cơm:

"Cơm này. Phần ăn của chủ ta... Không một người chủ nào có thể bắt làm nô lệ kẻ đã là nô lệ. Ông có thể đánh đập ta, không hề gì! Ông có thể xiềng xích ta, cũng chả sao! ta sẽ nhẹ nhàng mang chịu tất cả. Ta sẽ cúng dường phần cơm này cho Ðức Thế Tôn."

Nàng dâng thố cơm cho Phật. Ngài nhận cơm và tiếp tục lên đường đến Kỳ-viên. Thiếu nữ, mắt long lanh niềm sung sướng, đến gặp chủ của nàng.

Vừa thấy nàng, người chủ hỏi: "Cơm ông đâu?"

"Con cúng dường cho Phật rồi. Hãy phạt con nếu ông muốn, con sẽ không khóc; con rất sung sướng về điều mà con đã làm."

Ông không phạt nàng, ông cúi đầu nói:

"Không, ông sẽ không phạt con. Ông còn ngủ mê thì mắt con đã mở . Hãy đi đi! Con không còn là con bé nô lệ nữa."

Thiếu nữ cúi đầu thi lễ.

Nàng nói: "Ông đã cho phép, con sẽ đến Kỳ-viên, con sẽ xin Ðức Thế Tôn thuyết giảng giáo pháp cho con."

Ông nói: "Hãy đi đi!"

Ðến Kỳ-viên, nàng ngồi dưới chân Phật, và nàng đã trở thành một trong những nữ tu thánh thiện nhất trong hàng đại chúng.

Trong số những người cầu Phật thuyết pháp cùng lúc với thiếu nữ nô lệ này có Xu-bờ-ra-ba (Suprabha), ái nữ của một danh gia vọng tộc trong thành Tỳ-xá-li. Xu-bờ-ra-ba đẹp lắm. Thấy nàng là mê ngay, bao nhiêu thanh niên hào hoa phong nhã trong thành đều đeo đuổi nàng. Cha nàng thấy thế không ít lo ngại. Ông tự hỏi đi hỏi lại: "Ta sẽ gả ái nữ của ta cho ai? Kẻ nào ta từ chối, người ấy sẽ là kẻ thù cay nghiệt của ta."

Và mỗi lần tự hỏi như thế, ông lại trầm tư suy nghĩ hằng giờ.

Một hôm, Xu-bờ-ra-ba nói với ông:

"Thưa cha, hình như cha đang bực tâm bực trí điều gì. Có chuyện gì vậy thưa cha?"

Ông đáp: "Con à, chính con là mối lo ngại của cha. Có quá nhiều người ở thành Tỳ-xá-li muốn hỏi cưới con:"

Xu-bờ-ra-ba nói: "Cha đang lo chọn người cầu hôn cho con. Họ đáng thương lắm! Nếu họ biết rõ tâm tư của con! Thưa cha, đừng lo nữa. Cha bảo họ họp lại và cứ theo tập tục cổ truyền, con sẽ đi giữa họ, con sẽ tự chọn lấy một người chồng cho con."

"Con à, cha sẽ làm theo ý con."

Cha của Xu-bờ-ra-ba đến gặp quốc vương Ba-tư-nặc và được phép bảo sứ giả đi thông báo khắp thành.

"Trong bảy ngày nữa, sẽ tổ chức một cuộc họp mặt các thanh niên muốn cưới Xu-bờ-ra-ba. Thiếu nữ sẽ đích thân chọn chồng trong số thanh niên đó."

Ðến ngày thứ bảy, nhiều kẻ cầu hôn tập trung trong một khu vườn lộng lẫy của phụ thân Xu-bờ-ra-ba. Nàng xuất hiện trong một cổ xe, trên tay cầm một lá cờ màu vàng có vẽ chân dung Ðức Thế Tôn. Nàng đang cất tiếng hát ca ngợi Ngài. Họ ngạc nhiên nhìn nàng và tự hỏi:

"Nàng sẽ nói gì với chúng ta?"

Cuối cùng nàng bộc lộ tâm tình với các thanh niên:

"Ta không thể yêu ai trong các ngươi, nhưng đừng cho rằng ta cự tuyệt các ngươi. Ái ân không phải là mục tiêu trong lẽ sống của ta; ta muốn qui y Phật. Ta sẽ đến vườn Ngài cư ngụ, và Ngài sẽ thuyết giảng giáo pháp cho ta."

Ðau buồn, các thanh niên lặng lẽ ra về, Xu-bờ-ra-ba đến kỳ viên. Nàng nghe Ðức Thế Tôn giảng dạy, nàng được nhận vào giáo hội, và nàng trở thành một tỳ kheo ni tâm thành nhất.

 

IV- CÔNG CHÚA VI-RU-BA

Quốc vương Ba-tư-nặc có một ái nữ tên là Vi-ru-ba (Virupa). Nàng đã đến tuổi kết hôn. Không may, nàng xấu tệ; không một hoàng tử võ tướng nào chịu hỏi nàng làm vợ, ngay cả bọn thương gia cũng khinh rẻ nàng.

Bấy giờ có một khách lạ giàu có đến ngụ tại Tỳ-xá-li. Tên hắn là Găng-ga (Ganga). Quốc vương nghĩ: "Găng-ga chưa bao giờ thấy con gái ta. Có lẽ hắn sẽ không từ chối kết hôn với nàng". Vua triệu hắn đến hoàng cung.

Găng-ga được Ba-tư-nặc khen ngợi, ban tặng đủ thứ. Hắn thuộc dòng thứ dân, và tuy hắn là thương gia, hắn đã tích lũy được một tài sản kết sù, nhưng hắn chưa bao giờ mơ đến việc kết hôn với một công chúa. Vì thế, hắn sung sướng nhận lời.

