Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 9

Hy  Sinh  Là  Ðường  Cứu  Thế

KHỔ  NHỤC  LÀ  CỬA  NGÕ  VINH  QUANG...

  Từ khi nghe ông Phêrô tuyên bố Chúa là Ðấng KiTô, là Con Thiên Chúa, và thấy lời tuyên bố đó lại được chính Chúa xác nhận, các tông đồ đều đã tin Ngài là Chúa Cứu Thế, là vị giải phóng các tiên tri đã nói xưa.

  Các ông vui sướng, vì có ngờ đâu các ông đã thành những người có phúc được theo hầu  chính vị đại tiên tri của Nước Trời, một vị rồi đây sẽ đưa dân tộc Do Thái lên đài vinh quang làm bá chủ thế giới mặc dầu những điều đó, theo lời Ngài dạy chưa được nói ra. Các ông vui sướng và nghỉ vậy. Nhưng ý nghĩ đó quả là phản trái với sứ mạng của Chúa. Sứ mạng Cứu Thế của Chúa phải hiểu theo nghĩa thiêng liêng về tôn giáo ; chứ không phải hiểu theo nghĩa vật chất và chính trị. Bởi đó Chúa lại phải tìm dịp dạy các ông hiểu rõ ý nghĩa sứ mạng của Ngài. Ngài là Con Thiên Chúa, là Ðấng KiTô thực, Ngài đến để Cứu Thế nhưng Cứu Thế bằng hy sinh bằng Ðau Khổ, chứ không phải bằng tài sản, bằng danh vọng và uy quyền của thế gian. Ngài muốn các ông phải hiểu thế, hơn nữa, Ngài muốn các ông làm quen với ý tưởng “Cứu Thế trong Hy Sinh và Ðau Khổ.” cũng bởi vậy, nên một ngày kia, sau một hồi tâm sự đầy thân mật. Ngài đã tuyên bố với các ông những điều sau đây :

    --Con Người sẽ phải lên Jêrusalem và chịu nhiều đau khổ, sẽ bị các kỳ lão, các trưởng tế và các luật sĩ ruồng bỏ, rồi bị giết nữa. Nhưng khỏi ba ngày. Ngài sẽ sống lại.

  Thế là Chúa đã nói tới cuộc tử nạn của Ngài cách công khai. Lời Chúa làm các ông bỡ ngỡ vì các ông chưa thấu triệt ý nghĩa lời ấy. Nhưng người khó nhận điều đó hơn cả là Phêrô, ông kéo Chúa ra một bên và can Ngài :

    --Ðừng, Thầy ạ, Thầy đừng có chịu như thế !

  Nhưng Chúa quay lại nhìn các tông đồ và mắng ông Phêrô. Ngài nói to cho các ông cũng nghe thấy nữa :

    --Ớ Satan hãy tránh xa Ta ! Ngươi không am hiểu việc của Ðức Chúa Trời, mà chỉ am hiểu việc của loài người thôi. Ngươi là dịp cho Ta vấp phạm !

  Ông Phêrô xấu hổ quá. Mới đây Ngài đã khen và đặt ông làm thủ lãnh Giáo Hội ; nhưng bây giờ Ngài lại nặng lời mắng trách ! Vì yêu Ngài, ông muốn can ngăn, nhưng việc đó lại bị Ngài coi là chước cám dỗ của Satan, là dịp vấp phạm ! Nhưng mặc cho Phêrô xấu hổ và buồn, mặc cho các tông đồ bỡ ngỡ, Chúa càng nhấn mạnh và nói rõ chương trình cùng quan niệm cứu thế của Ngài đã vạch ra : “Cứu thế trong hy sinh và khổ nhục.” Chương trình và quan niệm đó không những Ngài, mà các môn đệ của Ngài cũng phải thực hiện nữa. Ngài phán tiếp :

    --Ai muốn theo Ta, người đó phải bỏ mình, phải vác khổ giá của mình và theo Ta. Ta bảo thật : Ai muốn theo Ta mà còn quá yêu đời sống, còn muốn sống an toàn, người ấy sẽ mất sống. Trái lại, ai hy sinh sự sống mình vì Ta hay vì lẽ Phúc Âm, người ấy sẽ được cứu chuộc và sống mãi mãi. Một sự thực : Ðược lời lãi cả vũ trụ này mà thiệt mất linh hồn thì ích lợi gì ? Một sự thực nữa : Ai hổ ngươi, không đón nhận Ta hay giáo lý của Ta ở giữa cái thế giới bất trung và thối nát này, Con Người cũng sẽ hổ ngươi, không nhận nó khi Ngài sẽ ngự đến trong vinh hiển của Ngài, của Cha Ngài và của các thần thánh, để phán đoán và trả công cho từng người tùy theo việc của họ.

  Lời Chúa quả là rõ rệt, nhưng đồng thời cũng khó đón nhận. Các tông đồ hiểu rõ, từ đây theo Ngài là đi vào đường đau thương, theo Ngài là chuẩn bị chịu Hy sinh và Khổ nhục, nhất là khổ nhục của thập giá. Bởi vậy, tuy Chúa phán với giọng hiền từ, giọng của người mẹ khuyên con, nhưng các ông cũng không thắng nổi một nỗi buồn len dần vào tâm trí. Các ông ngơ ngác quay nhìn nhau và cũng chẳng dám xin Ngài giải thích.

  Thấy vậy, Chúa lại thương hại các ông. Ngài an ủi và xoay câu chuyện theo một chiều mới sáng sủa, lạc quan hơn.

    --Nhưng các con cứ vững tin Thầy, Thầy quả quyết với các con, có mấy người có mặt đây sẽ không phải chết trước khi được thấy Con Người chiếm hữu Nước Trời và cuộc bành trướng lạ lùng của nước đó.

Ngài  Biến  Hình : Nét  Mặt  Chói  Lói.

THÂN  THỂ  NGẬP  TRONG  VINH  QUANG...

  Thấy các tông đồ buồn vì Ngài sẽ thọ nạn, Chúa đã lời an ủi các ông. Nhưng lại thấy rằng, an ủi bằng lời thôi chưa hiệu nghiệm đủ, nên Ngài định làm một phép lạ rất đặc biệt để các ông vững tin Ngài là Chúa Cứu Thế và vui lòng đón nhận những hy sinh trong cuộc truyền đạo mai sau.

  Vậy khỏi mấy hôm, Ngài bỏ mạn bắc và trở về Galilêa cùng với các môn đệ. Nhưng khi tới chân một quả núi, Ngài chỉ chọn ba môn đệ đi theo Ngài và lên núi. Ba môn đệ được chọn là các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê. Quả núi sẽ được chứng kiến phép lạ của Ngài là đỉnh Tabo, một đỉnh núi trơ trọi, cỏ mọc phất phơ, cao độ 560 thước, đứng giữa thành Nazareth và Naim... Hôm ấy ngày đã về chiều và nóng bức. Lên tới đỉnh núi, ba tông đồ đều mệt, trải áo nằm dưới bóng một cây thông cằn cỗi rồi thiếp ngủ đi. Còn một mình Chúa thức cầu nguyện. Ngài ngửa mặt, đôi mắt và hai tay hướng thẳng lên trời xanh. Một lát, các ông giật mình thức dậy, đã thấy thân hình Ngài chói lọi vinh quang :

“Mặt Ngài uy nguy sáng láng tựa mặt trời, áo Ngài trắng như tuyết buổi bình minh. Bên cạnh Ngài có hai ông Êlia và Môi Sen đứng hầu chuyện về cuộc tử nạn của Ngài sẽ chịu ở Jêrusalem. Cả ba vị đều uy nghi khác thường ; riêng Ngài, ngọc thể đã biến thành một khối vinh quang.”

  Thấy thế ba môn đệ cùng bỡ ngỡ, ngây ngất vui say và nhìn Ngài không chớp mắt. Ông Phêrô vốn tính nhiệt thành mau mắn, nói như người mất tự chủ :

    --Trình Thầy ! Chúng ta ở đây thực tốt. Nếu Thầy muốn, chúng con xin dựng 3 lều :

Một cho Thầy, một cho ông Môi Sen và một cho ông Êlia.

  Nhưng ông còn đang nói, bỗng một đám mây đến che phủ lấy Ngài và hai ông kia. Ông Phêrô và hai tông đồ cùng khiếp sợ. Tiếp đến từ đám mây phát ra tiếng lạ :

    --Người này là Con yêu dấu của Ta. Ngài làm Ta được toại chí, hãy tin theo Ngài.

  Nghe tiếng lạ ấy, ba tông đồ càng sợ hơn nữa, các ông gục mặt xuống đât, như cảm thấy mình quá bé nhỏ trước thánh nhan của Chúa Trời, Ðấng vừa phán tiếng lạ kia.

  Nhưng Chúa Giêsu đã lại gần, đụng vào các ông mà nói :

    --Các con hãy dậy, đừng sợ.

  Các ông chỗi dậy nhìn chung quanh, chẳng thấy ai nữa, chỉ thấy có một mình Chúa và mọi vinh hiển của Ngài đã biến mất. Các ông tiếc quá, các ông kính cẩn nhìn Chúa như để biểu lộ tất cả lòng thần phục kính tôn. Các ông lại tiếc nữa, vì chưa kịp hỏi điều gì, Ngài đã ra lệnh phải xuống núi. Ðã thế lúc xuống núi, Ngài còn truyền lệnh sau đây :

    --Các con không được nói với ai việc các con mới thấy, cho đến khi Con Người từ trong cõi chết sống lại.

  Các ông cúi đầu vâng lệnh và quả đã giữ đúng như lời truyền. Tuy nhiên các ông cứ ngẫm nghĩ thế nào là từ trong cõi chết sống lại ? Và một thắc mắc nữa các ông không giả nổi : Theo tin tưởng chung của dân Do Thái, Êlia phải đến trước để giới thiệu và tôn phong Ðấng Cứu Thế, vậy mà vừa đây, các ông lại thấy Êlia đến sau Ngài. Nên các ông giải bày với Chúa nổi thắc mắc đó :

    --Thưa Thầy, tại sao các luật sĩ lại dạy rằng : Êlia phải hồi trần trước đã ?

  Chúa đáp :

    --Thật sự Êlia phải đến trước để xếp đặt mọi sự, nhưng Thầy quả quyết với các con :

Êlia đã đến rồi. Ông đã đến trong tinh thần và phẩm cách của Gioan Tẩy Giả nhưng tiếc rằng người ta không nhận biết Người và đã bạc đãi Người theo sở thích của họ. Cũng như họ đã không nhận biết Con Người và rồi đây sẽ bắt Con Người chịu nhiều sỉ nhục cùng khổ.

  Nói tới đây Chúa lại cảm động vì nghĩ đến viễn tượng của khổ hình thập giá. Nhưng Ngài cũng được an ủi một phần, vì thấy các tông đồ đã tin nhận điều Ngài giải thích. Ngài lại cùng với các ông đi rẽ vào một lối quặt để xuống núi....

 

Một  Thứ  Tà  Thần  Ương  Ngạnh...

  Xuống đến chân núi, Chúa và ba tông đồ đi theo, thấy một cảnh náo nhiệt dị thường ; một lũ đông đang ồn ào chỉ trỏ một em bé đang dẫy dụa. Bên cạnh em bé đó, chín tông đồ khác và một số luật sĩ sôi nổi tranh luận nhau về bệnh tình và cách chữa em bé bất hạnh. Em bé này bị bệnh tuần trăng và đồng thời bị tà thần ám ảnh, nên cứ vào những tuần trăng chính như mùng một, mười rằm, là lên cơn vật vã dẫy dụa, bạ đâu lăn vào đó có khi vào cả nước cả lửa. Rồi xùi bọt nghiến răng và cứng đờ ra, người ta đưa em bé đến để các tông đồ trừ quỷ và chữa bệnh, nhưng trái với mọi khi, lần này các tông đồ bất lực không chữa nổi. Vì thế các luật sĩ khấp khởi mừng thầm và ra mặt chỉ trích các ông chuyện này chuyện khác.

  Nhưng giữa lúc họ kịch liệt chỉ trích các tông đồ, thì Chúa đến. Bất giác mọi người quay về Ngài. Có nhiều người chạy đến chào Ngài nữa. Nhưng từ xa Chúa đã biết chuyện, nên Ngài hỏi các tông đồ ngay :

    --Các con tranh luận gì với họ thế ?

  Các tông đồ chưa kịp thưa, thì chợt trong lũ đông đã có người lớn tiếng. Ðó là tiếng ông bố của em bé bất hạnh, ông rẽ đám đông, chạy đến quỳ trước mặt Chúa và trình bày rằng :

    --Lạy Thầy, xin thương đến con tôi vì nó mắc bệnh trăng và đau đớn lắm. Một thứ tà thần câm lại nhập vào nó nữa, vì khi lên cơn nó không nói được. Nó chỉ vật vã dẫy dụa bạ đâu lăn xuống đó. Nó hay ngã xuống nước và lăn vào lửa, nhiều lần mình mẩy nó nát bét, miệng nó sùi bọt và nghiến răng nghe dễ sợ, rồi nằm đờ ra. Tôi đã xin các môn đệ của Thầy trừ thứ quỷ đó, nhưng các ông không trừ được. Vậy tôi xin Thầy thương đến con tôi !

  Ông kêu rất thảm. Dân chúng đứng chung quanh cũng nóng nảy đợi Ngài sẽ hành động hay trả lời ra sao. Họ mong Ngài làm phép lạ để chữa em bé.

  Bấy giờ Chúa tỏ mặt buồn và phán :

    --Ôi lớp người chậm tin và gian tà ! Ta còn phải ở giữa các người và chịu đựng các người cho đến bao giờ ?

  Ý Chúa muốn trách họ, vì Ngài đã ở với họ hơn một năm mà không được họ hiểu. Chúa lại cảm động nhìn em bé, và vừa làm hiệu vừa truyền :

    --Ðem nó lại đây cho Ta.

