Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 7

Cần  Ngài  Phải  Lớn  Lên
 VÀ  TÔI  PHẢI  BÉ  XUỐNG ...

   Ðang khi Chúa Giêsu ở Jêrusalem, ông Gioan Tẩy Giả vẫn tiếp tục “dội nước” ở Ainon ( Ainon gần Salim, một nơi cách thành Beisan chừng 8 cây số. Ainon trong tiếng Aramêô nghĩa là suối nước) gần Salim thuộc khu vực sông Jordan.

    Một thời gian qua, Chúa Giêsu và đoàn môn đệ cũng bỏ kinh thành, đi về nơi thôn dã xứ Giuđêa. Ở đây danh Ngài bắt đầu rạng sáng. Ngài cho phép môn đệ Ngài làm “Phép rửa” như các môn đệ ông Gioan.

   Giữa nhóm môn đệ khác Thầy, dần dần bóng tối ghen tị nổi dậy. Một người Do Thái mới được đoàn môn đệ Chúa Giêsu “đổ nước” Chàng theo óc phân bè, tìm đến thảo luận với môn đệ ông Gioan Tẩy Giả về giá trị phép rửa của ông. Cả hai bên cùng quyết liệt bênh Thầy, cuộc thảo luận khởi đầu để rồi không kết liễu. Ðoàn môn đệ ông Gioan Tẩy Giả lấy làm bực tức, đem câu chuyện về phàn nàn với ông :

    --Thưa Thầy ! Người xưa kia ở với Thầy bên bờ sông Jordan, Người mà Thầy nói là sứ giả “của Chúa” Người ấy cũng “dội nước” và thiên hạ hưởng ứng đến cùng Ngài nhiều lắm .

   Theo tính kiêu hãnh, nhóm môn đệ ông Tẩy Giả thuật chuyện lại cách phẫn nộ với danh từ “Người ấy” chứ không nói rõ tên Chúa Giêsu, và ngầm để lộ lòng ghen trong câu chót “và thiên hạ hưởng ứng đến cùng Ngài đông lắm”

  Nhưng đã quen với không khí khiêm cung thánh thiện, ông Gioan Tẩy Giả chỉ tỏ vẻ ôn tồn sung sướng và trả lời thẳng thắn cho đoàn môn đệ :

    --Anh em hãy tin tưởng rằng mọi kết quả chính đáng đều do Thiên Chúa. Anh em hẳn còn nhớ lời tôi tuyên bố “Tôi không phải là Chúa Cứu Thế, tôi chỉ là kẻ dọn đường của Ngài thôi. Tôi không thấy có lẽ gì mà phải ghen, cũng như người phù rể, không có lý gì mà ganh tị với người chú rể. Trái lại nếu thật chỗ tâm giao, người phù rể còn phải lấy làm vinh hạnh và sung sướng được ở gần chú rể và nghe chú rể ca điệu ái tình cho bạn trăm năm. Ðã hẵn Ngài lôi cuốn thiên hạ hơn tôi. Nhưng chính vì vậy mà tôi mừng. Cần Ngài phải lớn lên và tôi phải bé xuống. Ai ở trên trời xuống, Người ấy cao cả trên hết mọi người. Ai ở dưới đất nhô lên, người ấy lệ thuộc vào đất và ngôn ngữ sặc mùi đất. Ðấng ở trên trời, Ngài chỉ nói về những sự trên trời. Nhưng than ôi ! biết bao kẻ không tin theo ! Thế mà sự thực là cần phải tin theo Ngài. Vì ai tin Sứ giả của Chúa tức là tin Chúa, và Sứ nói tức là Chúa Thánh Thần nói. Vậy chúng ta nên suy nghĩ : Ðức Chúa Cha yêu Ðức Chúa Con và phó thác mọi sự trong tay Ngài. Nên ai tin Ðức Chúa Con, người ấy sẽ được sống muôn đời. Và ai không tin Ðức Chúa Con, người ấy sẽ không thấy đời sống tươi vui mà chỉ thấy cơn thịnh nộ Chúa đè nặng trên mình.”

“Cần Ngài phải lớn lên và tôi bé xuống” Khẩu hiệu này đã rạng nghĩa trong những lời ông Tẩy Giả tuyên bố ở trên. Nhận biết Chúa Giêsu là một ánh sáng, ông Tẩy Giả tìm cách vùi dập mình đi, để ánh sáng kia được sáng tỏ và một ngày kia ông gánh nổi được những hy sinh cả thể hơn.

    Mùa xuân năm ấy, ông Antipa, Tổng trấn xứ Galilêa, mới ở La Mã về. Ít lâu nay, ông mê bà Herôdiađê là cháu của Hêrôđê đại vương và là vợ Philiphê anh ông. Bà Herôdiađê đã kết nghĩa với ông Philiphê, nhưng ông đã già, kém duyên, kém chức, nên bà Herôdiađê chán ngán, coi ông như một vật thừa. Trái lại người em chồng lại trẻ trung, đẹp trai, phú quí, thích chưng diện xài to, từng ném ra nghìn vạn đồng vàng để xây điện nghỉ mát ở gần thành Jêricô. Nên bao nhiêu “yêu thương” bà đều dâng cho ông Antipa. Thời gian qua, giây ái tình được xe săn do một trường hợp. Những tin yêu thương thầm vụng bay đến tai bà vợ chính thất của ông Antipa. Trái tim đau đớn như vỡ ra trăm mảnh, bà phải mượn cớ xin về với cha mẹ ở xứ Petra. Ðược dịp tiện, ông Antipa liền tuyên bố ly dị người vợ cũ, và mời tình nhân mới về nhà, cùng nhau qua những ngày ân ái. Trong trường hợp đó đáng lý ra ông Philiphê phải phản kháng kịch liệt. Nhưng ông lại hiền lành quá, bình tĩnh viết ly thư cho người vợ bất trung !

    Là môn đệ của sự thật, ông Tẩy Giả vẫn giảng giáo cho dân trách phạt những tính hư nết xấu. Ðược tin trong triều Antipa có cuộc tình biến loạn luân, ông liền tìm đến Antipa mắng ông này trước mặt đình thần :

    --Ðó là gương xấu quá ! Ông không có quyền chiếm người vợ của anh ông !