Quốc vương nói: "Thế thì ngay tối nay, khanh hãy đến hoàng cung đưa ái nữ ta về nhà khanh".

Hắn vâng lời. Ðêm tối như mực, hôn lễ diễn ra mà Găng-ga chả nhìn thấy dung nhan của vị hôn thê mình. Vi-ru-ba theo chồng về nhà.

Ngày hôm sau, Găng-ga nhìn vợ, vóc dáng xấu xí của nàng làm hắn giật mình. Hắn muốn tống cổ nàng ra khỏi nhà, nhưng hắn không dám, hắn sợ quốc vương trả thù. Hắn giữ nàng trong nhà, nhưng thật sự nàng là một tù nhân không hơn không kém; nàng không được phép ra ngoài dù bất cứ lý do gì.

Nàng đau khổ lắm. Nàng luôn luôn bày tỏ lòng thương yêu chân thành của nàng với chồng, nhưng vô ích; hắn ra mặt gớm guốc khinh bỉ nàng. Hắn không bao giờ nhìn nàng. Hắn không bao giờ động đến nàng nửa lời. Vi-ru-ba cảm thấy cô đơn lạc lõng.

Một hôm, Găng-ga được một số bạn bè mời dự tiệc. Hắn được báo là: "Ai đến mà không đưa vợ theo đều sẽ bị phạt 500 nén vàng."

Găng-ga quyết định tham dự; bữa tiệc sẽ làm dịu bớt phần nào cuộc sống tẻ nhạt buồn chán của hắn. Nhưng hắn không muốn trình diện Vi-ru-Ba với bạn bè; hắn sợ bị chế nhạo. Hắn nghĩ: "Thà trả 500 nén vàng còn hơn là chúng chế riễu ta."

Ngày hôm đó, Vi-ru-ba âu sầu hơn thường lệ. Nàng khóc, nàng biết chồng nàng đã đi đâu. Nàng tự nhủ:

"Tốt đẹp gì một cuộc sống ê chề như ta? Ta chưa bao giờ có được một niềm an ủi. Chồng ta ruồng rẫy ta. Ta nào có than phiền gì được chàng; ta xấu xí mà, ai ai cũng bảo ta xấu xí mà! Ta chả mang được niềm an vui gì đến cho ai. Ồ, ta tự hận lắm! chết còn sướng hơn là sống như thế này; chết được ngọt ngào hơn. Ta sẽ tự vận. "

Nàng lấy một sợi dây và tự treo cổ.

Ngay lúc đó, tại Kỳ-viên, Ðức Thế Tôn thắc mắc: "Trong thành Tỳ-xá-li hôm nay có ai đau khổ thế? Ta có thể cứu khổ cho ai? Ta có thể giúp một tay cho kẻ nào bất hạnh?"

Nhờ oai lực nhiệm màu của Ngài, Ngài biết Vi-ru-ba đang đau khổ. Ngài đến nhà Găng-ga và vào nhà. Vi-ru-ba còn sống. Ðức Thế Tôn mở sợi dây mà nàng đã tự buộc chặt vào cổ. Nàng thở mạnh và nhìn quanh. Nhận ra Ðức Thế Tôn, nàng gieo mình đảnh lễ dưới chân Ngài. Ngài dạy:

"Này Vi-ru-ba, hãy nhìn vào gương xem."

Vâng lời, nàng nhìn vào gương. Nàng ngạc nhiên và sung sướng reo lên. Nàng đẹp như ngọc nữ của thiên thần. Nàng muốn đảnh lễ Phật một lần nữa, nhưng Ngài đã ra đi.

Trong lúc đó, Găng-ga đã sai lời giao hẹn khôi hài của bạn.

Họ hỏi hắn: "Tại sao cậu đến mà không đưa vợ theo? Bộ cậu sợ bọn này biết mặt vợ cậu sao? Nàng hẳn là đẹp lắm. Mày là thằng chồng ghen đáo để!"

Găng-ga lúng túng không biết trả lời thế nào. Bữa tiệc đã làm hắn phiền muộn. Một trong những người bạn đưa cho hắn một cốc rượu mạnh và nói:

"Găng-ga, uống đi mày! Bọn tao thì vui cười ha hả, còn mày thì lệ tuôn tầm tã. Ðến đây mày! Hãy cười với bọn tao. Dzô! Rượu này sẽ dạy mày biết cười."

Ðưa tay nâng cốc rượu, Găng-ga cạn chén. Hắn trở nên tươi vui linh hoạt hẳn ra. Hắn uống nữa. Bấy giờ hơi chuếnh choáng, hắn tiếp tục nâng cốc cho đến lúc ngủ vùi.

Bạn hắn bàn: "Trong khi nó đang ngủ, chúng ta hãy vội sang nhà nó. Chúng ta sẽ gặp vợ nó, chúng ta sẽ khám phá lý do tại sao nó không dám cho ai nhìn thấy mặt nàng."

Chúng vào nhà Găng-ga. Vi-ru-ba trên tay còn cầm chiếc gương; nàng đang say sưa ngắm nghía dung nhan của nàng. Mắt nàng sáng lên niềm hạnh phúc. Bọn khách thán phục nàng; chúng lặng lẽ trở ra; giờ thì chúng mình biết rõ máu ghen của Găng-ga rồi ".

Găng-ga vẫn còn ngủ. Chúng đánh thức dậy và nói:

"Bạn ơi, bạn có phúc nhỉ! Bạn đã làm gì mà chư vị thiên thần hoan hỷ ban cho bạn một cô vợ xinh đẹp hy hữu thế?"

Găng-ga thét lên: "Quá lắm rồi nghe! Ông đã làm gì chúng bay mà chúng bay nhục mạ ông ác thế?"