  Người ta đem em bé đến, nhưng em bé vừa đến trước mặt Chúa, tà thần đã vật em ngã xuống đất. Em quằn quại coi rất đáng thương rồi đờ ra, miệng sùi bọt. Chúa hỏi ông bố:

    --Em đã bị thế từ bao lâu rồi ?

  Ông đáp :

    --Bẩm Thầy, từ khi còn thơ ấu. Như là muốn giết chết con tôi, nên tà thần hay vật ngã con tôi khi vào lửa, khi xuống nước. Lạy Thầy, nếu Thầy có thể là gì được, xin Thầy thương giúp đỡ chúng tôi.

  Chúa Giêsu phán :

    --Nhưng ông có thể tin không ? Với kẻ tin, mọi sự đều có thể được.

  Ông thưa :

    --Lạy Thầy, tôi tin. Nhưng xin Thầy giúp nữa nếu tôi chậm tin.

  Bấy giờ dân chúng kéo đến đông hơn, họ chen chúc nhau cả bốn phía.

  Chúa Giêsu giơ tay đe dọa và truyền cho tà thần rằng :

    --Thần điếc và câm kia. Ta truyền cho ngươi phải ra khỏi trẻ này và không bao giờ được nhập vào nó nữa.

  Lúc ấy quỷ kêu la, vặn chân vặn tay em bé và xuất ra khỏi, để em nằm sóng sượt như xác chết. Nhiều người thấy vậy xì xào : Thôi nó chết rồi ! Nhưng Chúa Giêsu hiền từ cầm tay em bé, nâng em dậy rồi trả cho ông bố đang hồi hộp vì vui và bỡ ngỡ. Cả dân chúng cũng mừng vui vì em đã khỏi hẳn và họ hết sức ca ngợi uy quyền của Thiên Chúa.

  Phần các tông đồ, các ông càng mừng hơn, vì thấy uy quyền của Thầy thật là cao cả và bọn luật sĩ được thêm một dịp bị bẽ mặt. Các ông hớn hở theo Ngài đi. Tuy nhiên, cá ông thắc mắc một điều là tại sao các ông không thể trừ được thứ quỷ câm ấy ? Hay Thầy chưa ban hết quyền chăng ? Bởi vậy khi Chúa vào một nhà kia, các ông liền nhờ lúc vắng, đến hỏi Ngài :

    --Thưa Thầy, tại sao chúng con không trừ được quỷ ấy ?

  Chúa trả lời :

    --Chỉ vì tại các con còn ít lòng tin. Thầy bảo thật, thứ quỷ này chỉ có thể khu trừ được bằng cầu nguyện và ăn chay.

  Ý Ngài muốn nói, không phải Thầy không ban hết quyền đâu. Cái đó chỉ tại các con chưa giữ đủ điều kiện ; các con còn ít tin, các con chưa ăn chay và cầu nguyện đủ.

  Các tông đồ trình lại :

    --Vậy thầy thêm đức tin cho chúng con.

  Chúa liền dạy rõ về đức tin và hiệu lực của đức ấy :

    --Quả thực, nếu các con tin vững chắc, dầu lòng tin đó chỉ lớn bằng hạt cải, các con cũng có thể bảo cây vả rằng : Hãy tự nhổ rễ lên và tự trồng thân mi ở dưới hồ, cây vả sẽ vâng lời tức khắc. Các con cũng có thể khiến núi rằng : Mi hãy xê dịch từ đây đến kia, và núi sẽ xê dịch lập tức. Thế nghĩa là với đức tin, không có gì mà các con không làm nổi

Rồi nữa, các con hãy cầu xin, cầu xin với một lòng tín nhiệm, và các con sẽ được như ý muốn.

 

Ðiềm  Lạ  Giona

MEN  NGƯỜI  NHIỆM  NIỆM  Và  BIỆT  PHÁI....

  Chúa đã làm phép lạ để chứng minh sứ mạng của Ngài. Lý đương ra, những phép lạ đó đã cảnh tỉnh bọn Biệt Phái, bắt họ phải tin Ngài là Chúa Cứu Thế. Nhưng không, họ có tin đâu. Họ vẫn coi Chúa là thù nghịch và luôn luôn tìm dịp để công khai xét xử và chỉ trích công việc của Chúa. Họ tự phụ là những vệ sĩ trung thành của khẩu truyền và lề luật, còn Chúa đối con mắt họ, Ngài chỉ là một tên phá hoại thôi. Bởi thế, một ngày kia Chúa vừa bỏ mạn bắc trởi về Galilêa, họ liền tụ tập nhau...và rủ một số người về phái Nhiệm Niệm nữa...đến chất vấn Ngài.

  Nhiệm Niệm và Biệt Phái nguyên là hai giáo phái đối nghịch nhau. Phái Nhiệm Niệm tin có Thiên Chúa Thần linh và duy nhất, nhưng chỉ nhận có luật Môi Sen, không đếm xỉa đến khẩu truyền, không tin có An bài và linh hồn bất tử. Còn Biệt Phái lại chuyên môn tô điểm khẩu truyền, khởi tại nhiều thủ tục và nghi lễ, khiến đời sống tôn giáo phức tạp vô cùng, không thể thực hiện nổi. Vì thế hai bên vẫn đả kích nhau, hằng tìm dịp chế báng nhau. Nhưng hôm nay họ tạm quên mọi xích mích, mọi oán hận, và cùng bắt tay nhau để tấn công một Người mà họ cho là kẻ thù số một đã bao lần làm họ mất cả thế giá. Vậy họ cùng nhau đến tranh luận với Chúa, và để thử tài Ngài, họ yêu cầu Ngài làm một phép lạ như ý họ muốn :

    --Thưa Thầy, chúng tôi muốn Thầy cho chúng tôi thấy một chứng cớ hiển nhiên về sứ mạng của Thầy, hay một việc gì rất kích động giác quan, như một điềm lạ trên trời chẳng hạn.

  Thế nghĩa là những việc Chúa đã làm, họ chưa cho là những chứng cớ hiển nhiên để đủ chứng thực sứ mạnh của Ngài. Họ nhớ lại xưa kia ông Môi Sen đã làm mưa Manna trên rừng. Ông Êlia đã làm mưa bão giữa lúc đại hạn, ông Giôsê khiến mặt trời đứng lại

Các tiên tri đó đã làm như vậy để chứng thực sứ mạng của mình. Nhưng phần Chúa, họ thấy Ngài chưa làm giống thế, vì vậy họ muốn buộc Ngài phải làm phép lạ theo ý họ.

Nhưng thái độ của họ là cả một sự mù quáng và bất nhã. Ngài đã nuôi năm ngàn người với năm cái bánh nhỏ, đã trừ quỷ, chữa bệnh, và khiến kẻ chết sống lại. Bấy nhiêu phép lạ chẳng vĩ đại hơn gấp trăm lần những phép lạ của các tiên tri ư ?  Quả thực họ đã mù quáng và đã muốn mù quáng trước ánh sáng công việc của Ngài. Họ lại còn vô lễ nữa, Ngài là đặc sứ của Chúa Trời, là Chúa tể vạn vật, thế mà họ dám bắt Ngài phải làm theo sở thích ngông cuồng của họ. Vã nữa, nếu cần phải làm phép lạ, Ngài chỉ làm để tỏ lòng nhân đạo của Ngài hay để cứu chữa nhân loại khổ sở, chứ có phải để kích động giác quan của những kẻ tò mò đâu ? Ngài cũng biết lắm, giả thử có được thấy phép lạ trên trời, họ cũng chẳng tin. Bởi đó Ngài đã tặng lại cho họ một câu mỉa mai và tố giác tội mù quáng của họ. Ngài nói :

    --Các người khéo phân tách những dấu lạ trên trời ; khi về chiều có mây kéo đến, các người bảo ngày mai mưa. Khi gió từ đông nam thổi lại, các người nói sẽ nắng. Lúc ban mai khi trời có vầng mây màu xám đỏ, các người bảo trời sẽ có giông bão. Ấy các người khéo biết hiện tượng ở trên trời, thế sao các người không khéo biết những dấu lạ của lịch sử, và không hiểu cái thời kỳ các người đang sống ?

  Quả Ngài đã gián tiếp mắng họ : Sao các người không biết quan sát những phép lạ Ta làm, để nhận ra Ta là ai, và không tin lời ông Gioan Tẩy Giả để xác nhận Ta là Cứu Thế ? Những hiện tượng trên trời còn có lúc sai, chứ những phép lạ của Ta thực là những chứng cớ không hề chối cãi. Rồi thở dài như buồn vì họ quá cứng lòng và mù quáng, Ngài lại nói tiếp :

    --À ! Lớp người gian ác bất trung này còn xin xem điềm lạ ?! Nhưng sẽ chẳng được xem điềm lạ nào, trừ ra điềm lạ tiên tri Giona. Xưa kia Giona đã là điềm lạ cho dân thành Ninivê nhận ra sứ giả của Chúa thế nào, Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho lớp người này thế ấy. Giona đã ở trong bụng cá ba ngày đêm, Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất với quãng thời gian ấy.

  Tiếp đến Ngài đe dọa bọn Biệt Phái và Nhiệm Niệm. Họ phải chịu phán đoán vì tội cứng lòng không tin. Ngài nghiêm nét mặt và gằn giọng :

    --Trong ngày thẩm phán, dân thành Ninivê sẽ đứng dậy phản đối lớp người này và lên án cho nó, vì ngày xưa dân ấy đã tin lời tiên tri Giona và trở lại. Thế mà ở đây có Ðấng cao trọng hơn Giona, nhưng chẳng được ai tin. Trong ngày thẩm phán, cả Nữ  hoàng Phương Nam cũng đứng dậy phản đối lớp người này nữa và lên án cho chúng. Xưa kia bà đã từ phương xa đến để nghe lời khôn ngoan của vua Solomon. Vậy mà ở đây có Ðấng trọng hơn Solomon, nhưng chẳng được chúng nghe mà còn bị chỉ trích. !

  Nghe tới đây, Biệt Phái và Nhiệm Niệm tức bực hết sức, nhưng biết chưa phải là đối thuyết được với Chúa, họ đành hậm hực rút lui, trong lòng tìm cách báo oán.

  Phần Chúa , xong cuộc xung đột đáng kể này, Ngài cùng với các tông đồ xuống thuyền sang bờ hồ bên đông. Thầy trò hối hả đi, các tông đồ quên mang cả bánh, nên thuyền bỏ bến được ít lâu, các tông đồ đã lo đến bánh ăn vì trong thuyền chỉ còn một khúc bánh nhỏ. Giữa lúc ấy, Chúa phán với các ông rằng :

    --Các con hãy ý tứ giữ mình cho khỏi men Biệt Phái, Nhiệm Niệm và Hêrôđê.

  Ý Chúa muốn dạy : Các con hãy ý tứ lánh tội giả hình của Biệt Phái và Nhiệm Niệm,

cũng như các con phải lánh sự giảo quyệt và nịnh hót của những kẻ ở trong triều đình Hêrôđê, vì đạo đức của những kẻ ấy chỉ như nước men tráng bên ngoài chiếc bánh. Kỳ thực họ chẳng đạo đức gì.

  Nhưng không hiểu ý Chúa dùng tiếng “men” theo nghĩa bóng, các tông đồ chỉ nghĩ Ngài nói về bánh ăn mà các ông đã quên mang. Nên ông nọ ngơ ngác nhìn ông kia như thể hỏi nhau rằng : Hay tại chúng ta quên mang bánh, nên Ngài mới dạy thế ? Thấy các tông đồ luôn luôn để ý những vấn đề vật chất và tầm thường như vậy. Chúa trách nhẹ các ông và bảo rõ cho các ông biết, Ngài không nói về men hay bánh, nhưng Ngài có ý dạy các ông tránh xa những thói hư tật xấu của bọn giả hình. Ngài phán :

    --Tại sao các con cứ lo lắng vì đã quên mang bánh ? Các con chậm tin biết dường nào

Các con chưa hiểu ý Thầy ư ? Quả các con có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe.

Các con có nhớ một hôm kia Thầy đã nuôi năm ngàn người với năm cái bánh đó không ?

Thế hôm ấy các con còn thu được mấy thúng ?

  Các ông thưa :

    --Thưa Thầy ! Mười hai thúng.

  Ngài hỏi nữa :

    --Thế hôm Thầy nuôi bốn ngàn người với bảy cái bánh, các con thu lại được bao nhiêu

    --Thưa Thầy ! Bảy thúng

  Chúa phán thêm :

    --Vậy các con bây giờ đã hiểu chứ ? Khi Thầy bảo các con phải giữ  mình khỏi “men”

Biệt Phái, Nhiệm Niệm và Hêrôđê, Thầy không nói về bánh ăn đâu, nhưng Thầy có ý nói về một chuyện khác.

  Nghe Chúa nói đến đây, bấy giờ các ông mới hiểu là Ngài không nói về bánh ăn thường nhật, nhưng có ý nói về thái độ phải giữ  đối với Biệt Phái, Nhiệm Niệm và Hêrôđê, ấy là tránh xa lý thuyết và tội giả dối của họ.

 

Cách  Lạ   Tiến  Thân

CON  ÐƯỜNG  ÐƠN  SƠ  VÀ  PHỤNG  CƯ..

  Sau một thời gian ngắn truyền đạo ở bờ hồ phía đông, Chúa và các tông đồ lại trở về Caphanaum là trụ sở chính. Trên đường về, các tông đồ cãi lẫn nhau về chỗ ngồi trên dưới, nhất là về điểm : Ai sẽ là người xứng đáng thế vị Ngài khi Ngài khuất núi. Các ông cãi nhau kịch liệt, vì tin chắc Ngài là Cứu Thế, tuy dẫu rồi đây Ngài sẽ bị bách hại, nhưng kết quả sau cùng sẽ là một thắng lợi tốt đẹp và chắc chắn. Bởi vậy các ông muốn xem ai sẽ là người chiếm những địa vị cao trong chính thể Ngài sẽ lập.