 Nhân tiện ông Gioan Tẩy Giả còn mắng ông Antipa những điều khác nữa. Bà Herôdiađê căm giận vô cùng. Giá bây giờ giết được ông, bà cũng giết ngay, nhưng không có quyền. Ông Antipa cũng tức lắm, nhưng lại sợ. Ông là người sùng tín, ông tin rằng phạm đến tính mạng nhà tiên tri là mang họa lớn.

     Nhưng rồi bọn địch thù của ông Tẩy Giả, nhất là nhóm Biệt Phái, lợi dụng ngay thời cơ, vu cáo ông nhiều điều rất nặng. Họ thuyết cho Antipa nghe : “Tẩy Giả chỉ là một tên phản động. Ông ta nói về Chúa Cứu Thế là muốn xui dân chống lại chính quyền La Mã, phá rối trật tự và gieo nguy hại cho dân. Vậy vì sự an ninh, cần phải tống giam ngay tên phản động đó”

    Trước ông Antipa còn ngần ngừ, nhưng rồi lời vu cáo trên kia lại được bà Herôdiađê

dùng hết mánh khóe chứng thực và phóng đại ra. Nên để đẹp ý người yêu, ông đành biên thêm vào sổ tội ác một việc bất công ghê tởm nữa : Ông truyền tống ngục ông Gioan Tẩy Giả  ( Theo nhiều sử gia, ông Gioan Baotixita bị giam ở pháo đài Macheronte. Pháo đài này do Herode đại vương xây trong xứ Moab, và sau ông Antipa dùng làm yếu điểm để chống với Aretas là Tiểu vương xứ  Petra. )

     Nhưng sau việc bất công này ông Antipa cảm thấy lương tâm cắn rứt, ăn không ngon, ngủ không yên, vì ông vẫn coi ông Tẩy Giả là một vị Thánh, do vậy nhiều khi chính ông đi tìm hỏi ý kiến người tù nhân của ông....

   Còn phần ông Tẩy Giả, ông lại cảm thấy sung sướng được chịu giam trong ngục. Ông cho thế là đã thực hiện được một phần khẩu hiệu của ông :

  “CẦN  NGÀI  PHẢI  LỚN  LÊN, VÀ  TÔI  PHẢI  BÉ  XUỐNG”

Bên  Bờ  Giếng  Nước...

    Nghe tin ông Gioan Tẩy Giả bị tống ngục, và bọn Biệt Phái bắt đầu lo âu bất mãn, vì Ngài được nhiều môn đệ hơn ông Tẩy Giả, Chúa Giêsu tạm gián đoạn việc truyền giáo ở xứ Giuđêa để lui về xứ Galilêa là quê quán. Ngài biết nơi đây không khí nhẹ nhàng dễ thở, khiến hạt giống Phúc Âm  của Ngài gieo trông có cơ kết quả mỹ mãn. (Vể xứ Galilê Chúa Giêsu truyền đạo ở đó chừng một năm rưỡi, nhưng dịp đại lễ Ngài cũng lên  thành Jêrusalem )

   Theo tục lệ, từ Giuđêa đến xứ Galilêa, người Do Thái thường đi lối sông Jordan chứ không đi lối Samaria. Vì đối với họ, Samaria là con đường nhơ bẩn, sặc mùi hôi tanh của tà thần. Nguyên người xứ Samaria cũng thuộc giống nòi Do Thái, nhưng một số đông đã lai với người Assyriô từ ngày Do Thái bị đày sang Babylon. Do chỗ tạp chủng đó, phong tục xứ Samaria dần dần mất vẻ khiết tịnh, lẫn vết nhơ ngoại giáo. Người xứ Samaria lại đi ngược với quan niệm tổ tiên là dám xây đền thờ trên núi Gazirim, và hình như không cần đếm xỉa đến Ðền thánh Jẹrusalem. Vì thế nên những người Do Thái ở xứ Giuđêa và Galilêa coi họ như người ngoại bang, như những kẻ lạc đường không nên lui tới. Ðối với những người xứ Samaria cũng khinh ghét bọn Do Thái chính tông kia và tìm cách ngăn cản việc giao thông thương mại.

    Nhưng với Chúa Giêsu, Ngài không thấy cớ gì chính đáng phải tránh mặt người xứ Samaria cả. Hơn nữa đích cao siêu của Ngài là truyền đạo, đem bốn bể lại một nhà, nhận người năm châu làm con một Cha Cả. Nên Ngài đã qua xứ Samaria về xứ Galilêa.

   Xét về địa dư, Samaria là con đường gần nhất nối với xứ Giuđêa và xứ Galilêa. Xét về địa thế, Samaria tuy chưa có phong cảnh dịu dàng như xứ Galilêa nhưng đã bớt phần khô khan hơn xứ Giuđêa. Samaria có những dãy cao nguyên rộng, đi đôi với những rặng núi dài, để chảy xuống đồng bằng những con đường tha thướt. Một trong những cánh đồng nổi tiếng của xứ đó, là cánh đồng ở gần thành Sichar ( cũng gọi là Sichora ) một cánh đồng ông Giacóp tổ phụ đã trối cho ông Giuse và trong đó có giếng nước trong lành, quen gọi là “giếng Giacóp” Giếng nước này sâu 30 thước đã sống được hơn 3500 tuổi, và hiện nay còn di tích tồn tại.

    Ðã trưa.... Khí trời nóng nực, Chúa Giêsu và đoàn môn đệ tới gần thành Sichar. Ngài đi đường mệt nhọc, và ngồi nghỉ bên bờ giếng. ( Chung quanh giếng có xây chỗ để ngồi ) Còn đoàn môn đệ vào thành mua thức ăn. Một lúc có người thiếu phụ Samaria ra giếng xách nước (kín nước), đầu đội chiếc vò, tay xách cái thùng buộc giây.

 Chúa Giêsu ôn tồn hỏi :

    --Cha Ta uống nước với.