Hắn nổi giận bỏ đi ngay. Hắn tức chúng cành hông. Về đến nhà, hắn đạp tung cửa; hắn vừa đi vừa nguyền rủa ôm sòm qua các phòng; nhưng, đôi môi đang văng tục chửi thề của hắn bỗng nhiên khép lại. Hắn kinh ngạc, tái mét. Trước mặt hắn là một phụ nữ xinh đẹp tuyệt vời. Nàng đang đon đả tươi cười. Hắn từ từ hoàn hồn; rồi hắn cũng tươi cười hỏi:

"Ồ, em đứng trước mặt anh mà anh cứ tưởng là một nữ thần rực rỡ nào đó vừa từ hoa viên hiện đến, hỡi em yêu quí, ai đã làm em xinh đẹp như thế?"

Vi-ru-ba kể lại sự tình cho chồng nghe. Từ đó, nàng và chồng nàng nhận ra niềm hạnh phúc thật sự, họ tìm mọi cơ duyên để xin qui y Phật và bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với Ngài.

 

V- QUỈ KẾ CỦA CHIẾN-GIÀ

Trong lúc đó, quần chúng ra mặt khinh bỉ hẳn bọn ẩn sĩ gian ác mà Ðức Phật đã vạch trần âm mưu lường gạt của chúng, ý định báo thù của chúng do đó mỗi ngày một thêm căng thẳng. Chúng cùng nhau xây dựng cơ sở gần Kỳ-viên, chúng ra sức ngày đêm rình rập, theo dõi các hoạt động của Phật và đồ chúng của Ngài. Nhưng tất cả đều vô ích; chúng không tìm đâu ra một kẻ hở tầm thường nhất để bôi nhọ giáo hội.

Cuối cùng, một ẩn sĩ nói với đồng bọn hắn:

"Chúng ta đã từ lâu quan sát hành vi của các sa môn này. Ðạo hạnh của họ không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, chúng ta phải xúi giục quần chúng chống lại họ, ta đã có cách. Ta quen Chiến-già (Sinca), một thiếu nữ hấp dẫn lắm. Nàng rất có tài thực hiện quỉ kế. Nàng sẽ không từ chối giúp ta, uy danh Thích-Ca nay mai sẽ bị tan biến.

Bọn ẩn sĩ cho mời Chiến-Già đến.

Nàng hỏi: "Các Thầy gọi con có việc chi?"

"Con biết tên sa môn ở Ca-tỳ-la-vệ chứ, người được quần chúng Tôn thờ là Phật đó?"

"Chưa biết, nhưng con nghe nói tiếng tăm Ngài lừng lẫy lắm. Người ta bảo Ngài làm được vô số phép màu huyền diệu."

"Chiến-già, hắn là kẻ thù cay nghiệt nhất của các thầy. Hắn hạ nhục các thầy, hắn muốn tiêu diệt quyền năng của các thầy. Nào, con tin các thầy; hãy đến đây, hãy đứng về phía các thầy. Cô nào hàng phục được người chinh phục, cô ấy sẽ được vô vàn hãnh diện; cô ấy sẽ được vang danh trong giới nữ nhi, cô ấy sẽ được cả thế giới lên tiếng ca ngợi."

Chiến-già bị lời lẽ đường mật của bọn ẩn sĩ lôi cuống. Nàng tin chắc là mai đây Ðức Phật sẽ bị ô nhục, tên tuổi của Ngài sẽ bị nguyền rủa khắp mặt địa cầu.

Bấy giờ, ngày ngày nàng đến Kỳ viên, mỗi khi thấy tín đồ nghe Ðức Thế Tôn thuyết pháp sắp ra về, nàng diện một bộ đồ màu hồng rực rỡ, hai tay ôm một bó hoa. Và nếu có ai tình cờ hỏi nàng: "Cô đi đâu đó!" nàng đáp: "Việc gì đến người mà người hỏi?" Khi đến Kỳ viên, nàng chờ tới lúc vắng vẻ, chỉ còn một mình nàng; rồi thay vì vào trú xứ của Phật, nàng lại thẳng đến nơi cư ngụ của bọn ẩn sĩ gian ác. Nàng ngủ đêm tại đó, nhưng tảng sáng là nàng quay lại cổng Kỳ viên, đến khi gặp mặt tín đồ dậy sớm đi lễ Phật cúng dường thì nàng mới đủng đỉnh ra về. Và có ai hỏi: "Cô đi đâu về sớm thế?" nàng đáp: "Việc gì đến người mà người hỏi?"

Cuối tháng, nàng đổi cách trả lời. Chiều đến, nàng nói: "Tôi đến Kỳ-viên, nơi Ðức Thế Tôn đang chờ tôi". Sáng ra, nàng nói: "Tôi vừa từ Kỳ-viên về, nơi tôi đã ngủ đêm với Ðức Thế Tôn". Thế là một số người khờ khạo, nhẹ dạ tin nàng, nghi ngờ Ðức Thế Tôn bất tịnh.

Sáu tháng sau, nàng lấy một khổ vải quấn quanh bụng. Người ta nghĩ: "Nàng có thai". Và bọn người nông cạn đần độn kia khăng khăng cho rằng đạo hạnh của Ðức Thế Tôn chỉ là sự giả vờ.

Chín tháng trôi qua, nàng nịt một trái banh gỗ ngay trước bụng, nàng đi đứng ra vẻ uể oải nặng nề. Cuối cùng, một hôm nọ, nàng vào thẳng giảng đường Ðức Thế Tôn đang thuyết pháp. Nàng bạo dạn ngồi đối diện và cất tiếng sang sảng cắt ngang lời Ngài:

"Ngài thuyết giảng giáo pháp cho quần chúng lời lẽ ngọt như đường mật. Còn em, mang thai với Ngài, sắp làm mẹ trong nay mai, thì không có đến một nơi nằm chỗ! Ngay cả dầu mỡ em cần Ngài cũng lờ luôn. Nếu Ngài sợ xấu hổ không lo cho em thì ít ra Ngài cũng có thể gởi em cho một đệ tử nào của Ngài chứ; quốc vương Ba-tư-nặc, hay trưởng giả Cấp-cô-độc chẳng hạn. Nhưng không! Ngài chả đếm xỉa gì đến em, và cũng chả lo lắng gì cho đứa con sắp ra đời! Ngài chỉ biết vui hưởng ái tình mà cóc cần cưu mang trách nhiệm!"