  Các ông cãi cọ như thế trên đường về chưa đủ, lúc tới nhà lại còn bận tâm về chuyện đó mãi. Nên Chúa giả bộ như không biết, gọi các ông lại và phán hỏi :

    --Lúc nãy, các con tranh luận gì với nhau ở dọc đường vậy ?

  Các ông nín lặng hồi lâu không thưa lại, nhưng rồi cảm thấy Ngài đã hay chuyện, các ông đành phải thú :

    --Bẩm Thầy, thế ai là người lớn hơn trong Nước Trời ?

 Bấy giờ Chúa ngồi xuống, gọi một trẻ nhỏ đến đứng bên Ngài và phán :

    --Quả thực, Thầy bảo các con, nếu các con không trở nên như trẻ nhỏ, không bỏ lòng tham vọng và ăn ở đơn sơ như trẻ nhỏ, các con chẳng được vào Nước Trời đâu ? Ai biết tự hạ mình xuống như trẻ nhỏ này, người ấy sẽ có địa vị nhất ở trong nước đó. Và nữa, ai muốn lớn nhất, người ấy phải trở nên đầy tớ rốt hết của mọi người.

  Ý Ngài muốn dạy : Các con muốn làm thủ lãnh và điều khiển ư ? Thế các con hãy khởi sự lo đến người khác. Thầy đã đến để phụng sự những người rốt hèn và nghèo túng. Vậy các con cũng hãy làm như Thầy. Các con hãy nhìn nhận thấy Chúa Trời trong mọi người, nhất là những người nghèo khổ và hãy phụng sự họ. Rồi Ngài ôm lấy trẻ nhỏ và phán :

    --Thầy cũng bảo thật, ai đón nhận các trẻ nhỏ này vì danh Thầy tức là đón nhận chính Thầy, và ai đón nhận Thầy, chẳng phải người ấy chỉ đón nhận một mình Thầy đâu, nhưng là đón nhận cả Ðấng đã sai Thầy nữa.

  Ðứa trẻ nhỏ được Chúa yêu, ngẩng lên nhìn Ngài với cặp mắt sáng để biểu lộ cả lòng hoan lạc và tri ân, làm Chúa cảm động. Tay Ngài khẽ đập vào vai nó và phán :

    --Hỡi các con, ai tiếp rước một sứ giả vì là sứ giả ; ai tiếp rước một thánh nhân vì là thánh nhân. Và nữa, ai ban một cốc nước cho người khác, tỷ như cho một trong các trẻ nhỏ này, hay là cho các con, vì lẽ các con là môn đệ của Ðấng KiTô, thì Thầy quả quyết rằng, người ấy sẽ được thưởng.

  Thế là sau khi dạy các tông đồ phải khiêm nhường và đơn sơ như trẻ nhỏ, Chúa lại khuyến dụ các ông phải sẵn đức hy sinh, giúp đỡ mọi người, và hứa sẽ ban phần thưởng cho những ai vui lòng đón tiếp các ông.

 

Hình  Phạt  Cối  Ðá...

  Ðứa trẻ nhỏ hãy còn đứng bên cạnh Chúa. Ðôi mắt sáng sủa của nó phản chiếu một tâm hồn trong sạch. Ðứa bé thật xứng đáng được yêu và xứng đáng tượng trưng những thế hệ thánh thiện tin theo Ngài. Vì thế Ngài yêu nó lắm. Nhưng lòng yêu đó cũng làm Ngài liên tưởng đến số phận mong manh của nó. Nó dễ gặp dịp tội, dễ bị những kẻ xấu nết lạm dụng, làm nó hư đi. Nên Chúa lại dạy các tông đồ phải hết sức tránh tội làm gương xấu cho trẻ nhỏ. Ngài phán lớn tiếng :

    --Khốn cho những kẻ dụ dỗ hoặc làm ô nhục cho một đứa trong những trẻ nhỏ tin Thầy đây. Thà chúng bị buộc cổ vào cối đá để chịu ném xuống biển còn hơn ! Ôi, khốn cho thế gian này đầy những gương xấu ! Ðã hẳn, đành phải có gương xấu ; nhưng khốn cho những kẻ gây nên gương đó !

  Chúa cũng dạy rõ ràng, phạm đến trẻ nhỏ là phạm đến sứ thần hộ thủ của chúng :


    --Thầy bảo thật các con, hãy dè giữ, chớ có khinh dể một trong những trẻ nhỏ này, vì sứ thần của chúng ở trên trời hằng chiêm ngưỡng mặt Cha Thầy ở trên ấy.

  Tiếp đến Chúa dạy các tông đồ phải hy sinh và can đảm để tránh xa và đả phá những gương xấu thế gian. Ở chỗ này lời Chúa nói rất linh động và cụ thể. Ngài nói như thể nói riêng từng người :

    --Chính tay con hoặc chân con làm vấp ngã ư ? Con hãy can đảm chặt nó và vất nó xa con. Thà con cụt tay hay què chân mà được vào cõi sống, còn hơn lành lặn cả hai tay hai chân, mà bị ném vào lửa không thể tắt. Cũng thế nữa : Nếu mắt con làm cho con lỗi phạm, con hãy khoét nó đi, vì thà con bị chột mà được vào Nước Ðức Chúa Trời, còn hơn có cả hai mắt mà phải vào hỏa ngục, nơi đầy sâu độc cắn rứt. ( Nhiều nhà chú giải hiểu tiếng

“sâu” ở đây là tiếng cắn rứt của lương tâm. Tiếng đó sẽ làm khổ cực những kẻ bị phạt đời đời.)  Và lửa không thể tắt, một thứ lửa nung nấu và giữ sống tội nhân như muối giữ đồ ăn khỏi bị thiu thối.

  Nhân nói đến lửa hỏa ngục có giữ sức sống tội nhân như muối ướp đồ ăn. Chúa lại nhắc tới bổn phận các tông đồ phải sống thánh thiện, để nhờ muối thánh thiện đó, các ông sẽ ướp nhân loại cho khỏi hư vì tội lỗi. Chúa phán :

    --Hỡi các con, các con là muối đất. Nhưng nếu muối đã nhạt, còn lấy gì ướp nó mặn được ? Nó sẽ thành vô ích, dùng làm phân bón cũng chẳng được nữa. Người ta chỉ còn cách vứt ra ngoài đường cho những khách qua đường dày xéo lên thôi. Vậy các con là muối đất, các con hãy nhận định trách nhiệm và sứ mạng của các con. Các con  hãy giữ tính chất muối ở trong mình và gây hòa khí tốt đẹp giữa các con, hòa khí của thánh thiện công bình bác ai.

 

Bảy   Mươi   Lần   Bảy....

  Chúa đã dạy các tông đồ phải trở nên muối đất, nghĩa là một mặt phải gìn giữ thế gian khỏi gương xấu, và những ảnh hưởng khốc hại cho gương xấu ; một mặt khác phải đưa thế gian vào con đường lành, con đường thánh thiện. Nhưng các ông phải hành động cách nào để chu toàn bổn phận thiêng liêng ấy ? Các ông có được theo lối Biệt Phái, trao tội nhân cho dân chúng đả phạt không ? Tỷ dụ có nên nộp một dâm phụ cho tòa án nhân dân, để rồi dân chúng ném đá cho dâm phụ đó chết không ? Hẳn là không. Vì đạo Chúa lấy chữ Yêu Thương làm cốt lõi, quảng độ làm nền. Bởi vậy Chúa lại dạy các tông đồ cách thế phải sửa dạy tội nhân như sau đây :

    --Nếu người anh em con có lỗi với Chúa Trời, con hãy sửa trách một cách khôn ngoan: Trước tiên con hãy thực tình mách bảo, mách bảo riêng một mình con với một mình người có lỗi. Nếu người đó nghe con mà sửa lỗi, ấy là con đã cứu được người anh em con. Nhưng nếu chẳng may con không làm được việc, nghĩa là người đó nhất định không nghe con, lúc ấy con hãy đem lại hai ba người đến với con, để nhờ sự chứng kiến của mấy người này, công việc của con được chắc chắn. Vậy con hãy thực tình khuyến dụ anh em con, hãy dùng tiếng nói của lòng nhân từ và vận động mọi cách để chinh phục người có lỗi, nhưng không được tiết lộ và tuyên truyền làm mất phẩm giá của người ta.

    --Sau cùng nếu con đã hành động thế mà người ấy vẫn không thèm nghe, vẫn công khai làm tổn thương Giáo Hội bằng lỗi lầm và gương xấu, bấy giờ con hãy thưa với Giáo Hội, để Giáo Hội cảnh tỉnh, Nhược bằng phải dùng đến phương thế đó nữa, nó cũng không chịu hối hận, không chịu phục quyền Giáo Hội, bấy giờ vì vinh dự của đoàn thể, Giáo Hội sẽ ly khai nó, để các phần tử Giáo Hội khỏi phải lây vết nhơ của nó, và để tỏ rằng Giáo Hội không phải là kẻ đồng lõa với nó. Bấy giờ quả nó không còn là một phần tử của Giáo Hội nữa, và con có thể kể nó như một người ngoại giáo hay một người thu thuế.

  Với những lời trên đây, quả Chúa đã dạy các tông đồ một lối rất khéo léo để cải hóa tội nhân, một lối cải hóa đầy nhân từ quảng độ. Tuy nhiên trong những trường hợp đó có liên hệ đến uy danh của đoàn thể, Ngài cũng dạy phải đem việc đến cấp trên, nghĩa là đến tòa án Giáo Hội. Quyền hành của tòa án này, trước đây Ngài đã hứa cho ông Phêrô là lãnh tụ Giáo Hội, nay nhân dịp Ngài cũng hứa cho các vị cộng tác của ông Phêrô tức là các Tông Ðồ khác nữa. Nên khi đặt rõ vấn đề về quyền hạn trong Giáo Hội, Ngài lại tuyên bố :

   --Hỡi các con, quả thực Thầy bảo các con, hễ điều gì các con cầm buộc ở dưới đất, ở trên trời cũng sẽ cầm buộc. Và hễ điều gì các con cởi mở ở dưới đất, ở trên trời cũng sẽ cởi mở.

  Những lời Chúa phán trên đây phải hiểu về những lỗi phạm đến Chúa, những lỗi phạm làm tổn thương công ích và danh dự của Giáo Hội. Ðối với những lỗi đó, Chúa thấy đôi lúc Giáo Hội cần phải dùng phép thẳng để sửa phạt mới trông có hiệu quả và phá được gương xấu. Song ngoài trường hợp đó ra nghĩa là khi nói về lỗi lầm giữa người này với người khác, giữa các nhân với cá nhân. Chúa dạy các Tông đồ và những người tin theo Ngài, phải có một thái độ khác, ấy là phải sửa lỗi anh em, nhưng nhất là phải sẵn lòng tha thứ, thực tình và tha thứ luôn luôn. Bởi thế, Ngài lại phán :

    --Nếu anh em con lỗi phạm điều gì, con hãy sửa bảo, và anh em con hối hận, con hãy thứ tha. Giả thử trong một ngày anh em con sai lỗi đến bảy lần và bảy lần đến thú lỗi, con cũng hãy thứ tha.

  Ông Phêrô vội ngắt lời :

    --Thưa Thầy, vậy nếu anh em tôi phạm đến tôi, tôi phải tha cho họ bao nhiêu lần ? Tha có bảy lần có đủ không ?

  Ông Phêrô nghĩ rằng tha tới bảy lần đã là khoan hồng lắm rồi, nên ông vội trình bày với Chúa, nhưng Chúa cho như thế cũng chưa đủ. Chúa muốn phải tha luôn luôn, chứ không phải kể lần nữa. Ngài đáp lại :

    --Thầy không bảo con đến bảy lần, mà đến bảy mươi lần bảy.

  Rồi nhân dịp Chúa giảng một dụ ngôn để răn những kẻ cứng lòng không muốn tha sự lầm lỗi cho người khác. Ngài dạy :

    --Người ta có thể sánh ví công việc của Nước Trời với thái độ của một vị Vua nọ muốn tính sổ với những người thừa hành. Ông mở sổ và gặp trường hợp một người mắc nợ với ông mười ngàn khối bạc, ông cho đòi người đó đến và bắt trả. Ông liền chiếu luật buộc nó bán mình cùng thế tử và cả gia tài để trả nợ. Nhưng người đó phục xuống lạy ông và kêu rằng : “Xin khất cho tôi ít bữa, tôi sẽ trả hết cho ông.” Thấy vậy, ông động lòng thương người ấy, tha cho anh ta về và tha cả nợ nữa. Quả thật ông là người rất đại lượng và đã tỏ ra một thái độ khoan nhân hiếm có.

Nhưng người được ông tha nợ lại rất bợm bịp và bất lương. Hắn vừa ra khỏi đền đã gặp một người bạn, mắc nợ hắn một trăm đồng tiền nhỏ. Hắn liền túm lấy cổ bạn, vừa bóp vừa nói : Trả nợ tao. Bấy giờ người bạn hắn phục xuống và van rằng : Xin anh hoãn cho ít bữa, tôi sẽ trả hết cho anh. Nhưng hắn không nghe và còn bỏ tù người bạn cho đến lúc trả hết nợ. Những người thừa hành khác trong đền vua nghe biết chuyện đó, bừng bừng tức giận.  Họ đem câu chuyện thuật với nhà Vua. Vua liền cho gọi hắn đến và mắng quở: Thằng bất nhân ! Thằng tệ bạc ! Tao đã tha hết nợ cho mày vì mày đã xin tao. Vậy mày phải thương hại bạn mày như tao đã thương mày chứ ? Rồi ông nổi giận và trao hắn cho tòa án để tòa bắt hắn trả nợ....