 Nhìn qua những đường tua ở gấu áo và khuôn mặt, người thiếu phụ nhận ra đó là một người Do Thái. Nàng ngạc nhiên ; ông Do Thái này không biết những chuyện giữa người Do Thái và người xứ Samaria hay sao mà lại xin nước uống ? Ông này hẳn là khát lắm mới xin. Thôi ! Cho cũng là một ân huệ. Theo đà thiện tâm tốt bụng, nàng thả thùng nước xuống múc đưa cho Chúa Giêsu, miệng lẩm bẩm :

    --Sao ông là người Do Thái mà lại xin tôi là người Samaria cho nước uống ? Người Do Thái hiện đang tuyệt giao với người Samaria kia mà !

  Chúa Giêsu nghiêm nghị :

    --Nếu con biết ơn Thiên Chúa, và biết ai xin nước uống, ắt hẳn con sẽ xin nước uống trước và Ngài sẽ cho con một thứ nước vĩnh hoạt.

  Người thiếu phụ ra vẻ tự cao :

    --Ông không có gì để kín nước, mà giếng lại sâu, thế ông lấy nước ở đâu ra mà cho tôi

Hay ông làm được phép lạ ? Tôi thiết nghĩ :ông chẳng cao cả hơn ông Giacóp là tổ phụ chúng tôi. Chính ngài đã đào giếng này cho gia đình và đoàn vật Ngài uống và đã trối cho chúng tôi.

  Chúa Giêsu tha thứ, ngắt lời, đưa câu chuyện lên cao :

    --Ai uống nước giếng này hãy còn khát và khát mãi. Nhưng ai uống nước Ta ban sẽ không khát nữa. Người ấy sẽ cảm thấy trong mình một mạch nước không bao giờ cạn, một mạch nước dâng lên tới sự sống đời đời.

  Người thiếu phụ đến kín nước ở giếng này nhiều lần và đã từng phải chịu nóng bức như rang. Giờ đây được nghe có một thứ nước lạ ; uống vào không khát, lòng cảm thấy vui, ước ao có thứ nước đó ; để ít ra khỏi phải đi ra giếng kín nước ngày hai ba bận.

    --Thưa ông ! Vậy xin ông cho tôi thứ nước đó, để tôi không khát nữa và khỏi phải khó nhọc đến kín nước ở đây.

  Chúa Giêsu mỉm cười, đẩy câu chuyện đi xa hơn nấc nữa :

    --Con hãy đi gọi chồng con và dẫn đến đây

  Người thiếu phụ đỏ mặt :

    --Tôi không có chồng.

  Nàng cố giữ vẻ tự nhiên, nhưng Chúa Giêsu đã thấu suốt sự thật, đọc tắt qua những thiên bí mật của đời nàng :

    --Ðúng thế ! Con không có chồng, vì con đã qua năm lần kết bạn, và người hiện đang ở với con, cũng không phải là chồng con. Về chỗ đó quả con đã nói theo sự thật.

  Thấy đời tư mình bị bại lộ, người thiếu phụ hổ ngươi. Nàng lơ đảng nhìn bệ xây bên bờ giếng và nói với Chúa Giêsu :

    --Thưa ông ! Tôi tin chắc ông là một tiên tri.

  Rồi nàng nói lảng sang chuyện khác, tay chỉ về phía núi Garizim :

    --Thưa ông. Tổ phụ chúng tôi vẫn thờ phượng trên núi cao này. Thế mà người Do Thái lại dám quả quyết chỉ được thờ phượng Chúa ở Jêrusalem thôi.

  Thấy trong lòng người thiếu phụ đã hiện rõ niềm khiêm cung,xen lẫn với những tư tưởng tôn giáo. Chúa Giêsu trịnh trọng tuyên ngôn :

    --Hỡi người thiếu phụ hãy tin Ta. Ðã gần đến giờ người ta không thờ phượng Ðức Chúa Cha ở trên núi này hay ở Jêrusalem nữa. Giờ đó là lúc những linh hồn chân thành giữ đạo, phải thờ phượng Ðức Chúa Cha theo tinh thần và sự thật, vì Ðức Chúa Cha chỉ ưng thuận những người chân thành như thế. Thiên Chúa thiêng liêng nên những người thờ phượng Thiên Chúa cũng phải thờ phượng Người theo tinh thần và sự thật.

  Người thiếu phụ càng tỏ vẻ khiêm cung, suy nghĩ, Chúa Giêsu giảng rõ rệt hơn :

    --Các con thờ phượng Thiên Chúa mà các con không biết rõ Người. Còn chúng ta người Do Thái, chúng ta biết rõ Ðấng chúng ta thờ. Vì vậy mà ơn cứu rỗi sẽ bởi người Do Thái xuất hiện.

  Người thiếu phụ chưa hiểu hết ý nghĩa ẩn trong lời Chúa. Nàng mới nhận Ngài là một tiên tri, nàng nghĩ, âu Ngài cũng trông đợi Chúa Cứu Thế đến như bao người khác. Nàng thân mật :

    --Tôi biết Chúa Cứu Thế sẽ chỉ dạy chúng ta mọi sự .

  Trước cử chỉ tín nhiệm đơn sơ của người thiếu phụ, Chúa không nghi ngại nữa Ngài phán :

    --Chúa Cứu Thế chính là Ta đang nói với con.

   Cùng lúc ấy đoàn môn đệ trở về.

 Mấy tiếng “Chúa Cứu Thế chính là Ta” đã làm đảo lộn tâm hồn người thiếu phụ. Nàng nhìn Chúa Giêsu với cả một niềm kính mến. Nàng vội chạy vào thành, để quên chiếc vò bên bờ giếng, gặp ai cũng kêu to : “Các ông hãy ra xem một người biết cả đời dĩ vãng bí mật của tôi. Các ông hãy xem hay người đó chính là Chúa Cứu Thế và nàng nói cách thành thực đến nỗi nhiều người trong thành chạy ra xem...

  Thấy Chúa Giêsu nói chuyện với một thiếu phụ, các môn đệ ngạc nhiên. Nhưng đều thủ lễ không ai dám hỏi Chúa “ Thầy cần gì không” hay “Thầy truyền gì cho người thiếu phụ

Các ông chỉ mở bao và mời Chúa : “ Xin Thầy dùng chút của ăn “

  Nhưng Chúa Giêsu tuyên ngôn như người ở thế giới khác lại :

    --Cám ơn ! Ta ăn thứ đồ ăn mà các con không biết.