Ðức Thế Tôn thản nhiên hỏi: "Này Chiến-già, ngươi nói thật hay vu khống đó? Chỉ có ta và ngươi biết thôi."

Chiến-già gào lên: "Ngài biết rõ quá mà, em đâu có nói láo".

Ðức Thế Tôn vẫn bình tĩnh. Chiến-già hầm hầm đứng phắt dậy và định xông đến Ngài, nhưng vì thở mạnh quá nên làm đứt sợi dây buộc trái banh gỗ. Trái banh rơi đạch xuống đất.

Ðức Thế Tôn cười, nói: "Ðó, con của ngươi sanh rồi đó!".

Ðồ chúng giận dữ ùa đến Chiến-già. Họ nguyền rủa và định khạt nhổ nước bọt vào mặt nàng thì nàng cắm đầu chạy mất. Nàng vừa khóc, vừa đau, vừa nhục, vừa hận. Nàng cắm đầu chạy mà không biết chạy về đâu. Bỗng nhiên, lửa dữ bừng cháy hừng hực phủ trọn lấy thân nàng, và nàng, kẻ vu khống Phật, đã bị tàn rụi trong ngọn lửa ác nghiệt khủng khiếp.

 

VI- PHẬT THUẦN PHỤC TRÂU ÐIÊN

Ðức Thế Tôn rời Kỳ-viên. Ngài dừng chân tại các thành thị, thôn quê để thuyết giảng giáo pháp, nhiều người đã bày tỏ lòng tín ngưỡng chân thành và xin qui y Ngài.

Một hôm, có một cặp vợ chồng già thỉnh Ðức Thế Tôn thọ trai với họ.

Cụ ông nói: "Bạch Ðức Thế Tôn, chúng con đã từ lâu ước mong nghe được lời Ngài. Giờ đây chúng con sung sướng lắm, chúng con sẽ hiểu rõ những sự thật cao quí, và trong số thân hữu của Ngài, Ngài sẽ thấy mấy ai thuần thành hơn chúng con."

Ðức Phật đáp: "Ta không lấy gì làm ngạc nhiên, ngươi và ta đã là bà con thân thích ở nhiều đời nhiều kiếp."

Cụ bà nói: "Bạch Ðức Thế Tôn, chồng con và con đã sống với nhau từ thuở còn xuân; nay thì chúng con đã đến tuổi chín mùi. Cuộc sống đã thắt chặt tình yêu nồng thắm của chúng con. Chưa bao giờ chúng con có đến một lời to tiếng. Chúng con vẫn yêu nhau như ngày còn son trẻ, và bóng chiều tàn của đời chúng con vẫn ngọt ngào như ánh bình minh vừa ló dạng. Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài cứu độ chúng con ở kiếp sau cũng yêu nhau tha thiết như ở kiếp này."

Ðức Thế Tôn nói: "Ðược rồi; chư thiên đã che chở các ngươi!"

Ngài tiếp tục lên đường. Ngài thấy một cụ bà đang xách nước ở một cái giếng bên lề đường. Ngài đến gần bà và nói:

"Ta khát lắm, cụ vui lòng cho ta uống một ít nước được không?"

Cụ bà trố mắt nhìn Ngài. Bà xúc động vô vàn. Bà rưng rưng muốn khóc. Bà muốn ôm hôn Ðức Thế Tôn, nhưng bà sợ. Nước mắt chảy dài trên hai gò má nhăn nheo của bà.

Ðức Thế Tôn nói: "Hãy ôm hôn ta đi!"

Cụ bà chạy ôm choàng vào hai cánh tay của Ngài. Bà thều thào nói:

"Nay thì con có thể chết một cách sung sướng. Con đã gặp Ðức Thế Tôn. Con đã được ôm hôn Ngài."

Ngài lại đi. Ngài đến một cánh rừng rộng bao la, tại đó có một bầy trâu sinh sống với bọn mục đồng. Trong số đó có một con lực lưỡng và hung hăng lắm. Nó chỉ chịu kẻ chăn nó, người lạ đến là nó tấn công ngay. Mỗi khi người lạ đến gần, nó gằm sừng xốc tới và thường gây thương tích trầm trọng cho người. Ðôi lúc nó còn giết chết người ấy nữa.

Bọn mục đồng thấy Ðức Thế Tôn đang bình thản đi tới, chúng la lên:

"Ai đi đó, hãy coi chừng! Ðừng đến gần chúng tôi, ở đây có trâu dữ".

Thình lình, con trâu ngước đầu, khịt mũi khì khì; rồi nó gằm sừng nhào đến Ðức Thế Tôn. Bọn mục đồng run cầm cập. Chúng kêu lên: "Bọn mình quát thế mà người ấy không nghe". Nhưng, bỗng nhiên, con vật đứng khựng lại; nó quì mọp trước mặt Ðức Thế Tôn và le lưỡi liếm chân Ngài, đôi mắt nó hiện rõ nét van xin cầu khẩn.