  Kể dụ ngôn xong, Chúa còn thêm một câu để các Tông đồ ngẫm nghĩ và hiểu rõ rệt hơn nữa.

    --Vậy nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình. Cha Thầy ở trên Trời cũng sẽ xử với các con như thế.

 

Con  Trong  Nhà  Ðược  Miễn  Chứ.... 

   Một ngày kia, sau cuộc đi truyền đạo, Chúa và các Tông đồ cùng trở về trụ sở ở thành

Caphanaum. Ở đó một nhân viên thu thuế của Ðền thờ đã đến đợi sẵn để thu tiền thuế.

Thứ thuế này bắt nguồn từ luật ông Môi Sen, theo luật những người trên hai mươi tuổi hằng năm phải nộp một nữa đồng Sekel hay một đồng tiền Hy Lạp để tu bổ Ðền thờ. Tuy nhiên việc nộp thuế này không buộc ráo riết lắm. Bởi vậy hôm ấy một người thu thuế đến tận nhà hỏi ông Phêrô :

    --Thầy các ông có nộp thuế không ?

    --Có ! Ông Phêrô thưa một cách chắc nịch rồi đến trình với Chúa.

  Nhưng Ngài hỏi ông :

    --Simon, con nghĩ làm sao ? Ai là những người vua chúa bắt nộp thuế ? Con cái trong nhà hay người ngoài ?

  Ông thưa :

    --Dạ, chắc chắn là người ngoài.

  Chúa dạy :
    --Thế con cái trong nhà được miễn, và Ta đâu phải nộp.

  Ông Phêrô hiểu lời của Chúa lắm. Một ngày kia Ngài đã tuyên bố Ngài là Con Thiên Chúa. Ðền thờ là nhà của Thiên Chúa tức là nhà của Cha Ngài, nên Ngài không phải nộp thuế....Ðó là điều ông phải thưa lại với người thu thuế. Nhưng ông lại bối rối trước lý luận đó, vì không biết phải giải thích thế nào cho người kia hiểu.

  Thấy vậy Chúa mỉm cười và để chứng tỏ tuy không có luật nào buộc Ngài nộp thuế, Ngài cũng nộp, ngõ hầu treo gương sáng cho người ta soi. Ngài dạy ông Phêrô :

    --Tuy nhiên để khỏi sinh dịp cho họ vấp phạm, con hãy ra biển thả câu. Con cá nào giật được trước nhất, con hãy bắt lấy, vạch miệng nó ra. Con sẽ thấy ở trong miệng nó có đồng tiền, con lấy để nộp thuế cho họ, cả suất của Thầy và suất của con nữa.

                                                                    ***               

Ba  Thành  Bị  Chúc  Dữ....

     Galilêa là một xứ được thấm nhuần nhiều ơn Chúa, Chúa đã nhân thừa ở đó nhiều phép lạ. Chúa đã ban bố ở đó nhiều giáo lý mầu nhiệm cao sâu. Nói tóm lại, Chúa đã không tiếc gì với giải đất nằm bên Biển Hồ có làn nước trong xanh đầy quyến rũ.

  Nhưng kiểm điểm lại những kết quả đã lượm được, Chúa cảm thấy rất buồn lòng, vì dân chúng chỉ thích xem điềm lạ, còn đối với việc cải thiện đời sống, họ vẫn thờ ơ, số người trở lại tương đối vẫn ít. Bởi vậy Chúa thịnh nộ và quở trách những thành thị, nơi Ngài đã làm nhiều phép lạ hơn cả mà họ không chịu ăn năn hối lỗi. Ngài phán quở :

    --Hỡi Côrôgiain, khốn cho ngươi ! Hỡi Bétsai, khốn cho ngươi ! Nếu Tyrô và Siđôn được chứng kiến những phép lạ đã làm nơi các ngươi, có lẽ các thành ấy đã mặc áo nhậm và rắc tro trên đầu để sám hối. Vì thế, Ta quả quyết với các ngươi, trong ngày thẩm phán, Tyrô và Siđôn, hai thành ngoại đạo ấy sẽ được xử đoán với nhiều khoan dung hơn các ngươi.


  Còn ngươi nữa, hỡi Caphanaum ! Ngươi tưởng danh vọng ngươi sẽ dâng lên tới trời xanh ư ? Ngươi hãy tỉnh ngộ : Ngươi sẽ bị giẩy xuống hỏa ngục. Xưa kia nếu thành Sôđôma được thấy những phép lạ đã làm ở nơi ngươi, âu là ngày nay thành ấy hãy còn, vì đã thống hối ăn năn. Vậy Ta bảo cho ngươi hay : Trong ngày thẩm phán, Sôđôma sẽ được dung thứ hơn ngươi.

  Lời Chúa chúc dữ quả ứng nghiệm phi thường. Lịch sử cho ta biết ; Côrôgiain, Bétsai và Caphanaum là những thành phố xưa kia sầm uất vào bậc nhất ở Tiểu Á, nhưng ngày nay cả ba đều bị tiêu diệt. Caphanaum và Côrôgiain còn để lại chút di tích trong những đống gạch đổ nát. Còn Bétsai không ai nhận được nền móng ở chỗ nào.

Truyền  Bệnh  Nhân  Vác  Chõng,

ÐỂ  TUYÊN  BỐ  NHỮNG  LỜI  CAO  SIÊU....

  Nhân dịp lễ nghỉ, Chúa lại lên thành Jêrusalem. Ngài khởi sự vào Ðền thờ lúc trời còn mát dịu, ánh nắng mới dọi tới mấp ngọn tháp cao.

  Ngài đi vòng phía bắc Ðền thờ qua một cửa lịch sử, tục gọi là cửa chiên ( vì người ta đem những con chiên làm tế vật qua cửa đó ) Ngay bên ngoài cửa có một bể tắm (hồ tắm) dài 120 thước, ngang 60 thước. Bốn mặt bể người ta xây bốn trụ quan, và ở giữa xây thêm một trụ quan nữa để ngăn bể. Vì thế bể này cũng gọi là bể Ngũ trụ quan, dưới mỗi trụ quan có nhiều bệnh nhân nằm, bệnh nhân mù què, bại liệt hay đau ốm. Dân tin rằng thỉnh thoảng có thiên thần xuống đánh động nước dưới bể hồ, và mỗi lần nước động, bệnh nhân nào lăn mình xuống nước trước, sẽ được khỏi bệnh. Vì thế dưới những trụ quan hằng có một số bệnh nhân nằm đợi.

  Hôm ấy những bệnh nhân nằm đợi nước động, có một một người yếu liệt đã 38 năm. Tình trạng người này đáng thương lắm. Nên chợt thấy, Chúa hiểu ngay bệnh nhân đã khổ cực từ lâu. Với giọng yêu thương Ngài phán hỏi :

    --Ngươi muốn được khỏi bệnh không ?

  Bệnh nhân đáp :

    --Bẩm ông, tôi muốn lắm. Nhưng chẳng có ai giúp đưa tôi xuống bể mỗi lần nước động. Khi nào tôi gắng sức, lần mò xuống được thì luôn luôn có người đã xuống trước tôi

  Nhìn bệnh nhân với cặp mắt cảm thương. Chúa phán :

    --Ngươi hãy đứng dậy, hãy vác chõng mà bước đi.

  Lập tức người ấy thấy mình khỏi bệnh. Hắn nhẹ nhàng đứng dậy, vác chõng vui vẻ bước đi.  Hắn đi cùng phố, và vui như điên, vai vác chõng đi hết đường này sang đường khác.

Tâm trạng của một người 38 năm tê liệt được khỏi hẳn đã làm hắn vui sướng quá.

  Nhưng hôm ấy lại là ngày lễ nghỉ, một ngày cấm làm việc, cấm cả mang một trái vả trong túi áo, huống chi là vác chõng rong riễu ngoài đường. Nên thấy hắn vác chõng, mấy người la lên :

    --Anh kia, ai cho phép anh được vác chõng thế ? Anh không biết hôm nay là ngày lễ nghỉ ư ?

  Hắn thưa lại :

    --Người cứu chữa tôi đã bảo tôi ; Hẵy vác chõng mà đi.

  Tức giận, một người chận hắn lại và gắt hỏi :

    --Thế ai là người đã bảo anh, hãy vác chõng mà đi ?

 Nhưng nào hắn có biết vị đã chữa hắn là ai đâu. Vã nữa, chữa hắn xong, Chúa đã lẫn vào đám đông và biến mất.

  Một lát sau, Chúa gặp hắn trong Ðền thờ đang kính cẩn cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa vì đã được khỏi bệnh. Ngài liền phán bảo :

    --Bây giờ đã được khỏi bệnh, ngươi phải ý tứ đừng phạm tội nữa kẻo lại bị khốn nạn hơn.

  Phán xong, Chúa đi khuất sau một hàng cột của thánh đường. Bỡ ngỡ, người đã khỏi bệnh, cố dò hỏi cho biết vị vừa nói đó là ai. Có người mách bảo :

    --Ðó là Giêsu thành Nazareth, một vị đại tiên tri.

  Người đã khỏi bệnh tỏ bộ kính phục Chúa và mừng hết sức. Hắn nhìn theo Chúa đã khuất, rồi sung sướng bước khỏi thánh đường, đi tìm và thưa lại những người Biệt Phái vặn hỏi lúc nãy :

    --Người đã chữa tôi chính là Thầy Giêsu.

  Hắn thưa với vẻ tự đắc, ngụ ý như muốn bảo những kẻ mới hạch hỏi hắn rằng : Người đã cứu tôi là Thầy Giêsu, một vị đại tiên tri. Ngài đã có thể phán một lời mà cứu được một bệnh nhân bại liệt, hẳn Ngài phải là người bởi Chúa. Bởi vậy Ngài cũng có quyền giải thích lề luật. Ngài đã dạy tôi hãy vác chõng mà đi. Tôi vâng, thế là phải lắm, các ông còn hạch xách gì ? Nhưng nếu những lời đó tỏ rõ được lòng hắn tin phục và tri ân Chúa, thì lòng tri ân kia đã thiếu khôn ngoan, vì câu trả lời của hắn làm bọn Biệt Phái đã sẵn lòng giận ghét Chúa thì bây giờ càng giận Ngài thêm. Họ chạy vào thánh đường như để vồ lấy mà hành tội. Và họ hạch Ngài cách hỗn xược :

    --Sao ông dám làm thế trong ngày lễ nghỉ ?

  Nhưng không sợ, Chúa trừng trừng nhìn trả lại, và ung dung mượn dịp đó, long trọng tuyên bố Ngài ở trên lề luật, vì Ngài là Con Thiên Chúa có đủ quyền hành động như Ðức Chúa Cha. Ngài phán :

    --Cha Ta hành động thế nào. Ta cũng hành động thế ấy. Và Cha Ta hành động luôn luôn.

  Nghe Ngài tuyên bố như thế, tụi Biệt Phái và Luật sĩ đứng đó tức giận đầy gan. Không những Ngài đã lỗi ngày lễ nghỉ lại còn dám gọi Thiên Chúa là Cha mình, tức là tự tôn mình lên bằng Thiên Chúa. Tội này còn nặng hơn tội trước. Họ cho là Ngài nói phạm thượng Ngài đáng chết, và họ dự định sẽ diệt Ngài cho xong. Nhưng đứng trước cơn phẫn nộ của họ, Ngài vẫn thản nhiên và còn giải thích nữa :

    --Quả thực, quả thực, Ta bảo các người, không những Con với Cha cùng đồng bản thể mà còn chặt chẽ liên kết trong hành động nữa. Vì thế Con không thể tự mình làm một việc gì, nếu Người chẳng thấy Cha làm trước. Và đối lại, hễ Cha làm được gì Con cũng làm được việc ấy. Bởi vì Cha rất yêu Con, và tỏ ra cho Con mọi sự Con phải làm, vì thế các người đã thấy việc Con có thể làm, ví dụ chữa người bại liệt lúc nãy. Và rồi đây Cha còn tỏ cho Con làm những công việc dị thường hơn các việc này, những công cuộc khiến các người phải ngạc nhiên. Cho kẻ chết sống lại là việc duy mình Cha làm được, nhưng Con cũng có quyền ban sự sống và cho ai sống lại mặc ý Người. Duy Cha có quyền xét xử thế giới. Nhưng Cha không xét xử ai, vì Ngài đã trao cho Con xét xử mọi việc, để hết thảy đều tôn kính Con cũng như tôn kính Cha. Bởi vậy ai không tôn kính Con là không tôn kính Cha, Ðấng đã sai Con. Trái lại ai tôn kính Con, tức là nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, người ấy sẽ được sống đời đời. Người ấy sẽ không bị luận phạt trong ngày xét xử, vì người ấy đã thoát khỏi án phạt để đến với sự sống muôn đời. Quả thực, Ta bảo các người, hiện đã đến giờ các kẻ chết nghe theo tiếng Con Ðức Chúa Trời để được sống vĩnh viễn. Chúa Cha có sự sống trong mình Ngài. Ngài cũng ban cho Con có sự sống trong mình như thế. Nên những ai tin theo tiếng của Con cũng sẽ được sống vĩnh viễn. Các người đừng bỡ ngỡ về điều đó, vì sẽ đến ngày những kẻ chết nằm nghỉ trong mồ, sẽ nghe tiếng gọi của Con mà sống lại ; kẻ lành sống lại để lãnh thưởng, kẻ dữ sống lại để chiu phạt. Và tất cả những cái đó, chẳng có gì là do ý của Ta, vì Ta không tự tiện làm điều gì. Trái lại Ta chỉ làm theo ý Ðấng đã sai Ta. Ta chỉ xét xử theo công bình và theo sự Ta nghe biết. Ta chỉ hành động theo mệnh lệnh của Ðức Chúa Cha.