  Môn đệ nhìn nhau ; hay có ai ( hoặc dễ chừng người thiếu phụ cũng nên) đã mang đồ ăn cho Ngài.  Thấy vậy, Chúa nói rõ thêm :

    --Của ăn của Ta là hành động theo ý Ðấng đã sai Ta, là hoàn tất công việc của Người

Nhưng những người thành Sichar đã tuôn đến. Họ bị kích thích nhiều bởi câu nói của người thiếu phụ “Người biết cả cuộc đời dĩ vãng bí mật của tôi” Tâm hồn họ tin tưởng, phơi phới những hoa hy vọng tốt đẹp.

  Chúa Giêsu âu yếm nhìn đoàn môn đệ, và chỉ tay vào cánh đồng Sichar, nói với các ông một ẩn dụ :

    Người ta nói còn bốn tháng nữa mới đến mùa. Nhưng các con hãy nhìn cánh đồng đây, nó đã trắng phau ( Chúa Giêsu không nói “Lúa đã chín vàng” vì xứ Palestine thiếu nước mưa, nên lúa thường chín trắng ) báo hiệu mùa sắp đến. Phải rồi ! Mùa gặt linh hồn đang đợi các con.

Thợ gặt sẽ được thưởng, mà phần thưởng đó là sự sống bất diệt ở bên kia. Người gieo giống cũng như người gặt, cả hai đều vui như nhau. Lời tục ngữ “Có người gieo, có kẻ gặt” là thế đó. Nay ta sai các con đi gặt những cánh đồng các con chưa gieo. Biết bao người đã tốn công gieo rắc, mà các con sẽ được dự phần”.

   Bài ẩn dụ bị gián đoạn, vì số người ở Sichar đến mỗi lúc mỗi đông, không khí mất phần yên lặng. Họ cố nài Chúa ở lại Sichar, và Chúa cũng ở lại hai ngày. Quãng thời gian đó, ai ai được nghe và xem Chúa, cũng đều khâm phục Ngài.

Người thiếu phụ đã gặp Chúa bên bờ giếng nước, lấy làm hãnh diện lắm. Nhưng dân thành Sichar lại nói với nàng :

    --Bây giờ chúng ta tin không phải vì lời nói của chị, nhưng chính vì chúng ta đã được nghe Ngài dạy bảo và chúng ta biết rõ Ngài là vị Cứu tinh thế giới.

Phép  Lạ  Các  Nơi..

MỘT  CUỘC  TRUYỀN  GIÁO  ÐẦY  HỨA  HẸN

  Cách hai ngày, bỏ thành Sichar, Chúa Giêsu lên đường về xứ Galilêa.  Ở đây thanh danh Ngài đã lan rất rộng. Người ta kính phục Ngài, ước vọng được nhận Ngài là con xứ sở. Nên người ta nô nức đi đón Ngài, nhất là những người đã đi thành Jêrusalem dự lễ Vượt qua, và đã được chứng kiến những việc vĩ đại của Ngài, như việc Ngài vung roi đuổi tụi con buôn ra ngoài Ðền thánh.

   Nhưng trên đường về Galilêa, Ngài không đến Nazareth ngay, vì mấy tuần trước đây Ngài hãy còn ở địa vị một người thường như bao người khác, sinh sống với nghề đục nghề cưa. Nên nếu về quê ngay, thiên hạ sẽ hoang mang bỡ ngỡ, với nữa Ngài cũng biết lắm, thường luật, chẳng mấy tiên tri được trọng kính tại quê hương. Do vậy Ngài quyết trở về thành Cana nơi mới ghi dấu Ngài làm phép mầu cho nước trở lên rượu.

                                                                    ***

   Cũng ngày hôm ấy, một viên sĩ quan của Hêrôđê đến Cana. Ông trú ở Caphanaum

một thành cách Cana chừng 7 đặm. Ông buồn vì con trai ông bị bệnh liệt, các thầy thuốc đã chê. Nên vừa được tin Chúa Giêsu trở về bản quán, ông liền đi tìm Ngài, xin Ngài quá bộ xuống Caphanaum cứu chữa, vì ông tin tưởng Ngài có nhiệm pháp muốn sao được vậy. Nhưng Chúa trả lời :

    --Nếu không thấy phép lạ, ông không tin ư ?

  Là người thấu hiểu cả cõi lòng thầm kín. Chúa biết viên sĩ quan có một quan niệm nước đôi ; nếu con ông khỏi, ông sẽ tin, nhưng trái lại, nếu con ông chết, ông cũng sẵn sàng không tin. Vậy Chúa nói xa cho ông hiểu : Ông đã lầm, vì với Chúa, ông phải tin vững chắc.  Nhưng thời gian gấp lắm rồi. Con ông bệnh liệt mỗi lúc mỗi nguy. Ông thương con muốn điên lên và ông kêu xin tha thiết :

    --Xin Ngài chiếu cố xuống kẻo con tôi chết !

  Kẻo con tôi chết. Câu nói đó làm Chúa động tình thương. Ngài phán :

    --Không. Ông cứ an tâm, Ta không cần phải xuống. Con ông đã lành mạnh rồi.

  Con ông đã lành mạnh rồi. Lời Chúa phán làm cho viên sĩ quan xúc động đến rơi nước mắt, xúc động vì mừng. Ông muốn về ngay, nhưng đã muộn. Ông phải lưu lại ở Cana để những người tùy tùng và đoàn ngựa nghỉ lấy sức....

  Ngày hôm sau ông hớn hở trở về Caphanaum. Vừa xuống khỏi một trái đồi, ông đã gặp bọn người nhà ra đón báo tin :

    --Bẩm ông ! Cậu ấm đã khỏe mạnh !  Ông sốt sắng hỏi :

    --Nó khỏi vào giờ nào ?

    --Dạ thưa ông ! Hôm qua khoảng một giờ trưa, cơn sốt rét đột nhiên cất hẳn và cậu khỏe lại như thường..

   Thì ra đó chính là giờ Chúa Giêsu nói với ông : “Con ông đã lành mạnh rồi”...

 Ông hết sức vui. Ðến sau ông và cả gia đình cùng tin phục Chúa.  Ðó là phép lạ thứ hai Chúa làm ở Galilêa.