Ðức Thế Tôn âu yếm vuốt ve con trâu, Ngài nhỏ nhẹ nói với nó:

"Con hãy tự nhủ rằng mọi vật trên đời đều phù du ngắn ngủi, rằng an lạc êm đềm chỉ được thấy ở niết bàn. Ðừng khóc. Hãy tin ta, hãy tin vào lòng từ bi lân mẫn của ta, rồi con sẽ hóa kiếp. Con sẽ không còn đầu thai giữa loài súc sanh, con sẽ được sanh lên cõi trời với các chư thiên."

Từ hôm đó, con trâu rất mực hiền ngoan. Còn bọn mục đồng thì hết lòng thán phục, cung kính cúng dường lễ vật Ðức Thế Tôn. Chúng được Ngài trao truyền giáo pháp và trở thành những môn đệ trung kiên trong giới môn đệ trung kiên nhất của Ngài.

 

VII- SỰ RẠN NỨT GIỮA TĂNG ÐOÀN

Ðức Thế Tôn đến thành Kiều-thưởng-di (Kausambi). Ở đó, lúc đầu, ngài rất lấy làm hoan hỷ. Dân chúng nhiệt tình nghe theo lời Ngài, nhiều người đã trở thành sa môn. Quốc vương Ưu-đà-diên (Udayana) là một trong số những tín đồ thuần thành, Ngài cho phép con trai Rát-tra-ba-la (Rashtrapala) xuất gia theo đại chúng.

Tuy nhiên, cũng ngay tại thành Kiều-thưởng-di này mà Ðức Thế Tôn đã gặp phải một trong những nỗi buồn da diết. Ngày nọ, một sa môn bị khiển trách về tội vi phạm một lỗi lầm nho nhỏ. Thầy không tự nhận lỗi nên bị phạt. Thầy lại không chấp nhận sự xử phạt, và vì thầy là người vui tính, thông minh lanh lợi, học rộng nhớ nhiều, nên có nhiều người theo phe thầy. Các thầy khác đã hoài công van xin thầy trở về chánh đạo.

Họ nói với thầy: "Ðừng tỏ vẻ kiêu ngạo, đừng tự cho mình không vấp phải lỗi lầm. Hãy nghe lời chúng tôi. Hãy bày tỏ tâm tình với các thầy khác, vì họ cùng chung chí hướng thầy; họ cũng sẽ bộc lộ tâm tình với thầy, vì thầy cũng cùng một tín ngưỡng như họ. Nếu như các thầy nghe lời nhau, giáo hội sẽ lớn mạnh, giáo hội sẽ hưng thịnh."

Thầy ấy đáp: "Tôi không cần thầy dạy tôi những điều phải trái. Xin đừng trách tôi".

"Ðừng nói thế. Ngôn ngữ của thầy không hợp với giáo pháp. Thầy đanh đi ngược với giới luật; thầy đang gieo cấy mầm mống bất hòa trong giáo hội. Ði thầy, hãy sửa lại phong cách ăn ở. Hãy sống an hòa với đại chúng. Hãy tránh cãi vã, hãy thành tín với giáo pháp".

Vô ích! Ðại chúng quyết định trục xuất kẻ ương ngạnh, nhưng, một lần nữa, thầy ấy vẫn không nghe. Thầy ấy vẫn còn trong giáo hội: thầy ấy ngu muội quá, khỏi cần phải xử phạt gì nữa.

Cuối cùng, Ðức Thế Tôn đã đứng ra thu xếp. Ngài cố gắng khuyên giải các thầy sa môn; Ngài cầu mong các thầy hãy quên đi bao nỗi bất hòa, hãy cùng nhau tu tập êm đềm như xưa, nhưng chả ai để ý đến Ngài. Rồi một hôm, một sa môn còn bạo dạn đến bạch Phật:

"Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hãy để yên, xin đừng nói gì cả. Ngài đã giác ngộ chánh pháp, xin Ngài hãy định tâm vào chánh pháp. Ngài sẽ an vui trong cảnh định. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ biết hướng đi của chúng tôi; chúng tôi tranh cãi nhưng không phải không tìm ra phương hướng. Ngài hãy thiền định và xin đừng nói gì cả".

Ðức Thế-Tôn không hề nổi giận. Ngài cố khuyên giải nhưng không được. Ngài thấy là Ngài không thể thuyết phục được các sa môn ở Kiều thưởng di; họ hình như bị một vài cơn điên đột khởi nào đó dẫn dắt. Ðức Thế Tôn quyết định từ giã họ, nhưng trước tiên Ngài nói với họ:

"Hạnh phúc thay cho ai có được người bạn chân tình; hạnh phúc thay cho ai có được người bạn sáng suốt. Chướng ngại nào mà hai bạn tài đức không thể vượt qua? Người không có bạn tâm giao khác nào vua không có đất nước: phải lang thang phiêu bạt trong cô đơn hiu hắt như thớt voi già trong cánh rừng hoang. Nhưng thà đi một mình còn hơn là chung sống với kẻ ngu muội. Người trí phải một đường một bóng; người trí phải tránh xa ác đạo; người trí phải giữ gìn thanh tịnh như thớt voi già trong cánh rừng hoang."

Ngài ra đi. Không ai cố gắng giữ Ngài lại. Ngài đến một ngôi làng mà Ngài biết là Ngài sẽ tìm ra Bờ-ri-gu, một môn đệ của Ngài, Bờ -ri-gu rất sung sướng gặp lại Ngài và Ðức Thế Tôn cũng được an ủi bội phần. Sau đó, A-nậu-lâu-đà, Nan-đà và Kim-tỳ-la cùng theo Ngài. Họ hết lòng cung kính và an ủi Ngài, họ cùng nhau chung sống êm đềm. Ðức Thế Tôn nghĩ: "Trong giới đệ tử của ta, ít ra cũng có một số yêu quí ta và thuận hòa như thế."