  Nói tới đây, hùng khí của Ngài càng dâng lên mạnh. Ngài tố giác cả ác ý trong lòng họ nữa ; ác ý ngấm ngầm định giết Ngài :

    Xưa kia Môi Sen đã chẳng ban hành pháp luật cho các người ư ? Thế sao chẳng ai trong các người vâng giữ ? Các người hãy nói rõ. Hà cớ gì các người định giết Ta ?

  Bên cạnh bọn Biệt Phái và Luật sĩ, có một số người ngoại giáo tò mò đứng nghe. Những người này không hiểu tụi Biệt Phái và Luật sĩ đã định sát hại Ngài. Nên nghe Ngài nói đến chuyện “giết” họ lấy làm bỡ ngỡ tưởng chừng Ngài muốn vu oan . Họ liền đáp lại giọng gắt mắng :

    --Ông này điên chửa ? Có ai tìm giết ông đâu ?

  Nhưng Chúa không thưa lại, Ngài còn mải bắt lỗi tụi Biệt Phái và Luật sĩ đã phạm luật ông Môi Sen trong nhiều trường hợp, đã coi thói tục tổ truyền trọng hơn ý Chúa, đã phạm đức công bình bác ái và hiếu thảo để giữ tục lệ bên ngoài. Họ cho phép Cắt Bì trong ngày lễ nghỉ mà lại cấm chữa bệnh ! Thế mà việc chữa bệnh có trường hợp cần hơn việc Cắt Bì. Họ còn âm mưu giết người chữa bệnh nữa.... Chúa phán :

    --Các người bỡ ngỡ và tức bực vì nguyên việc Ta vừa làm, là chữa bệnh nhân trong ngày lễ nghỉ ư ? Thế sao các người không ngại lại phép Cắt Bì trong ngày lễ nghỉ ? Phép Cắt Bì được ông Môi Sen truyền lại thực, song nguyên do phép đó không bởi ông Môi Sen, nhưng bởi các tổ phụ. Vậy nếu ngày lễ nghỉ người ta được phép Cắt Bì mà không lỗi luật Môi Sen, thì sao các người căm với Ta vì Ta đã làm một người hoàn toàn khỏe mạnh cũng trong ngày lễ nghỉ. Các người đừng theo hình thức bên ngoài mà phán đoán, nhưng nên phán đoán theo sự thật và công bình .

                                                                  ***  

 Mánh  Lới  Của  Những  Người  Tham  Vọng.

 MỘT  LỄ  TRẠI  TƯNG  BỪNG  NHỮNG  CÂU  NÓI  UY  HÙNG  VÀ  CAO  CẢ.

   Vì bọn Biệt Phái và Luật sĩ lập mưu giết Chúa, nên Ngài bỏ lại Jêrusalem và về truyền đạo ở Galilêa. Nhưng không bao lâu đã đến dịp Lễ Trại, một dịp lễ người Do Thái mở rất trọng thể vào mùa Thu, để tạ ơn Thiên Chúa đã ban mùa màng và kỷ niệm 40 năm lưu lạc ở hoang dã. Dịp lễ này, người ta trẩy đến đông lắm. Cũng dịp lễ này, mấy người anh em thân thuộc của Chúa đến giục Ngài đi dự lễ ở Jêrusalem để Ngài trổ tài làm phép lạ. Họ biết uy thế của Ngài ở Galilêa mạnh lắm. Ðó là cả vinh dự cho gia đình và thân thuộc.Theo quan niệm của họ, Ngài có thể trở nên một đại thủ lãnh của xứ sở, tuy nhiên theo ý họ, Ngài đã phạm hơn một điều lầm lỗi : Giáo lý của Ngài quá cao xa, đã gây thù giữa bọn sĩ phu thành thánh và không phù hợp với những nguyện vọng của dân.

Bởi vậy, cần Ngài phải lên Jêrusalem để làm những việc dị thường, ngõ hầu lấy lại thanh thế và sửa soạn cho tương lai....Họ cùng nhau đến giục Ngài :

    --Thầy bỏ xứ Galilêa và hãy lên Jêrusalem để tìm những người đồng chí hướng. Thầy hãy làm những việc lạ để các môn đệ Thầy được dịp chứng kiến. Khi người ta muốn tỏ mình ra, sao người ta lại cứ hành động trong bóng tối ? Thầy có phép lạ làm những việc dị thường, Thầy nên tỏ mình cho thiên hạ biết.

  Quả thực là những người chưa tin Ngài. Họ không hiểu về xứ mạng cao cả nhưng thiêng liêng của Ngài. Họ chỉ xét Ngài dưới góc cạnh chính trị lẫn quốc gia, và cho rằng lên Jêrusalem lần này là dịp tốt để mưu một việc đại sự. Việc chính biến. Phải !

Ngài sẽ đứng đầu nêu cao cờ giải phóng, nêu cao bằng những chuỗi phép lạ, và toàn dân sẽ hùa theo, bọn sĩ phu sẽ khuất phục, quân ngoại bang sẽ tan rã. Nhưng Chúa biết rõ ý định của họ, và Ngài không ưa làm phép lạ để phô trương hay vì bị thách thức. Nên Ngài bảo họ :

    --Thời giờ của Ta chưa đến, còn thời giờ của các người lúc nào cũng sẵn. Thế gian không ghét các người, nhưng chỉ ghét Ta, vì Ta phản đối chúng và chứng tỏ công việc của chúng xấu. Vậy các người cứ đi dự lễ trước. Bây giờ Ta chưa đi, thời giờ của Ta chưa đến.

  Lời Ngài phán làm đám anh em thân thuộc bất bình. Họ bỏ mặc Ngài lại và lên đường đi Jêrusalem. Lúc họ đi rồi, Ngài mới bí mật đi, sau khi sai mấy môn đệ đi dò đường.

  Giữa lúc ấy ở thành thánh Jêrusalem. Lễ Trại đã khai mạc với tất cả vẻ náo nhiệt tưng bừng của một Ðại Lễ. Nhưng giữa cảnh náo nhiệt tưng bừng ấy, dân chúng ngơ ngác nhìn nhau và bàn tán về sự vắng mặt của Chúa. Họ hỏi nhau :

    --Ông ấy ở đâu ?

  Trong số những người bàn tán, có người nói : “Ông ấy tốt” có người lại nói : “Không phải thế, ông ấy chỉ phỉnh gạt dân” Nhưng họ thì thào vậy, chứ không ai dám đường hoàng và công khai bình phẩm về Ngài, vì họ rất sợ bọn Biệt Phái.

  Phần Chúa sau một lát lên đường, Ngài xin vào trọ, nhưng những người trong làng biết Ngài và môn đệ có ý lên Jêrusalem để dự lễ. Việc đó làm họ phẫn lắm, vì gián tiếp chứng tỏ Jêrusalem là trung tâm duy nhất của tế tự. Nên họ làm khó dễ nhất định không cho Ngài trọ, cốt để ngăn trở việc của Ngài. Thấy thế ông Giacôbê và Gioan cho là lỗi luật tiếp khách, dám sỉ nhục Thầy mình, và đáng phạt. Các ông tức giận và xin phép Chúa phạt họ như ông Êlia xưa đã phạt sứ bộ vua Ôcôxia rằng :

    --Lạy Thầy, Thầy có muốn để chúng con khiến lửa trên trời xuống thiêu hủy chúng đi không ?

  Nhưng các ông đã bị Ngài khiển trách :

    --Các con muốn báo oán ư ? Sao các con dám nói những lời như vậy ?

  Rồi Ngài với các ông đi vào làng khác.

  Chúa đã đến Jêrusalem và cả thành thánh đang tưng bừng trong bầu không khí hoan lạc của Lễ Trại. Người ta đang múa hát trong những chòi làm ở dưới gốc cây, đang yến tiệc trong những lều vải dựng ở giữa những khoảng đất trống, và từng đoàn người, áo quần sặc sỡ đang diễu qua những con đường đưa tới Thánh đường. Những đám đông đó với tài điều khiển của một vị tướng lỗi lạc, rất có thể gây một cuộc binh biến. Bởi vậy trong những ngày Lễ Trại, đoàn quân ngoại quốc và cảnh binh giữ trật tự, phải thận trọng luôn luôn.

   Cũng bởi vậy, mấy người anh em thân thuộc của Chúa đã giục Ngài trẩy đến trong dịp lễ này, để hy vọng một cuộc phát động có nhiều cơ may. Nhưng ý Chúa lại khác hẳn. Ngài không màng đến chính trị, và một khi tới Ðền thờ, Ngài chỉ lo một việc giảng dạy. Ngài giảng dạy công khai, giáo lý Ngài cao cả, lời giải thích của Ngài rõ rệt và khéo léo khiến khách thập phương đến nghe đều phải thán phục. Ngài quả là một tiến sĩ đại danh, một tiến sĩ trổi hơn những tiến sĩ lỗi lạc như Hillel và Schamai. Thế mà người ta có thấy Ngài theo học một trường nào như các tiến sĩ ấy đâu. Thực lạ quá !

Người ta bỡ ngỡ, và người này hỏi người nọ :

    --Ông này không đi học mà sao thông hiễu Thánh Kinh và giảng dạy khéo thế ?

  Thừa dịp Chúa tuyên bố Giáo lý của Ngài không đắc thụ bởi luật tự nhiên, nhưng là bởi trời đem xuống. Ngài phán :

    --Giáo lý của Ta không phải bởi Ta, song bởi Ðấng đã sai Ta. Ai muốn làm trọn ý của Ðấng ấy, người đó sẽ nhận thấy rằng Giáo lý này bởi Chúa Trời, hay bởi Ta tự thuyết ra.

Phàm ai tự mình thuyết lý, người ấy tìm vinh hiển riêng cho mình. Nhưng ai tìm sự vinh hiển của Ðấng đã sai mình, người ấy quả là thật thà không ám muội và rất đáng tin.

  Chúa cứ đường hoàng giảng dạy trong Ðền thờ. Càng giảng nguồn hùng biện càng chảy tràn lai láng. Nhiều người biết bọn đàn anh Do Thái đang tìm cách hại Ngài, nhưng lại thấy Ngài cứ đường hoàng giảng thế họ bỡ ngỡ hỏi nhau :

    --Ðây không phải là người họ đang tìm giết ư ? Thế sao ông cứ công khai giảng dạy mà chẳng ai dám nói gì ? Hay có lẽ các ông thủ lãnh đã nhận Ngài là KiTô rồi chăng?..

  Nghe tiếng KiTô mấy người khác cải chính lại :

    --Không, đời nào các ông ấy nhận, Ðấng KiTô khi nào Ngài đến, có ai biết được tông tích của Ngài đâu. Còn như ông này, chúng ta đã biết ông phát tích tự đâu rồi.

  Lời cải chính đó là phản ảnh một tin tưởng trong dân : Chúa Cứu Thế sẽ đến bất ưng, không ai dò được tông tích..Nhưng nghe họ bàn tán thế, Chúa đã nói to để hết mọi người hiểu, họ chỉ biết Ngài có một phần thôi, còn một phần nữa họ không biết. Ngài nói :

    --A ! Các người ngờ là quen Ta và biết Ta bởi tự đâu ư ?...Các người nên biết Ta chẳng phải tự mình mà đến, và Ðấng đã sai Ta, có quyền làm như vậy. Các người không biết Ðấng ấy nhưng Ta, Ta biết lắm, vì Ta ở gần Ngài. Ngài là Ðấng chân thật và chính Ngài đã sai Ta.

  Nghe tuyên bố như thế, tụi Biệt Phái giận đến tím ruột thâm gan, hiểu Ngài xưng mình là Con Thiên Chúa, họ muốn bắt và hành hung Ngài ngay. Nhưng họ lại sọ, vì nhiều người trong dân đã tín phục Ngài và cón nói với nhau : Khi Ðấng KiTô hiện đến, vị tất Ngài đã có thể làm được phép lạ hơn ông này ? Nhưng nếu vì sợ, bọ Biệt Phái không dám đích thân bắt Chúa, thì họ cũng không bớt oán giận Ngài. Trái lại họ đã xui các trưởng tế phái cảnh vệ đến bắt Ngài. Nhưng rồi lúc cảnh vệ đến, chính bọn này cũng sợ không dám bắt.

  Trước cảnh lố bịch đó, Chúa ung dung mỉm cười rồi lại phán :

    --Ðừng sợ, Ta chỉ còn ở giữa các ngươi một ít nữa rồi Ta sẽ trở về với Ðấng đã sai Ta.

Bấy giờ các người sẽ tìm Ta, nhưng không thể thấy nữa, vì các người không thể đến nơi Ta sẽ ở.

  Ý Chúa muốn nói : Ngài sẽ về với Cha Ngài ở trên trời. Nhưng dân không hiểu thế. Họ lại tưởng Ngài sẽ bỏ đất Palestine để đi truyền đạo ở ngoại quốc, nên họ bảo nhau :

    --Ông này sẽ đi đâu mà chúng ta không tìm thấy ? Hay ông định đến với những kiều bào ở ngoại quốc ư ? Hay là ông muốn truyền đạo cho những dân ngoại giáo ? Lời ông vừa nói “Các người sẽ tìm Ta mà chẳng thấy, vì các người không thể đến nơi Ta sẽ ở” lời đó nghĩa là gì ?

  Thấy họ hoang mang và có những ý nghĩ sai lầm thế, Ngài thương tình chỉ cho họ lý do vì sao họ không hiểu lời Ngài mới nói. Lý do đó là bức tường tội lỗi đã che khuất ánh sáng siêu nhiên không để họ nhận thấy sứ mạng của Ngài. Ngài phán :

    --Phải, Ta đi mà các người sẽ tìm mà chẳng thấy, cũng như chẳng thể đến nơi Ta ở được, vì các người sẽ chết trong tội của các người.