    Sau đó Chúa Giêsu bắt đầu truyền giáo, Ngài giảng thuyết trong các hội trường và những nơi có đông người tụ họp. Ngài báo cho dân một tin vui, là thời gian đã tới, và nước Trời đã gần. Thiên Chúa sẽ chiếm lĩnh thế gian và lập ở đó một Nước Mới.

   Tuy nhiên Chúa chư nói rõ rệt về Nước Mới này. Ngài chỉ vạch một phương tiện gia nhập nước đó thôi, Ngài phán : “Các người hãy ăn năn hối lỗi và cải tân đời sống”

  Uy danh Ngài đã lan khắp mọi nơi. Nên người ta từ bốn phương tuôn đến nghe Ngài giảng. Ngài giảng thuyết có vẻ tân kỳ. Không theo lối các luật sĩ của bọn Biệt Phái, là trưng diễn từng chương dài sách Luật, mà không đi đến đâu cả. Ngài thích nghi với trình độ của dân. Ngài nêu từ vấn đề thiết thực và diễn giải khúc chiết minh quang, rồi thu gọn lại thành từng câu vắn, có khi là một tiếng phóng thẳng vào cõi lòng, có khi là một tỷ dụ nhặt trong công việc hằng ngày. Nên dân chúng ưa nghe Ngài lắm và thì thào với nhau : “Ngài giảng thuyết như người có quyền lực, khác hẳn với những luật sĩ của chúng ta.

     Sau đó Ngài trở về Nazareth. Những buổi sống giữa trời đã phủ trên trán Ngài một sắc nâu tươi....Hôm nay là ngày thứ Bảy, tức là ngày lễ bái. Dân chúng đến nhà hội đường rất đông, Ngài cũng đến như đã quen và lần này có cả thân mẫu nữa. Giữa buổi lễ, xong bài Thánh Vịnh và bài bình luận, đến bài sách Tiên tri. Người phục vụ đến gần (Chazzan), đưa ngài lên giảng đàn và trao cho Ngài cuốn sách Tiên tri cuộn chặt trong một trục gỗ. Ngài mở ra bắt gặp đoạn ông Tiên tri Isaia rằng :

    “Thần khí Chúa ngự trong Ta. Người đã phong chức Ta đi giảng cho dân nghèo, cứu chữa những con tim bệnh, cởi ách cho tù nhân, khai quang cho những kẻ mù, cứu giúp những người bị bách hại và báo cáo một năm Thánh ân của Thiên Chúa”

  Ngài cuộn sách lại, trao cho người phục vụ và ngồi xuống.

 Cả nhà hội đường đều im lặng, mọi con mắt nhìn thẳng vào Ngài. Ai đều chờ mong Ngài nói tiếp ; Ngài diễn giải lời sách Isaia và để rơi từ Giảng đàn xuống những tiếng :

    “Ngày hôm nay lời tiên tri kia đã được ứng nghiệm. Các người thấy Ta đi khắp nơi giảng Phúc Âm và làm phép lạ. Ðó là vì Ta làm theo ông Isaia đã nói trước. Lời tiên tri của ông thực hiện ở nơi Ta”

   Có tiếng xì xào :

    --Ngài chính là Ðấng ông Isaia đã nói trước ư ? Không nhẽ!...

  Nhưng lời Ngài giảng có uy lực lạ lùng, khiến cử tọa kính phục suy tôn...Tuy nhiên, Ngài không muốn ở lại Nazareth lâu hơn nữa. Ngài ước mong chóng thấy Caphanaum, một thành phố bên bờ biển Tibêrát.

Một  Cơ  Sở  Truyền  Giáo

THÀNH  CAPHANAUM....

    Chúa Giêsu xuống thành Caphanaum, một thị trấn giáp miền Neptali Giabulon nằm hiên ngang trên ven bờ hồ Tibêrát. ( Ðúng như lời tiên tri Isaia nói trước rằng : “Một dân ở miền này đang ngồi trong bóng tối, được xem thấy ánh đại quang. Ánh đại quang mọc lên để soi sáng những kẻ ngồi trong bóng mờ của sự chết )

     Tibêrát. Trong xứ Galilêa, có một hồ tuyệt đẹp, vào số những hồ đẹp nhất trên thế giới, tục danh là hồ Tibêrát ( Tiberiade ) Xưa kia người Hibalai ( Hebreux ) gọi hồ này là

Chinereth nghĩa là “Phong cầm” vì nó giống như hình cây đàn. Ngày nay họ lại gọi là

Generazerth nghĩa là “Lưu vực công tôn”..

    Là miệng núi lửa đã tắt từ lâu, hồ này dài 20 cây số rộng 11 cây số, thấp hơn bình diện Ðịa Trung Hải khoảng 90 thước. Chung quanh hồ là vách đáo lởm chởm. Lòng hồ là bãi bằng, chứa trăm thứ thảo mộc khác nhau. Hồ này là nguồn thịnh vượng của xứ sở

  Theo sử gia Joseph Flavius, cây hạch đào là một thứ cây thuộc khí hậu miền hàn đạo, ở đây mọc rất uy vệ xanh tươi. Cây chà là cũng chịu nặng những quả như ở miền nhiệt đới. Bên cạnh hai cây này có cây nho, cây vã, cây dầu, là những thứ cây của miền ôn đạo. Hình như Tạo Hóa muốn đảo lộn luật lệ thiên nhiên, để tập trung ở lại đây những gì quý lạ và mâu thuẫn. Ở đây bốn mùa tranh chỗ nhau, thi nhau gây ảnh hưởng. Những trái nho và trái vã luôn luôn chín trong sáu tháng, những cây khác thì quả có quanh năm.

   Caphanaum quả nức tiếng là nơi phồn thịnh, phố rộng người nhiều, thương mại và giao thông đều thuận tiện. Quả thật Chúa Giêsu đã khéo chọn thành này để lập một cơ sở truyền giáo, ngõ hầu tỏa ảnh hưởng ra chung quanh.