Một hôm, nhân lúc ngồi nghỉ mát dưới một tàng cây, Ngài chợt nhớ lại những phút giây xáo trộn ở Kiều-thưởng-di thì có một đàn voi dừng chân để nghỉ gần đó. Voi chúa xuống sông lấy nước mang về cho những voi khác. Chúng uống no nê; rồi thay vì cảm ơn voi chúa đã lấy nước cho uống, chúng lại ngược đãi nó, chúng vung vòi đánh đập nó, và cuối cùng, chúng đuổi nó đi. Ðức Thế Tôn thấy tình cảnh của Ngài chả khác gì tình cảnh của voi chúa kia: cả hai đều là nạn nhân của sự vô ơn bạc nghĩa thô bạo. Voi chúa nhận thấy nét buồn hiện rõ trên khuôn mặt Ngài, nó đến gần, nhìn Ngài một cách trìu mến; rồi nó lặng lẽ bỏ đi, đi tìm thức ăn nước uống cho Ngài.

Ðức Thế Tôn sau cùng trở về Xá-vệ và an trú tại Kỳ-viên.

Nhưng Ngài vẫn đau buồn nghĩ đến các sa môn thô ác ở Kiều-thưởng-di. Rồi, bỗng dưng, một hôm nọ, Ngài thấy họ vào Kỳ-viên. Trông họ âu sầu thê thảm: họ không được mọi người cúng dường, ai ai cũng phẫn uất về sự ngược đãi Ðức Thế Tôn của họ. Họ đến để xin Ngài tha lỗi. Vị sa môn phạm tội cũng tự sám hối lỗi lầm của mình, và hình phạt của thầy cũng nhẹ nhàng thôi. Các bạn thân sơ của thầy đều nhận khuyết điểm. Mọi người tuyên hứa nghiêm trì giới luật. Ðức Thế Tôn hoan hỷ lắm: giáo hội không còn ồn ào rạn nứt nữa.

 

VIII- VŨ NỮ CU-VA-LA-DA

Một hôm, Ðức Thế Tôn về nước Xá-vệ.

Ngài nhắm đến một người Bà-la-môn tên Ba-rát-va-gia (Bharadvaja) ở trên một cánh đồng cách thành không xa. Nhằm mùa gặt hái, người Bà-la-môn và những kẻ giúp việc của ông đang tổ chức ăn mừng linh đình. Họ vui cười ca hát khi thấy Ðức Thế Tôn đi qua. Ngài đưa bát khất thực, những ai nhận ra Ngài đều cung kính đón chào và cúng dường Ngài nhiều lễ vật. Ba-rát-va-gia thấy vậy không hài lòng. Ông đi thẳng đến Ðức Thế Tôn và lớn tiếng nói:

"Ông đạo, mời ông đi ngay cho; ông làm gương xấu cho mọi người. Ở đây chúng tôi đang làm việc, chúng tôi đang theo dõi, quan sát những chuyển biến của mùa màng. Ðến lúc cày, người nhà của tôi cày; đến lúc gieo, người nhà chúng tôi gieo; tôi cùng cày gieo với họ. Rồi đến mùa, chúng tôi thu hoạch thành quả lao động của chúng tôi. Chúng tôi tự cung cấp lương thực cho chúng tôi; đến khi mọi việc xong xuôi, chúng tôi tha hồ nghỉ ngơi, vui vẻ. Trong khi ông, ông lang thang khắp nẻo phố phường, ông lê la cùng đường cùng xóm, ông chỉ mệt một chút là gặp ai ông cũng chìa bình bát ra. Tốt hơn là ông nên lao động; ông nên cày bừa gieo hạt mà ăn".

Ðức Thế Tôn mỉm cười đáp:

"Này bạn, ta cũng cày bừa gieo hạt như bạn, khi công việc làm xong, ta dùng bữa".

Ba-rát-va-gia nói: "Ông mà cày bừa gieo hạt à? Làm sao ta có thể tin được chuyện đó? Trâu bò của ông đâu? Hạt giống của ông đâu? Cày bừa của ông đâu?"

Ðức Thế Tôn đáp:

"Hiểu biết trong sạch là hạt giống tuyệt vời mà ta gieo trỉa. Tu tập thánh thiện là mưa lành tưới trên mặt đất phì nhiêu, hạt giống sẽ đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái và già chín trên đó. Ta cầm cày kiên cố: lưỡi cày là trí tuệ, chuôi cày là giáo pháp, thành tín là con bò thiến khỏe mạnh kéo cày. Ta cày đến đâu là ái dục trốc gốc như cỏ phơi trên đồng đến đó, và sản phẩm vụ mùa ta thu hoạch chính là niết bàn".

Ngài tiếp tục lên đường. Nhưng người Bà-la-môn Ba-rát-va-gia cứ lững thững theo sau Ngài; ông muốn nghe được lời cao quí.

Vào thành, Ðức Thế Tôn và ông thấy quần chúng đang chăm chú thưởng thức các tiết mục trình diễn của đoàn vũ công tại một công viên. Ái nữ của trưởng đoàn là người hấp dẫn đặc biệt. Họ ít khi thấy một vũ nữ nào duyên dáng xinh đẹp như thế; mỗi khi nàng xuất hiện, những ai không dằn được lòng ham muốn dễ nổi máu chiếm đoạt nàng. Tên nàng là Cu-va-la-da (Kuvalada).

Nàng vừa vũ xong, bao ánh mắt nóng bỏng còn dính chặt vào người nàng. Nàng biết tài năng của nàng, nàng bạo dạn và cao ngạo lắm, nàng lớn tiếng gọi đám ông:

"Khâm phục ta chứ, quí vị! Trong cả thành Vương-xá, còn ai đẹp hơn ta, thậm chí có ai bằng ta?"

Người bà-la-môn Ba-rát-va-gia đáp: "Vâng, thưa cô nương. So với vẻ đẹp của Ðức Thế Tôn thì sắc diện của cô nương đã thấm vào đâu?"