  Tuy nhiên đối với họ câu nói đó vẫn còn tối nghĩa...Họ không thể thoát ra ngoài cái ý nghĩ. Lẽ tự nhiên người này đi đâu, người kia cũng đi được chứ. Nhưng giữa lúc họ còn đang bàn tán xôn xao, một người trong bọn Biệt Phái đã nghĩ ra một cách chế diễu Ngài. Hắn đưa ra một câu trào phúng :

    --Ông này toan tự sát hay sao mà cứ nói mãi : chỗ Ta đi các người không thể đến được. Phải, nếu ông tự sát, xác ông sẽ bị vất vào thung lũng Hinnon, hồn ông sẽ xuống hỏa ngục. Và như vậy, hẳn chúng ta không thể theo được thật. Nhưng không thèm chấp lời châm biếm ấy, Chúa cũng vạch rõ lý do tại sao họ không tin theo Ngài :

    --Không phải thế đâu, nhưng chỉ vì các ngươi ở dưới thấp. Còn Ta, Ta ở trên cao. Các người bởi cái thế gian khốn nạn này. Còn Ta, Ta không phải bởi thế gian. Ta bảo thật, các người sẽ chết trong tội các người. Phải, các người sẽ chết trong tội, nếu các người không tin Ta.

  Họ đồng thanh hỏi :

    --Nhưng tin ông là ai mới được chứ ?

  Chúa trả lời :

    --Ðiều đó Ta đã nói nhiều lần rồi, chẳng cần phải lập lại nữa...một điều cần hơn, là Ta sẽ xét xử việc các người, và về điểm đó, Ta sẽ chẳng thiếu cái phải nói với các người.

  Họ vẫn chưa hiểu Ngài nói với họ về Cha Ngài, nên ngẫm nghĩ một lát Ngài lại nói :

    --Quả thực, Ðấng đã sai Ta, là nguồn sự thật, và Ta dạy cho thế giới những điều Ta đã lãnh nhận bởi Ngài. Ngài chính là Cha Ta, Ta phụng sự Ngài và tìm lợi ích của Ngài,

chứ không tìm lợi ích cho Ta. Một ngày kia khi các người treo Con Người lên, bấy giờ các người sẽ thấy quả thực Ta không tìm lợi ích của Ta, Ta không làm gì tự ý Ta, nhưng ta đã làm và nói đúng như Cha Ta đã dạy. Ðấng đã sai Ta hằng ở với Ta, và không bao giờ bỏ Ta, vì Ta luôn luôn làm theo điều Ngài muốn.

  Những lời Chúa phán trên đây tuy làm bọn Biệt Phái và Luật sĩ tức bực, nhưng cũng làm tăng số những người tín phục. Những người này phục Chúa ở chỗ Ngài vẫn giữ thái độ bình tĩnh đáng khen trước địch thủ, vẫn diễn tả một cách rất tài tình, những giáo lý lạ lùng và cao đại, nên họ đã kính nhận Ngài là vị giải phóng của muôn dân. Tuy nhiên đức tin của họ vẫn còn non yếu, nên Chúa lại dạy họ phải vững tin hơn, phải đem đức tin vào hành động, để sự Thật sẽ cứu độ khỏi ách nô lệ và cho họ một đời sống tự do, một đời sống giải thoát.  Ngài phán :

    --Tin chưa đủ, các người còn phải thực hiện những lời nói của Ta. Các người có vững vàng làm theo giáo lý của Ta, các người mới là môn đệ của Ta thực, các người mới thoát ách nô lệ và được sự thật giải phóng.

  Tuyên bố những lời trên đây, Chúa muốn dạy rằng : Phàm ai thực hiện giáo lý của Ngài, người ấy sẽ kềm chế được những dục vọng của mình, sẽ cởi bỏ được ách nặng của tội ác, sẽ được tự do đi vào con đường sáng của sự thật, tức là con đường nhân đức.

Ðó là cuộc giải phóng vĩ đại Ngài đem lại cho thế giới, nhất là cho những kẻ tin phục Ngài. Cuộc giải phóng đó sẽ cải thiện các nhân cũng như đoàn thể, làm cho các dân tộc trên hoàn cầu biết thương yêu nhau, liên kết với nhau trong hòa bình, an vui và hạnh phúc. Nhưng trái lại bọn Biệt Phái có muốn hiểu theo ý đó đâu. Vừa nghe những tiếng

“thoát ách nô lệ và được tự do” lòng tự ái của họ đã nhảy lên như con ngựa bị thúc. Họ đối lại Chúa rằng :

    --Chúng tôi vẫn tự do ; chúng tôi là miêu duệ ông Abraham, chúng tôi có làm nô lệ ai bao giờ mà ông phải nói giải phóng ? Vì lẽ gì ông bảo chúng tôi : Các người sẽ được tự do ?

  Chúa đáp lại :

    --Phàm ai phạm tội, người ấy là nô lệ của tội. Và nô lệ không có quyền được ở trong nhà. Quyền đó là của người con. Bởi vậy cần Con Người phải giải phóng các người khỏi ách nô lệ, để các người được tự do, một tự do đích thực. Các người nói các người là miêu duệ ông Abraham ư ? Quả thực Ta cũng biết thế. Nhưng các người có hành động như con cháu ông Abraham đâu ! Chứng cớ các người đang tìm cách giết Ta và chỉ trích những lời Ta nói, chính Ta với tư cách một hiếu tử. Ta luôn luôn chỉ cho các người những điều Ta đã thấy ở nơi Cha Ta. Nhưng các người luôn luôn hành động theo những đứa con của người khác, chứ không phải của Abraham !

  Họ nhao nhao phản đối :

    --Ô kìa ! Cha chúng tôi không phải là Abraham ư ?

  Chúa vặn lại :

    --Nếu các người là con cháu Abraham, các người cũng phải hành động như Abraham chứ ? Các người đang tìm cách giết Ta vì Ta đã nói sự thật, một sự thật Ta đã thụ lĩnh bởi Chúa Trời. Vậy ông Abraham có hành động như thế không ? Hẳn không. Quả thực các người đã hành động như những đứa con của một người khác, chứ không phải của Abraham.

  Những lời Chúa phán đã quá đủ để tỏ rõ bọn Biệt Phái chỉ là con cháu ông Abraham về phần xác ; còn về tinh thần, họ quả là nô lệ, là con của ma quỷ vì họ đang tìm cách hại Ngài. Nhưng càng bị Chúa kết, họ càng bực tức và cố tìm lối thoát, chứ không chịu thú nhận và hối cải. Họ đối lại :

    --Nhưng chúng tôi có phải là những đứa con bất hợp pháp, những đứa con ngoại tình đâu . Trái lại chúng tôi còn có một người Cha chung duy nhất là Thiên Chúa.

  Chúa đáp lại :

    --Thiên Chúa là Cha các người ư ? Nếu thế, nếu thế các người sẽ quý mến Ta, vì Ta bởi Thiên Chúa mà phát hiện và do lệnh của Ngài mà đến. Ta đã chẳng tự ý riêng mà đến, nhưng chính Ngài là Ðấng đã sai Ta ! Lời nói của Ta đã làm các người tức tối : Quả thực Cha của các người chỉ là ma quỷ, nên các người chỉ lo thực hiện chương trình của nó. Xưa nay nó vốn là kẻ sát nhân, luôn luôn làm điều bất chính. Nó không có sự thực ; sản nghiệp của nó là gian dối. Nó chuyên môn lường gạt, nó là cha sự dối trá. Phần Ta, chỉ vì Ta nói sự thật, nên các người không tin. Hỏi trong các người có thể bắt bẻ Ta về  một tội gì, thế mà sao các người không tin ? Ai bởi Ðức Chúa Trời, người ấy nghe lời Ðức Chúa Trời. Nhưng các người, các người đã bưng tai chẳng muốn nghe. Ðiều đó đủ tỏ các người chẳng phải bởi Ðức Chúa Trời.

  Lời Chúa quả là một đòn chí tử trực tiếp nện xuống đầu tụi Biệt Phái làm cho họ tức bực quá, đâm nói bậy. Họ ngang nhiên gọi Ngài là quân Samaria ( dân ngoại đạo ) và là người quỷ ám. Họ lớn tiếng thóa mạ :

    --Hỡi quân Samaria, hãy im đi !...Ðã rõ rệt mi là người điên, là người bị quỷ ám !

  Nhưng Chúa vẫn thản nhiên và giọng Ngài càng uy nghi mạnh mẽ :

    --Ta không điên, cũng không bị quỷ ám chút nào. Ta chỉ bênh vực danh dự của Cha Ta. Các người đã thóa mạ Ta một cách bỉ ổi. Nhưng thôi, mặc...Ta không tìm danh giá của Ta. Ðã có Ðấng tìm hộ và sẽ xét xử. Một lần nữa, Ta bảo các người, ai giữ lời Ta, không bao giờ người ấy sẽ phải chết.

  Chúa nói về sự chết thiêng liêng của linh hồn. Nhưng tụi Biệt Phái còn cố hiểu theo nghĩa đen và cãi lại :

    --Quả thực đã rõ như ban ngày, ông là người bị quỷ ám trăm phần trăm. Ông Abraham đã chết, cả các tiên tri cũng vậy, thế mà ông dám nói : Ai giữ lời Ta, không bao giờ người ấy sẽ phải chết. Ông có trọng hơn ông Abraham và các tiên tri không?

Thế mà ông Abraham đã chết, các tiên tri đã chết. Vậy ông dám tự phụ khoe mình là ai ?

  Chúa Giêsu đáp :

    --Nếu Ta tự ý hiển vinh danh Ta, danh của Ta sẽ là hư giả. Nhưng chính Cha Ta là Ðầng làm rạng danh Ta, Cha Ta là Ðấng các người gọi là Thiên Chúa của các người. Các người không biết Ngài, còn Ta, Ta hiểu biết Ngài. Giả thử Ta nói không hiểu biết Ngài. Ta cũng sẽ là kẻ nói dối như các người. Nhưng thực Ta biết Ngài và giữ lời Ngài.

Quả thực, Ta còn trọng hơn Abraham tổ phụ của các người. Abraham đã nhảy mừng khi tưởng thời giờ Ta sẽ đến. Ông đã được thấy ngày giờ đó và mừng vui.

  Cả thính giả đều xôn xao hỏi Chúa :

    --Lạ thực ! Ông chưa tới năm mươi tuổi mà dám tự phụ đã thấy ông Abraham ?

  Sắc mặt Chúa vẫn thản nhiên, cử chỉ của Chúa vẫn vững vàng. Ngài nhấn mạnh từng tiếng, giọng quyết liệt :

    --Quả thực, quả thực, Ta bảo các người, trước khi có Abraham. Ta vẫn có.

  Nghe Ngài nói thế, nhiều người bực hết sức, cho là Ngài quá táo bạo, dám xưng mình là Thiên Chúa, là Tự Hữu. Riêng bọn Biệt Phái họ phẫn nộ đến điên lên. Miệng họ la :

Quân phạm thượng, quân lộng ngôn !.. Và họ nhặt lấy những hòn đá rải rác ở đấy ném bừa vào Ngài để Ngài chết gục ngay dưới trận mưa đá.

  Nhưng Ngài đã nhanh chân, lẩn vào đám người đang diễu trong Ðền thờ và thoát khỏi bọn chúng.

 

 Mạch  Nước  Sống...

 Hôm ấy là ngày cuối Lễ Trại, một ngày trọng nhất trong tuần lễ, một ngày để cầu mưa.

Ngày đó được đánh dấu bằng hai nghi lễ rất đặc biệt và vui vẻ : Nghi lễ đốt 4 cây đèn vàng ở tiền đình Phụ nữ và rước ra suối Siôlê. Nghi lễ trước đểõ kỷ niệm những ngày dân Do Thái được cột mây cột lửa hướng đạo trên rừng xưa. Nghi lễ sau để nhắc lại việc ông Môi Sen đánh đá trên núi Horeb để khiến nước chảy ra cho dân uống.

  Thực sự, nghi lễ sau ngày nào cũng có, nhưng ngày cuối tuần được tổ chức đặc biệt hơn. Trong ngày này, cả dân cùng tập họp ở trước Thánh đường, rồi mỗi người cầm một cành lá rước thầy Thượng tế ra suối Silôê. Thầy thượng tế kín nước vào một bình vàng rồi lại theo đám rước trở về Thánh đường Jêrusalem. Trong cả hai cuộc rước, các thầy Trưởng tế phải mặc áo dài trắng, thắt dây ngũ sắc ở ngang lưng, đội mũ cao vành và ca hát. Về tới Thánh đường cả đám rước được ban âm nhạc đợi sẵn đó đón chào bằng những bài kèn tưng bừng hùng tráng và vang dội. Tiếp đến lễ rửa bàn thờ ; trong khi thầy Thượng tế đổ nước ở bình vàng ra để rửa, các thầy Thượng tế phải đi quanh bàn thờ bảy lượt, miệng hát, tay hoa cành lá. Toàn dân cũng phải phục lạy, rồi đứng lên hoa cành lá. Tất cả những nghi lễ đó đều biểu tượng một ngày vui đặc biệt của tuần lễ.

  Hôm ấy Chúa cũng đến dự lễ rửa bàn thờ. Ngài cầm một cành lá lớn, khiến nhiều người chú mục về Ngài. Rồi lúc mọi người phủ phục cầu mưa, một mình Ngài vẫn đứng bóng Ngài nổi bật lên làm toàn dân phải chú ý. Ngài nhìn một lượt rồi kêu to :

    --Ai khát hãy đến với Ta, hãy tín nhiệm vào Ta và sẽ được sống no thỏa. Người ấy sẽ được thâý ứng nghiệm lời Thánh Kinh : “Một mạch nước sống sẽ trào ra từ lòng người ấy”

  Ý Chúa muốn nói : Các người đang rửa bàn thờ để cầu mưa, để xin nước, một thứ nước tự nhiên làm tốt mùa màng và đem lại thịnh vượng về vật chất. Ðiều đó hẳn là nên. Nhưng hãy còn một thứ nước khác, một thứ nước siêu nhiên, tức là tinh thần bác ái laø chính Chúa Thánh Thần. Thứ nước đó ai xin Ta, Ta sẽ cho người ấy, Chúa Thánh Thần sẽ xuống trong lòng người ấy và làm cho người ấy an vui no thỏa.