   Một ngày thứ Bảy, đang lúc Chúa giải thích luật cho dân trong một hội đường, bỗng có tiếng rú lên rùng rợn. Ðó là tiếng một người bị quỷ ám. Người đó kêu la :

    --Hỡi Giêsu thành Nazareth ! Ông đến làm gì trong khu vực của chúng tôi ? Ông muốn ức nhục chúng tôi ư ? Ông là ai chúng tôi biết lắm rồi ? Ông là Thánh Tử của Chúa !

    Nghe thấy thế, dân chúng hoảng sợ, nhưng Chúa Giêsu bình thản như không. Ngài phán quở ma quỷ : “Mi phải im ngay” Và hắn liền im ngay. Ngài lại truyền lệnh :

    --Mi hãy tức tốc ra khỏi người này.

   Thoáng một cái, người ta thấy kẻ bị quỷ ám ngã lăn xuống đất, giẫy giụa giật gân, kêu la ầm ỉ. Nhưng rồi lại yên ngay và mặt mũi tươi cười, chỗi dậy thân thể không hề bị xây sát.   Ðó là cách ma quỷ hành hình người ta trước khi phải buông tha cái mồi của nó.

   Thấy phép lạ đó, tất cả dân chúng đều kinh ngạc nhưng vui sướng. Họ thì thào với nhau : Người này quả có một uy lực lạ ; Ngài chế ngự cả quỷ dữ và bắt chúng phải tùng phục Ngài..... Mấy ngày sau, tin phép lạ đó đã đồn lừng khắp cả xứ Galilêa. 

    Ra khỏi hội đường Chúa Giêsu cùng các ông Anrê, Giacôbê, Gioan đến nhà nhạc mẫu của ông Phêrô. Ðến nơi thấy bà đang sốt rét nặng, các ông Phêrô, Anrê xin Chúa chữa.

Ngài lại gần giường, cầm tay dắt bà ấy. Vừa động tới tay Chúa, bà liền khỏi tức thì, và vui vẻ đi dọn bữa.

    Chiều đã muộn, mặt trời đã khuất, người ta còn tới nhà ông Phêrô rất đông. Người ta đưa đến cả một số bệnh nhân và những người bị quỷ ám. Người ta chen chúc nhau ở ngoài cổng. Chúa phải mở một lối đi ra đón bệnh nhân. Chúa để tay trên họ là họ được lành cả. Ở đây thật đã ứng nghiệm lời ông Isaia nói tiên tri về Chúa Cứu Thế : “Người đã gánh lấy mọi bệnh tật của chúng tôi”. Chúa cũng chữa cả những kẻ bị quỷ ám nữa. Ngài không muốn để ma quỷ kêu la lên rằng : Người là Con Thiên Chúa. Vì Ngài biết rằng người ta không phải tin vì lời ma quỷ làm chứng, nhưng phải tin vì lời Chúa đã phán thôi.

    Ngày hôm sau, vừa tảng sáng, Chúa yên lặng chỗi dậy và đi tìm một nơi tĩnh mịch xa xa bên bờ hồ để nguyện gẫm. Những người thành Caphanaum nhiệt mộ những việc Chúa làm hôm trước, từ sáng sớm họ đã đến nhà ông Phêrô để gặp Chúa. Nhưng Chúa đã đi. Không thấy Chúa ở nhà, họ quay đi tìm Ngài mọi ngã và bắt ông Phêrô phải dẫn đạo....Chẳng mấy chốc họ đã tìm thấy Chúa...Họ vui sướng quá đánh bạo thưa với Ngài:

    --Bẩm Thầy ! Hết mọi người đi tìm Thầy.

   Rồi họ vây chung quanh không muốn rời Ngài nữa. Nhưng Chúa bảo họ rằng :

    Chúng ta hãy tạm gạt cảm tình ra một bên và theo chính lý một tí. Các con biết, cần Ta phải đi và đưa tin lành cho nơi khác nữa, vì nước Ðức Chúa Trời đã gần, mà Ta đây có nhiệm vụ phải tuyên giảng nước đó. Vậy chúng ta hãy cùng nhau đi vào các làng quanh đây. Dân chúng lại để Chúa tư do và Ngài bắt đầu chu hành khắp cả xứ. Ðâu đâu Ngài cũng đưa tin vui là Phúc Âm của Ngài. Ngài ham giảng và các ngày thứ bảy, Ngài thích nói trong các giảng đường. Trên đường truyền giáo, Ngài cũng chữa các bệnh nhân và trừ quỷ. Cứ thế, mỗi ngày giảng xong, Ngài lại trở về Caphanaum, trụ sở của Ngài...

Một  Mẻ  Cá  Lạ

CÁC  ÔNG  BỎ  THUYỀN  GÁC  LƯỚI  RA  ÐI ...

Chúa Giêsu tiếp tục đi giảng khắp thành xứ Galilêa...Vào một buổi sáng kia, Chúa lần theo bờ hồ về xứ Bétsai là quê của ông Simôn và Anrê.

    Gần bờ hồ lúc ấy có hai chiếc thuyền. Một chiếc có ông Phêrô và Anrê đang giặt lưới

một chiếc nữa có ông Giacôbê, Gioan và thân phụ của hai ông là ông Giêbêđê đang vá lưới với mấy người vá thuê.

   Dân miền này đã từng được nghe Chúa giảng, nên biết tin Ngài đến họ kéo ra rất đông, ai ai cũng chen cho được gần Ngài. Thấy vậy, Chúa đi thẳng xuống thuyền ông Phêrô và dạy ông chống thuyền xa xa một tí. Ông phêrô và Anrê vâng lời mau mắn chống thuyền ra xa liệu vừa Chúa nói cho dân nghe được mà không mệt nhọc.

Chúa ngồi xuống mạn thuyền, khởi sự giảng cho dân chúng ngồi nghe trên bãi cát.

   Giảng xong Chúa dạy ông Phêrô rằng :

    --Con hãy chèo ra khơi mà thả lưới.

  Nghe lệnh, ông Phêrô vội thưa với Ngài rằng :

    --Thưa Thầy ! Thế nào cơ ?... Chúng con đã khó nhọc thâu đêm mà không được gì....

 nhưng thôi....Vì vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới.