Cu-va-la-da nói: "Ta muốn xem vẻ đẹp của Ðức Thế Tôn mà ngươi ca ngợi, làm ơn đưa ta đến gặp Ngài."

Ðức Thế Tôn nói: "Ðây, Ngài ấy đây."

Ðức Thế Tôn bước tới trước.

Vũ nữ trố mắt nhìn Ngài.

Sau cùng nàng nói: "Ngài đẹp quá, con sẽ vũ cho Ngài xem."

Cu-va-la-da bắt đầu vũ, điệu vũ khởi đầu từ từ. Nàng choàng quanh người và phủ lên mặt nàng những tấm vải the rực rỡ, vẻ đẹp của nàng trước kia sắc sảo kiêu kỳ bấy nhiêu thì giờ đây chỉ còn là một hứa hẹn lờ mờ. Nàng trông như mặt trăng ẩn hiện trong những ánh mây bàng bạc trong đêm. Một áng mây trôi qua, hiện ra một tia sáng yết ớt. Ðiệu vũ mỗi lúc một dồn dập nhanh hơn; từng tấm vải the rơi dần, hằng nga xuất hiện trong ánh trong ngần rực rỡ của nàng. Nàng đang xoay vũ tít người thì, bỗng dưng một tia sáng chói lòa đập vào mắt nàng, nàng dừng lại. Nàng thoát y trọn vẹn. Ðám đông ngẹt thở, ùa tới trước.

Ðức Phật nói: "Cô ấy khốn khổ thay!"

Ngài chăm chăm nhìn nàng. Bấy giờ đôi má của Cu-va-la-da sệ xuống, vầng trán của nàng nhăn nheo và đôi mắt của nàng mờ đục hẳn. Trong miệng chỉ còn lại một vài cái răng xấu xí, trên đầu còn một vài loạn tóc lơ phơ bạc trắng, nàng già nua lụ khụ. Ðức Thế Tôn quở nàng như xưa kia Ngài đã quở đám con gái của Ma-vương khi chúng cố quyến rũ Ngài. Ngài đã biến ả vũ nữ diễm kiều thành một mụ già hóm hém.

Nàng thở dài:

"Bạch Ðức Thế Tôn, con đã nhận ra những lỗi lầm nghiêm trọng của con. Sắc đẹp phù du chả giúp con được gì. Ngài đã dạy con một bài học cay đắng, nhưng con nghĩ là ngày kia con sẽ sung sướng đón nhận nó. Xin Ngài thuyết giảng cho con những sự thật cao quí; con nguyện vĩnh viễn giải thoát thân này, dù nó mua vui thiên hạ đến đâu, nó cũng chỉ là một xác thân gớm guốc".

Ðức Thế Tôn nhận lời thỉnh nguyện của Cu-va-la-da, nàng trở thành một trong những đệ tử thuần thành nhất trong giới môn đệ thuần thành của Phật.

 

IX- PHẬT ÐỘ HUNG THẦN A-LA-VA-CA

Tại thành A-ta-vi (Atavi) có một vị vua rất ham mê săn bắn. Một hôm, vừa thấy một con nai to, ngài đuổi theo ngay. Con nai chạy lẹ quá, và vì quyết đuổi theo con nai, nhà vua lạc xa các tay săn khác. Cuối cùng, con mồi chạy mất. Mệt mỏi, chán nản, nhà vua ngồi tựa vào một gốc cây, thiếp ngủ lúc nào không biết.

Bấy giờ hung thần A-la-va-ca (Alavaka) ở trên cây hiện xuống. Hắn thích ăn thịt người, hắn sát hại và ngấu nghiến tất cả những ai đến gần hắn. Thấy nhà vua, hắn ra mặt hớn hở; vì vua ham mê săn bắn khốn nạn kia sắp bị một quả đấm ác liệt thì, may thay, một tiếng động làm ngài thức dậy. Thấy mạng sống của mình bị đe dọa, nhà vua gượng đứng lên, nhưng hung thần đã tóm cố ngài quật xuống. Nhà vua hết lòng van xin:

"Thưa ngài, xin ngài tha mạng cho con. Nhìn vóc dáng dễ sợ của ngài, con biết ngài là một hung thần ăn thịt người. Thưa ngài, xin ngài thương con. Con sẽ không bao giờ quên ơn ngài. Con sẽ dâng ngài những lễ vật tuyệt diệu".

A-la-va ca đáp: "Ta không cần lễ vật! Ta muốn ăn thịt người; ta đói lắm rồi".

Nhà vua đáp: "Thưa ngài, cho con về A-ta-vi, con sẽ dâng ngài mỗi ngày một người để ngài xơi thịt".

"Khi ngươi về nhà, ngươi sẽ quên lời hứa".

Nhà vua đáp: "Không, con không bao giờ quên lời. Hơn nữa, nếu như con không dâng ngài lễ vật hằng ngày, ngài cứ đến thẳng hoàng cung của con mà nguyền rủa, con sẽ theo ngài, ngài sẽ ăn tươi nuốt sống con".

Hung thần tha cho, nhà vua trở về thành A-ta-vi. Nhưng ngài mãi lo nghĩ về lời hứa ác nghiệt của mình; không có cách nào để tránh, ngài buộc phải mang danh là một vị vua hung tàn bạo ngược.

Ngài triệu quan tể tướng và trình bày sự việc đã xảy ra. Suy nghĩ trong giây lát, quan tể tướng tâu vua:

"Tâu bệ hạ, trong ngục A-ta-vi có nhiều tội nhân bị kết án tử hình. Chúng ta có thể nộp chúng cho hung thần. Khi thấy bệ hạ giữ lời hứa với hắn, biết đâu hắn sẽ miễn giảm cho ngài."