  Chúa muốn dạy thế, nhưng dân có hiểu đúng vậy đâu. Có người dị nghị về Ngài. Có người tưởng Ngài là vị tiên tri có quyền làm mưa xuống... Chỉ có một số ít, tin Ngài và tuyên bố :Ngài thực là Ðấng KiTô. Nhưng họ liền bị các người khác cãi lại : Không phải thế, Ðấng KiTô có xuất hiện tự xứ Galiêa đâu. Nào Thánh Kinh chẳng dạy rằng : Ðấng KiTô phải xuất hiện bởi dòng vua Ðavít và tự Bê Lem thành của Ðavít ư ? Thế mà ông này, quê ở Nazareth người xứ Galilêa !...

 Thế là dân chúng bất hợp nhau trong dư luận. Nhưng về phía bọn Biệt Phái, họ tức giận với Chúa lắm và muốn bắt Ngài ngay, song chẳng ai dám khởi sự gì cả. Nhờ nhược điểm đó, Chúa lại tìm cách bắt bẻ họ, Ngài hỏi :

    --Các người có ý kiến thế nào về Ðấng KiTô ? Các bậc thông thái của các người dạy gì về nguồn nguyên thủy của Ðấng ấy ?

  Họ trả lời :

    --Những bậc ấy dạy rằng, Ngài là con vua Ðavít.

  Chúa lại bắt bẻ họ :

    --Thế sao vua Ðavít được Chúa Thánh Thần linh ứng để chép Thánh vịnh, đã gọi Ngài là “Chúa” một lối gọi chẳng có tổ phụ nào dùng để gọi ai trong các con cháu ? Phải, chính trong Thánh vịnh vua Ðavít đã để lại lời rằng “Chúa đã phán với Chúa tôi : Con hãy ngự bên hữu Cha  cho tới khi Cha đặt kẻ thù địch Con ở dưới chân Con” Vậy Ðavít đã gọi Ngài là Chúa, lẽ nào Ngài lại là con vua ấy ? Các người có thể giải thích cho Ta điều đó không ?

  Nhưng họ chịu. Chẳng ai giải thích được cả và họ đành lui về... Về nhà họ lại mở cuộc thảo luận gắt gao về Chúa. Họ cho là Ngài đã đáng tử án và sai một số cảnh vệ đến bắt Ngài. Nhưng bọn này sợ, không dám bắt và trở về, bộ điệu bối rối. Mấy người Biệt Phái hỏi chúng : “ Sao các anh không bắt hắn về đây ?  Ðám cảnh vệ thưa :

    --Nhưng chưa hề bao giờ chúng tôi thấy người nào ăn nói được như ông ấy.

  Bọn Biệt Phái liền mắng :

    --Thế cả các anh cũng bị mê hoặc rồi ư ? Các anh hãy coi, có vị thủ lãnh nào hay có người Biệt Phái nào tin phục hắn đâu ? Chỉ có bọn dân ngu là tin hắn. Bọn dân ngu không hiểu luật và bất hạnh !...

  Nghe nói thế, ông Nicôđêmô, người trước đây đã tìm gặp Chúa...và cũng là một nhân viên cao cấp trong bọn họ, tức khí cãi lại :

    --À các ông tự phụ là người biết luật ! Thế luật của chúng ta có cho phép luận phạt ai mà không cần nghe người đó chữa mình và không cần điều tra việc người đó đã làm không ?

  Lời phản đối của ông Nicôđêmô quả là một nhát búa bổ xuống trên đầu họ. Họ bắt đầu ngẫm nghĩ. Nhưng tâm hồn họ, thiên chí đã tiêu ma, dục tình đang nổi mạnh, nên họ không biết hối nữa. Trái lại họ chỉ biết giận thêm. Họ còn nghi cho ông Nicôđêmô là một người phản đảng và cùng gắt rầm lên :

    --Hay ông cũng là một người Galilêa nữa ? Ông hãy tra cứu Thánh Kinh lại và sẽ rõ chẳng có tiên tri nào xuất hiện bởi xứ Galilêa.

  Họ vừa gắt vừa lườm ông...Họ còn buông mấy câu bất nhã nữa rồi mới chịu giải tán.

 

Thiếu  Phụ  Gian  Dâm....

  Sáng sớm hôm sau, Chúa lên đền thờ. Dân chúng đến rất đông và Ngài lại khởi sự giảng dạy. Giữa lúc đó, các Luật sĩ và Biệt Phái điệu đến cho Ngài một thiếu phụ bị bắt trong lúc phạm tội ngoại tình. Họ đưa thiếu phụ ra giữa công chúng và thưa Ngài rằng :

    --Trình Thầy, người này bị bắt quả tang đang lúc phạm tội gian dâm. Theo luật ông Môi Sen dạy chúng tôi phải ném đá nó chết. Nhưng phần thầy, Thầy dạy thế nào ?

  Bọn Luật sĩ và Biệt Phái nói thế là để thử Ngài và để có sẵn chứng cớ diệt Ngài. Họ nghĩ nếu Ngài theo luật xử tội nhân phải ném đá. Ngài sẽ tự tố giác chính mình là người ác nghiệt sẽ mất hết ảnh hưởng đối với tội nhân, và sẽ tự lên án cho mình, vì Ngài năng lui tới những người có tội công khai, ví dụ như những người thu thuế. Trái lại, nếu Ngài bào chữa tội nhân, Ngài sẽ đặt mình trong trường hợp phản lại luật. Vì thế họ nghĩ, chạy đằng nào Ngài cũng mắc bẫy, và họ sẽ được cuộc, nắm chắc phần thắng trong tay. Ðang lúc họ hý hửng với ác ý đó, người thiếu phụ đứng coi rất đáng thương. Thiếu phụ đưa hai cánh tay lên che mặt, đầu tóc rối bù, thân hình tiều tụy, sắc mặt xanh nhợt và run sợ như người sắp bị án chém.

  Nhưng trước những lời tố cáo của bọn Luật sĩ và Biệt Phái. Chúa lặng thinh không nói gì, Ngài cũng không nhìn thẳng vào mặt tội nhân, Ngài chỉ cúi mình xuống và lấy đầu ngón tay viết trên mặt đất. Cử chỉ của Ngài như ngầm bảo họ rằng : Ta không phải là viên thẩm phán trong tòa án của các người, nên Ta không có bổn phận phải tuyên án.

Ngài cứ tiếp tục viết tựa hồ như không để ý đến việc ở trước mặt. Bọn đối phương cứ hỏi mãi, Ngài mới ngẩng đầu lên, đưa mắt nhìn mỗi người trong bọn họ, một cái nhìn thấu tận lương tâm của từng người và Ngài điềm tỉnh phán :

    --Ai trong các người thực vô tội, người ấy hãy ném đá vào nó trước đi.

 Thế rồi Ngài lại cúi xuống và lại viết...Ai nấy đều im lặng, một sự im lặng nặng nề ! Mỗi người trong bọn đối phương, cảm thấy như mình bị tố giác. Kẻ trước người sau, họ lén ra về, bắt đầu từ người cao niên hơn hết. Rốt cục chỉ còn một mình Chúa với thiếu phụ vẫn đứng đó.

  Bấy giờ Chúa ngẩng lên, nhìn chung quang và hỏi thiếu phụ :

    --Những người tố giác con đi đâu cả ? Không có ai luận phạt con ư ?

  Thiếu phụ run sợ đáp :

    --Lạy Thầy, chẳng có ai.

  Chúa dạy :

    --Ta không luận phạt con, con hãy về, nhưng từ nay đừng phạm tội nữa.

 

 Không  Ðược  Ly  Dị...

  Người ta mỗi lần nhận thấy bọn Biệt Phái tranh luận với Chúa, là mỗi lần họ thất bại. Tuy nhiên thua keo này, họ lại bày keo khác.... Một hôm Chúa bỏ xứ Galilêa và sang giảng ở xứ Pêrêa bên kia sông Jordan. Ðược tin dân chúng tấp nập kéo tới để nghe Ngài giảng và xin Ngài chữa các bệnh tật. Ðang khi Ngài giảng, một số Biệt Phái đã đến đây để thử thách Ngài....đưa ra một thắc mắc rất khó về vấn đề hôn nhân để Ngài giải thích. Họ hỏi Ngài cách trắng trợn :

    --Người ta có được rẫy  (bỏ) vợ bất luận vì lẽ gì chăng ?

  Với câu hỏi đó họ hy vọng sẽ làm Chúa lúng túng. Họ nghĩ nếu Ngài đáp thẳng là tuyệt đối không thể được, Ngài sẽ nghịch với ông Môi Sen, vì nhà lập hiến này đã cho phép người ta ly dị vợ trong trường hợp người vợ phạm điều ô nhục. Ngược lại, nếu Ngài cho phép ly dị bất cứ mọi lẽ gì, Ngài sẽ bị liệt vào số môn đệ của phái Hillel, một phái rất lãng mạn, bất luận một cớ gì họ cũng cho là “điều ô nhục” để ruồng bỏ vợ. Lúc ấy Ngài sẽ bị coi là người bất chính bất công. Sau cùng nếu Ngài cắt nghĩa “điều ô nhục” trong luật Môi Sen là “tội ngoại tình” như phái Shammai, Ngài sẽ bị phái Hillel công kích và sẽ bị tiếng thiên vị ; là đảng phái. Nói tóm lại Ngài chạy lối nào cũng sẽ mắc bẫy.

  Nhưng bọn Biệt Phái đã phải cụt hứng một cách chua cay trước câu đáp rất tự nhiên của Chúa, một câu đáp chứng tỏ Ngài không thiên vị, không bất chính bất công và không phản ý luật ông Môi Sen đã để lại. Chúa trả lời với họ :

    --Các người không đọc lời Thánh Kinh rằng : Lúc ban đầu Ðấng Tạo Hóa đã dựng lên người ta, một nam và một nữ ư ? Và Ngài phán rằng : Vì thế mà người nam đã bỏ cha mẹ để quyến luyến vợ mình để cả hai cùng trở nên một thân xác. Thế nghĩa là họ sẽ không còn là hai, mà chỉ là một. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, người ta không có quyền phân rẽ.

  Nhưng bọn Biệt Phái vẫn tự đắc hất hàm phản kháng lại :

    --Thế sao ông Môi Sen, vị lập hiến đại danh của Thiên Chúa, đã cho phép viết tờ ly thư và trong mấy trường hợp đã cho phép được bỏ vợ ?

  Chúa cải chính :

    --Ông Môi Sen đã cho phép thế là vì các người đã cứng lòng, chứ lúc ban đầu không có như vậy.

  Hai chữ “cứng lòng” trên đây, Chúa nói dằn từng tiếng dường như để nhắc lại cho đối phương cái vết nhơ lịch sử của người Do Thái. Xưa kia dân Do Thái mới thoát khỏi ách nô lệ bên Ai Cập, phong tục còn thô sơ thấp kém, tính tình còn hung tàn man rợ, chỉ biết quan niệm phụ nữ như một dụng cụ khoái lạc. Nên ông Môi Sen đã phải buộc lòng cho phép ly dị. Song đó chỉ là một phép rộng làm thinh trong một thời gian thôi. Nhưng nay thời hạn đó đã hết, và Chúa giáng trần để tẩy sạch vết nhơ kia, cũng như để đưa loài người vào đường sáng sủa của Tạo Hóa và sửa lại lề luật. Bởi thế Ngài nói tiếp :

    --Quả thực, lúc ban đầu không có như thế, vậy Ta bảo thật các người : Ai ruồng bỏ vợ và đi lấy người khác, người ấy đã phạm tội ngoại tình. Ai lấy người thiếu phụ đã bị ruồng bỏ, cũng phạm tội ngoại tình. Cũng thế nữa, người đàn bà bỏ chồng và đi lấy người khác, cũng phạm tội ngoại tình. Người ta chỉ được tạm xa nhau trong trường hợp ngoại tình thôi. ( Nghĩa là trong trường hợp, vợ hay chồng mắc ngoại tình, bên vô tội được phép gạt bên có tội ra ngoài, không buộc phải giữ luật đồng tịch đồng sàng, nhưng không được ly dị và lấy người khác )

  Nghe Chúa nói về luật hôn nhân bất giải và nghiêm ngặt như vậy, các tông đồ trình thưa với Ngài :

    --Nếu phận người đàn ông đối với vợ mình là như thế, thà đừng kết bạn còn hơn !...

  Chúa đáp lại :

    --Tuy nhiên, không phải mọi người hiểu lời ấy cả đâu, nhưng chỉ có những kẻ được đặc ân thôi, vì có người bị thiến hoạn từ trong lòng mẹ, nghĩa là sinh ra đã thế, có người bị thiến hoạn bởi người ta làm, nhưng lại cũng có người hoạn mình vì lý do của Nước Chúa...Ðó ai có thể hiểu, hãy hiểu ra...

 Người  Chết  Sống  Lại.

 ÐỜI  SỐNG  Ở  BÊN  KIA....