    Mọi lần ra khơi, ông Phêrô cảm thấy tự nhiên phấn khởi, nhưng lần này sức thúc đẩy tự nhiên đã tiêu ma. Vì quả thực đêm qua, ông khó nhọc vất vả mất cả ngủ nghê mà không ăn thua gì hết. Những con cá trắng phau, và đuôi dài cũng như những con cá nâu và to béo chẳng thấy đâu cả. Quả là mùa cá mà không có cá ! Ông cảm thấy nặng nề chán nản. Ông nghĩ rồi đây, lại đi không về rồi thêm một mẻ nữa ! Tuy nhiên, vẫn là người mau mắn và mến phục Thầy vô hạn, nên ông cũng vâng theo. Ông cầm chiếc chèo ra hiệu cho người anh cùng ra khơi...Con thuyền no gió, một lát đã ra xa xa, và hai ông cùng thả lưới....

    Một giờ sau lưới động mạnh, những chiếc phao bắt đầu xê dịch lại và muốn như chúi xuống mãi. Hai ông hiểu lần này đã không vất lưới uổng công. Hai ông đứng thủ thế trên thuyền và kéo lưới. Thì lạ lùng thay ! Từng bao con cá đã mắc lưới, cá nhiều vô số kể, làm các ông kéo không nổi, và lưới bắt đầu rách một hai nơi. Khiến hai ông một mặt phải hết sức tiến vào bờ, một mặt phải la lên, gọi hối ông Giacôbê và Gioan đem thuyền đến giúp.....

    Bốn ông hì hục mãi mới kéo được lưới lên khỏi nước và gỡ cá chất đầy vào hai thuyền, tới nỗi tí nữa thuyền bị đắm.  Thuyền tới bãi, các ông xếp cá thành từng đống to,

người ta đến xem đông nghẹt cả bãi.

    Ðó quả thật là một mẻ lưới lạ, làm mọi ngư phủ đều phải ngạc nhiên. Nhất là đối với ông Phêrô, mẻ cá này đã kích động linh hồn ông mạnh quá, làm ông không cầm mình được. Ông tiến lại gần Chúa, sấp mình xuống dưới chân Ngài và ấp úng : “Lạy...Chúa..

xin hãy xa tôi, vì tôi là người tội lỗi !”

   Nhưng Chúa mỉm cười nhân ái và tưởng lệ ông :

    --Hỡi Simôn ! Con chớ sợ, Cha đây ! Con phải vui mới hợp lý chứ ! Từ nay con sẽ không còn phải là đánh cá nữa, mà sẽ là người đánh lưới các linh hồn. Simôn, con hãy theo Cha. Thay vì những con cá đẹp kia, con sẽ có những con cá đẹp hơn nữa là các linh hồn.

.  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

   Sau mẻ các lạ này, các môn đệ vô cùng cảm động. Từ lòng thiết tha yêu mến Chúa, các ông đã quyết bỏ mọi sự đi theo Ngài. Các ông kéo thuyền lên bãi, từ biệt ông già Giêbêđê và theo Chúa đi truyền giáo .

Rỡ  Mái  Nhà

ÐEM  BỆNH  NHÂN  XUỐNG ...

    Sau một cuộc giáo tuần, Chúa Giêsu trở về Caphanaum tìm đến nhà yên tĩnh của một người bạn cho dễ việc giảng giáo.

    Ðược tin Chúa trở về, dân chúng tuôn đến rất đông, trong nhà ngoài sân và cả ngoài cổng đâu đâu cũng chật người. Chúa lại nahn dịp giảng cho dân. Trong số thính giả này có cả Biệt Phái nữa, từ đảng trưởng luật sĩ cho đến giảng viên. Với uy thế họ đã lọt vào trong nhà. Họ đến đây cốt dể dò la bắt bẻ Chúa hơn là để thụ giáo. Họ còn thám thính.

Chúa hành động ở đâu, họ có mặt ở đấy. Bên ngoài thì họ lịch sự tử tế, nhưng bên trong họ mưu đồ ám hại.... Nhưng mặc, Chúa cứ  đường hoàng giảng cho dân.

    Trái lại về phía dân, người ta mến phục Chúa lắm và mọi người đều tin Chúa có tài làm phép lạ. Hôm ấy dân đem đến một người bị bại liệt, do 4 người khiêng. Người ta hết

sức mở lối đưa bệnh nhân đặt trước mặt Chúa, nhưng dân đông quá không chen vào được. Người ta liền lập kế, rỡ mái nhà đem bệnh nhân xuống. ( Trong xứ Palestine, nhiều nhà làm theo lối mái bằng, bằng những xà gỗ, phía trên trải gạch vữa và thứ đất sét giống như tam hợp của ta. Thứ mái đó năng được tưới nước mới bền lâu và mát trong nhà.)  Vậy số người trèo lên mái rỡ đất và xà gỗ, vừa đủ thả một chiếc giường của bệnh nhân xuống. Những đất vữa và gạch rơi xuống tứ tung, làm Chúa phải gián đoạn bài giảng. Thấy thế, nhiều người thính giả tức tối khó chịu kêu la. Nhưng gạch vữa vẫ rơi và dần dần một người tê bại nằm trong giường được thả xuống trước mặt Chúa.

    Thấy lòng dân tin tưởng vào Ngài như vậy. Chúa cảm động lắm. Lại thấy cặp mắt người bệnh nhân nhìn thẳng vào mặt Chúa một cách thiết tình như van lơn cầu khẩn.

Ngài liền phán với bệnh nhân rằng :

    --Hỡi con ! Ta sẽ tha tội cho con.

  Nghe lời đó, dân chúng vẫn yên lặng, và nét mặt của bệnh nhân thoáng hiện một hy vọng. Nhưng Biệt Phái và Luật sĩ khó chịu lắm. Họ không nói gì, nhưng trong bụng họ lại hạch lại rằng : “Ông này nói gì vậy ? Ông muốn lộng ngôn ư ? Ở thế trần này, ai tha tội được, ngoại trừ có Thiên Chúa ?”