Vua chấp thuận lời đề nghị. Ngài ra lệnh cho vệ binh đến khám đường nói với các tên tử tù đã được ấn định từng ngày rằng:

"Cách thành không xa, trên cây đại thọ có một thiên thần rất thích cơm gạo. Ai đến dâng ngài một đĩa cơm dưới gốc cây thì sẽ được ân xá".

Sau đó, mỗi ngày, lần lượt từng người hân hoan bê một đĩa cơm đến đặt dưới cây và không bao giờ trở lại.

Bấy giờ, không còn một tên tử tù nào trong ngục. Quan tể tướng ra lệnh cho các biện lý án sát triệt để khiêm khắc, không tha bất cứ một tên tù nào bị truy tố là sát nhân, trừ phi có bằng chứng hiển nhiên là vô tội, nhưng cũng vô ích thôi; họ phải tìm ra biện pháp khác để thõa mãn hung thần. Họ bắt đầu hy sinh những tên trộm cướp.

Dù họ ra sức kết tội thế nào thì ngục tù cũng lại trống rỗng, nhà vua và quan tể tướng buộc phải tìm các nạn nhân trong đám dân cư lương thiện trong thành. Các cụ già bị tóm cổ đưa tới gốc cây trước, và nếu các vệ binh không nhanh chân thì hung thần có lúc cũng ngấu nghiến họ như các nạn nhân.

Tình cảnh đen tối âu lo bao trùm cả thành A-ta-vi. Các cụ già biến dần đâu hết; không ai hay biết việc gì đã xảy đến cho họ. Và, mỗi ngày, nỗi ân hận của vua lại càng tăng thêm chua xót. Nhưng ngài không đủ can đảm hy sinh đời mình cho quốc dân hạnh phúc. Ngài nghĩ:

"Sẽ không ai đến giúp ta sao? Ta nghe nói, khi thì ở Xá-vệ, khi thì ở Vương-xá, có một người quyền năng cao siêu, đó là Ðức Phật mà thần thông diệu dụng của Ngài đã được mọi người Tôn vinh ca ngợi. Họ bảo Ngài thích vân du đây đó. Vậy sao Ngài không đến vuơng quốc của ta?"

Nhờ uy lực nhiệm màu của Ngài, Ðức Phật biết rõ nguyện vọng của nhà vua. Ngài đến thẳng cây đại thọ của A-la-va-ca. Ngài ngồi yên tại đó.

Vừa thấy Ngài, hung thần tức tốc hầm hầm đi tới, nhưng, bỗng nhiên, hắn mất hết nghị lực, hai đầu gối của hắn run cầm cập. Hắn lên cơn thịnh nộ.

Hắn giận dữ hỏi: "Ngươi là ai?"

Ðức Phật đáp: "Người có quyền năng vượt hẳn ngươi."

A-la-va-ca giận tím mặt. Hắn muốn xé người đang ngồi trên đất trước mặt hắn, người mà hắn không thể nào xúc phạm; hắn muốn hành hạ Ngài cho đến chết. Ðức Phật vẫn ngồi an nhiên tự tại.

A-la-va-ca cuối cùng tìm cách tự trấn tỉnh. Hắn nghĩ bạo lực không thắng nổi, quỉ kế có lẽ thành công hơn, hắn lên giọng vui vẻ nói:

"Thưa Ngài, ta thấy Ngài là một nhà thông thái; hân hạnh cho ta là luôn luôn được hầu chuyện với các nhà thông thái. Ta hỏi họ bốn điều. Nếu đáp được, họ tự do ra về; nếu không đáp được, họ phải ở lại trong ngục tù ta, và ta sẽ ngấu nghiến họ khi nào cần".

Ðức Phật nói: "Thử hỏi ta bốn điều xem."

A-la-va-ca nói: "Ta phải báo cho ngươi biết là chưa có ai đáp được bốn điều đó. Ngươi sẽ thấy rải rác quanh đây những mảnh xương người mà ta đã hỏi họ trong quá khứ".

Ðức Phật lập lại: "Hãy thử hỏi bốn điều gì xem."

A-la-va-ca nói: "Thế thì, làm sao nhân loại có thể tránh khỏi dòng sông ái dục? Làm sao nhân loại có thể vượt qua biển cả sanh tử, tìm thấy bến bờ an lành? Làm sao nhân loại có thể thoát khỏi bão tố ác trược? Làm sao nhân loại có thể không bị giông gió tham nhiễm?"

Ðức Phật ôn tồn đáp:

"Nếu qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng thì nhân loại tránh khỏi dòng sông ái dục; nếu hiểu được việc thiện thì nhân loại vượt qua biển cả sanh tử, tìm thấy bến bờ an lành; nếu làm được việc thiện thì nhân loại thoát khỏi bão tố ác trược; nếu biết thánh đạo dẫn đến giải thoát thì nhân loại không bị giông gió tham nhiễm."

Nghe lời đáp của Ðức Thế Tôn, A-la-va-ca hết lòng Tôn kính, cuối đầu đảnh lễ dưới chân Ngài và tuyên hứa thay đổi cách sống man rợ của y. Sau đó, Ðức Thế Tôn và A-la-va-ca cùng đến thành A-ta-vi, đến thẳng cung điện của nhà vua.

Hung thần nói: "tâu bệ hạ, nay ta hủy bỏ lời giao ước với ngài."

Nhà vua sung sướng hơn bao giờ hết. Ðến lúc biết được người cứu mình, nhà vua reo lên:

"Bạch Ðức Thế Tôn, con xin qui y Ngài, Ngài đã cứu con và cứu cả quốc dân con; con xin qui y Ngài, con sẽ dâng hiến đời con cho việc xiển dương Tam bảo, xiển dương ánh sáng huy hoàng rực rỡ của Phật và Thánh tăng."