  Hết bọn Biệt Phái lại đến bọn Nhiệm Niệm tìm cách thử Chúa để bắt Ngài phải lúng túng và mất thể diện.  Ngày kia trong một buổi họp mặt, bọn này đã tìm ra một chủ đề mà họ cho là rất khó giải. Nhóm Biệt Phái và dân chúng tin có linh hồn bất tử và xác sống lại. Nhưng bọn này không tin thế, họ không nhận là linh hồn có thể sống ở ngoài xác được, và họ cho rằng chết là hết, bên kia cái chết chỉ là hư vô. Vì vậy họ rủ nhau đến một cách trịnh trọng và trình với Chúa rằng :

    --Thưa Thầy ! Luật ông Môi Sen có dạy : Nếu ai có người anh chết để lại vợ góa không con, thì người ấy phải cưới vợ góa của anh để gây nòi giống cho anh mình. Ðó là luật Thế Huynh ( Luật Levirat, em thế anh hay thế em để gây nòi giống ) Một luật dạy đàn bà góa không con phải tái giá với anh em hay người họ nội gần nhất của chồng để gầy dựng kẻ nối giòng cho người chết. Vậy chúng tôi có một trường hợp sau đây xin Thầy giải :

“Trong chúng tôi có một gia đình bảy anh em, người con cả lấy vợ rồi chết không con, người thứ hai cưới vợ góa của anh rồi chết cũng không con. Người thứ ba và cho đến người thứ bảy cũng thế. Bảy người đều chết mà không có con để lại. Sau cùng chính người quả phụ cũng chết. Vậy ngày sống lại, người đàn bà kia sẽ là vợ của ai trong bảy người anh em đó, vì tất cả bảy người đều cưới chị ta làm vợ ?

  Với câu hỏi trên đây, bọn Nhiệm Niệm đã hy vọng sẽ đưa Chúa vào con đường bế tắc. Ngài sẽ đáp lại : Người đàn bà đó là vợ chung cả bảy người ư ? Nhưng thế thì thật là oái oăm kỳ dị ! Trái lại Ngài sẽ dạy : Người đàn bà đó là vợ của một người ư ? Nhưng như vậy thì sáu người kia phải xử thế nào ? Nên họ nghĩ, để giải quyết việc rắc rối đó, hẳn Ngài sẽ đi tới chỗ chối người chết sống lại. Nhưng họ lại phải bẽ bàng khi nghe Chúa đáp lại một cách rất dễ dàng và tự nhiên. Ngài nói :

    --Trước hết các người không có một ý niệm nào về uy quyền của Thiên Chúa. Các người nên biết : Lúc còn ở thế trần này, người ta cưới vợ lấy chồng. Nhưng trong ngày kẻ chết sống lại, mọi sự sẽ đổi thay, đời sống của những người xứng đáng vào Thiên Quốc thì sẽ khác hẳn. Người ta sẽ không còn cưới vợ lấy chồng, sẽ không còn sinh con cái. Nhưng những người được chọn sẽ cùng hạnh phúc, sẽ bất tử và nên giống như thiên thần,

làm con yêu dấu của Chúa Trời và con cái của sự sống vĩnh viễn.

    --Về Thánh Kinh các người cũng không hiểu nữa. Nào ông Môi Sen chẳng nói rõ kẻ chết sẽ sống lại ư ? Các người hãy nhớ lại đoạn Kinh Thánh “Bụi gai hồng” Trong đoạn đó. Thiên Chúa phán với Môi Sen những lời sau đây : “ Ta là Chúa tể Abraham, Isaac và

Jacob” Vậy Ngài có xưng mình là Chúa tể những xác chết không ? Hẳn không. Vậy quả thực Ngài là Chúa tể của người sống và mọi người được sống là do Ngài. Nhưng để Ngài có thể xưng mình như thế, xưng mình là Chúa tể kẻ sống, cần ba tổ phụ của dân Do Thái là Abraham, Isaac và Jacob vẫn còn sống ở thế giới bên kia.

   Nghe Chúa đáp lại tự nhiên và rõ ràng như thế, dân chúng hết thảy đều hoan nghênh. Mấy người Biệt Phái đứng nghe thấy Ngài phỉ bác bọn Nhiệm Niệm một cách tài tình và vững chắc, khen Ngài rằng :

    --Thưa Thầy, Thầy nói đúng lắm.

  Còn bọn đối phương của Ngài xấu hổ, bưng mặt rút lui.

 

Mở  Mắt  Cho  Người  Mù

   Một buổi sáng ngày thứ bảy, Chúa Giêsu đi vòng qua mấy phố để lên Ðền thờ, cầu nguyện. Lúc tới một nơi phụ cận của Ðền thờ, Ngài và đoàn môn đệ thấy trong số những người hành khất ( ăn xin, ăn mày ) có một người rất đáng thương. Ðó là một thanh niên mù từ thuở nhỏ, từ lúc mới sinh. Thảm cảnh rõ rệt của người thanh niên bất hạnh này làm các tông đồ xúc động. Các ông nghĩ đến tin tưởng phổ cập trong dân là đau khổ có nguyên nhân luân lý, đau khổ thường là một hình phạt bởi tội. Nên các ông lại trước người thanh niên đó và trình với Chúa :

    --Thưa Thầy, tại sao y mù từ lúc mới sinh ra ? Tại tội y hay tội cha mẹ của y ?

  Nhưng Chúa biết rõ đau khổ không phải luôn luôn là hình phạt của tội nhưng còn bắt nguồn bởi ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Ngài đáp lại :

   --Chẳng phải tại y, cũng chẳng phải tại cha mẹ y đã phạm tội. Ðiều bất hạnh đó xảy đến có thể là một dịp để tỏ ra công việc của Chúa Trời. Người ta phải làm việc lúc còn ban ngày, kẻo đêm đến không còn làm gì được nữa phải không ? Phần Ta cũng thế, bao lâu ánh sáng hãy còn, Ta hãy còn làm việc Ðấng đã sai Ta. Ta là ánh sáng thế gian. Bao lâu thế gian còn, Ta còn soi sáng thế gian.

  Nói xong, Ngài nhổ xuống đất nhào một chút nước bọt với bùn và bôi lên mắt người thanh niên. Thế rồi Ngài dạy :

    --Con hãy đi rửa mắt ở suối Silôê.

  Người thanh niên theo lời Ngài dạy, lần mò tới rửa mắt ở suối đó và được xem thấy tức thì. Anh ta vui vẻ quá, vừa đi về vừa nhảy. Những người quen biết anh ta rất ngạc nhiên. Họ hỏi nhau : Thế nào ? Ðây không phải là thằng mù vẫn ngồi ăn mày ở đó ư ? Và họ bất đồng ý kiến. Có người bảo : đó chính là anh ta, người khác lại bảo : Không, đó là đứa khác giống nó. Còn anh ta, anh ta thú nhận :

    --Chính tôi đây.

  Một người bỡ ngỡ hỏi lại :

    --Thế làm thế nào mà mắt anh mở ra được ?

  Anh ta đáp giọng chắc nịch :

    --Ông mà người ta gọi là Giêsu, đã nhào bùn bôi vào mắt tôi và bảo tôi rằng : Hãy đi rửa mắt ở suối Silôê. Tôi vâng lời đến rửa mắt ở đó và tôi đã được thấy.

  Mọi người cùng hỏi :

    --Bây giờ ông ấy ở đâu ?

  Anh ta thưa :

    --Tôi không biết.

Phép lạ Chúa làm trên đây thật là đặc biệt vĩ đại, người ta đồn đi rất mau. Nên chẳng mấy chốc bọn Biệt Phái đã biết. Họ cho gọi người đến hỏi, người mù kể lại chuyện Chúa đã nhào bùn và bôi lên mắt, Chúa đã dạy anh ta đi rửa mắt ở Silôê, anh ta vâng lời đi rửa và quả đã được..v..v..

  Nghe các điều anh ta thuật lại, bọn Biệt Phái biết rõ là Chúa đã nhào bùn và chữa lành mắt chính ngày thứ bảy. Họ tức giận hết sức và hoang mang không biết phải xử trí ra sao....Rồi họ bất đồng quan điểm. Người này nói : Ông ấy không phải bởi Chúa Trời, vì ông ấy không giữ ngày lễ nghỉ ; người khác cãi lại :Nhưng một người bất lương, một người phản nghịch với Chúa Trời, đâu có làm được những phép lạ thể ấy ?..Cãi nhau chán, họ lại muốn đổ lỗi cho người mù đã được khỏi. Họ quay hỏi anh ta rằng :

    --Phần ngươi, ngươi nghĩ thế nào về người đã mở mắt cho ngươi ?

  Anh ta mạnh mẽ thưa :

    --Chắc chắn đó là một vị tiên tri.

  Tuy nhiên bọn Biệt Phái không muốn tin rằng anh ta đã bị mù từ lúc mới sinh ra, và bây giờ nhờ phép lạ mới được khỏi, nên họ gọi cha mẹ anh ta và tra hỏi :

    --Có phải đây là con ông bà mà ông bà bảo nó mù từ lúc mới sinh không ? Ông bà có biết tại sao bây giờ nó được xem thấy không ?

  Hai ông bà này biết rõ là Chúa Giêsu đã cứu con mình, nhưng lại sợ Biệt Phái, vì bọn này đã định, hễ ai nhận Ngài là KiTô, người ấy sẽ bị loại khỏi giảng đường và tước quyền công dân. Nên hai ông bà tìm cách nói quanh, ấp úng thưa rằng :

    --Chúng tôi biết thực nó là con của chúng tôi, và nó đã mù từ lúc mới đẻ. Nhưng làm thế nào bây giờ nó lại xem được, điều đó chúng tôi không hiểu. Ai đã mở mắt cho nó chúng tôi cũng không biết nữa. Vậy các ông hãy hỏi chính nó. Nó đã lớn rồi. Nó có thể nói về mình được.

  Nghe hai ông bà thưa thế, bọn Biệt Phái đỏ mặt dậm chân...nổi giận bừng bừng. Không biết làm cách nào để dìm việc lạ Ngài mới làm ở Jêrusalem nữa. Họ bàn bạc với nhau và gọi người mù vào...Họ giả bộ tươi cười nhân đức và chậm rãi nói :

    --Nào ! Hãy vì danh Chúa nói sự thật đi. Cuộc điều tra của chúng ta đã có kết quả. Bây giờ chúng ta biết rằng Giêsu chỉ là thầy lang băm, chỉ là người bất lương bất chính.

  Người mù đối lại :

    --Là lang băm hay bất lương bất chính, tôi không biết. Tôi chỉ biết trước kia tôi mù và bây giờ tôi được khỏi.

    --Thế người ấy đã làm gì để chữa anh ? Người ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?

    --Ðiều đó tôi đã nói với các ông rồi, nhưng các ông không muốn nghe. Bây giờ các ông còn muốn tôi nói lại làm gì ? Hay là các ông muốn làm môn đệ Ngài chăng ?

  Câu nói của người mù vừa đanh thép vừa pha giọng chế nhạo, làm bọn Biệt Phái cả giận. Họ lớn tiếng thóa mạ lại :

    --Ðồ khốn nạn !...Mi muốn làm môn đệ nó, mặc mi. Chúng ta đây là môn đệ của Môi Sen vị đại thánh. Chúng ta biết chắc Chúa đã phán với môi sen. Còn như người kia, chúng ta chẳng biết tung tích ở chỗ nào.

  Người mù cho là bọn họ đã nhục mạ vị của ân nhân mình, liền tức khí cãi lại :

    --A ! Lạ thật ! Chính lý ra các ông phải biết người đã mở mắt cho tôi là ai, thế mà các ông lại nói các ông không biết Ngài ở đâu mà đến ! Lạ quá thật ! Hết mọi người đều biết Ðức Chúa Trời không nghe lời của những kẻ tội lỗi, những kẻ bất lương ; trái lại, Ngài chỉ nghe lời của những kẻ thánh thiện, những người biết tôn trọng và vâng theo thánh ý Ngài. Vậy xưa nay nào có ai đã nghe thấy một người mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh không ? Rõ quả thực nếu người đó không phải bởi Ðức Chúa Trời, thì đâu có thể làm được việc lạ lùng như thế ?

  Nghe xong, bọn Biệt Phái càng tức dữ. Họ mắng và nguyền rủa người mù :

    --Mi dám dạy chúng ta ư ? Mi hoàn toàn sinh ra trong tội lỗi !

  Rồi họ cầm tay đẩy người mù ra khỏi cửa.

  Chúa đã được tin người mù bị đuổi. Ngài rất vui lòng về thái độ can đảm của anh ta, nên lúc bắt gặp, Ngài hỏi anh ta rằng :

    --Ngươi có tin Ðức Chúa Trời không ?

  Anh ta thưa :

    --Nhưng xin Thầy dạy ai là Con Ðức Chúa Trời để tôi tin.

  Chúa phán bảo :

    --Ngươi đã xem thấy Ngài ở trước mặt ngươi, Ngài là người đang nói với ngươi.

  Anh ta thưa :

    --Lạy Thầy, tôi tin.

  Và anh ta phục xuống lạy Ngài.

  Nhưng Chúa lại phán như để tỏ nỗi buồn xa xăm :

    --Ta đã đến thế gian này để xét đoán : Vì Ta nhiều người mù sẽ được xem thấy ; nhưng những kẻ xem thấy lại trở nên mù !

  Có mấy người trong bọn Biệt Phái đã đến đó để dò la Ngài, nghe thấy Ngài phán thế, hiểu Ngài có ý ám chỉ về họ, liền hỏi Ngài rằng :

    --Vậy chúng tôi đây cũng mù cả ư ?

  Chúa đáp lại :

    --Giả thử các người mù thật, các người không có lỗi. Nhưng vì các người tự phụ rằng các người xem thấy, nên tội các người còn đó.

  Bọn Biệt Phái nổi giận mắng Ngài :

    --Ông nói nhảm !...Những lời của ông là lời của người bị quỷ ám !....

  Nhưng dân chúng đứng đó và chính người mù cãi lại :

    --Những lời này không phải là lời một người bị quỷ ám. Người bị quỷ ám có thể mở mắt cho người mù ư ?....