   Nhưng Chúa Giêsu đọc được tư tưởng kín nhiệm của họ và Ngài nói :

    --Tại sao các người lại phản đối Ta trong thâm tâm như thế ? Trong hai cách nói “Ta tha tội cho con” và “Con hãy chỗi dậy vác chõng mà về” cách nào dễ hơn ? Nhưng thôi,

Ta chỉ nói thế cốt để các người biết “Con Người” ở dưới đất có quyền tha tội...( Thực ra đối với bệnh nhân “ Hãy chỗi dậy vác chõng mà về” ít tự nhiên hơn câu “Ta tha tội cho con” vì qua câu sau này, bệnh nhân dễ hiểu mình hơn (hiểu gián tiếp) sẽ được cứu thoát.)

  Rồi Ngài quay lại bệnh nhân nói rằng :

    --“Hỡi con ! Con hãy vác chõng mà về.”

   Ý Chúa muốn nói : Cả hai việc (là việc tha tội và làm phép lạ) cũng khó như nhau, vì cả hai cùng đòi phép toàn năng của Thiên Chúa. Tuy nhiên theo chính lý và nguyên ủy bệnh nạn đã do tội lỗi mà sinh ra. Nói cách khác, bệnh nạn là kết quả, mà tội là căn nguyên. Vật cất bệnh căn tức là chữa bệnh tận gốc, còn khó hơn chữa bệnh tật. Dầu vậy, đối với Chúa. Chúa coi việc trước dễ hơn việc sau, vì đó là chính sứ mệnh thứ nhất của Chúa. Nhưng thôi bây giờ đây (Chúa nói cho Biệt Phái) để người ta biết. Ta cũng có quyền chữa cả bệnh tật nữa, kẻo những kẻ không muốn hiểu lại hiểu sai và thêm mù quáng, thì Ta truyền cho bệnh nhân “Con hãy chỗi dậy vác chõng mà về”

    Chúa ngụ ý như thế nhưng Biệt Phái không hiểu ra. Trái lại, dân chúng và nhất là những người tê bại đã hiểu một cách thiết thực và cụ thể lắm. Nghe phán xong, bệnh nhân đã thấy một sự khác lạ trong mình. Hắn nhổm dậy vui vẻ trước mặt mọi người đang bỡ ngỡ, và mau lẹ cuốn chiếu vác chõng đi ra, miệng tung hô uy quyền Thiên Chúa. Dân chúng cùng đổ xô ra xem...và ca ngợi Chúa. Họ bảo nhau “Chúng ta quả chưa được thấy phép lạ như thế bao giờ”

    Giữa lúc đó, Chúa cũng nhân dịp đi ra, tiến về ngã bờ hồ  êm mát. Duy còn chưng hửng lại tụi Biệt Phái. Họ ngơ ngác nhìn nhau và có người còn nói vớ vẩn : “Kỳ thật !

Không hiểu “Ông này” là ai mà lại xưng mình là “Con Người” như thế ? !”

Từ  Tiếng  Gọi  “Hãy  Theo  Ta”

CHO  ÐẾN  BÀN  TIỆC  VÀ  NHỮNG  CÂU  NÓI  RẤT  Ý  NGHĨA.....

     Trong Ðế quốc La Mã, thành Caphanaum là một thương cảng vĩ đại và cũng là nơi thu thuế, thu thuế hàng và nhất là thuế cá ở hồ Tibêrát tải đi các nơi. Cũng như ở khắp mọi nước, bọn thu thuế ở đây thường đòi nặng quá số ấn định, nên dân chúng ghét và thường tặng cho họ những tên không đẹp, như là “tụi gấu dữ, tụi nội công, tụi vô nhân đạo”

    Trong số những người thu thuế ở Caphanaum hôm ấy, có một người, y phục và cử chỉ cũng giống như các người khác. Tên là Lêvi (ông cũng có tên là Mathêu, con ông Alphêô) đã được Chúa gọi làm môn đệ.

    Hôm ấy sau khi chữa người tê bại. Chúa Giêsu xuống biển hồ rồi trở lại Caphanaum,

Thấy ông Lêvi ra đón bọn thương khách, để thu thuế những hàng chở từ Ðamas tới. Chúa gọi ông rằng :

    --Lêvi ! Hãy theo Ta.

   Lời Chúa ngọt ngào có một mãnh lực bí nhiệm khiến ông Lêvi xếp sổ sách và theo Ngài. Cái nhiệm lực đó, có lẽ một phần đã được chuẩn bị trước bằng những phép lạ Chúa làm, như phép lạ chữa người tê liệt chẳng hạn, và một phần khác, có lẽ do dáng điệu và cử chỉ của Chúa tỏ ra lúc đó (theo ý kiến Thánh Giêrônimô) Vì những cử chỉ và dáng điệu nơi Ngôi Hai Thiên Chúa có thể có một sức hấp dẫn mạnh hơn sức nam châm hút sắt. Do vậy ông Lêvi đã đứng dậy và theo Ngài.

    Nhưng đã theo vậy, mà còn phải tỏ ra cách nào biết ơn mới thỏa, ông nghĩ thế...Và ông đã tìm ra được một cách...Ông quyết định sẽ đặt một bữa tiệc tặng Ngài.

  Và chiều đến, quả ông đã dọn một tiệc thịnh soạn. Ông mời Chúa với các môn đệ Ngài và một số đông những người quen biết, trong đó có nhóm thương chính và cả mấy người ít có thanh danh mà dân quen gọi là người tội lỗi.

   Ðó là một bữa tiệc ý nghĩa. Về phía ông Lêvi, ông dọn tiệc để tặng Chúa và các môn đệ của Chúa  mà ông mới được hạnh phúc nhận làm anh em, đồng thời cũng để từ biệt những bạn hữu cũ. Về phần Chúa, Chúa đến dự tiệc để hợp vui cùng ông và cũng để có dịp giảng giáo, cứu chữa kẻ tội nhân. Nhưng đám Biệt Phái không muốn hiểu như thế. Sẵn lòng ghen ghét, họ đến dù không được mời, họ đến để tìm dịp bắt bẻ Chúa và làm mất uy thế của Ngài. Ðến nơi, họ thấy mọi người đều theo Chúa. Máu tức và ghen tị của họ vận lên, họ chỉ trích ngay rằng :

    --Ô, kỳ thật ! Ông này khoe mình là Người của Chúa mà lại ngồi ăn với bọn hạ lưu như vậy ư ? Ô, ông này làm nghề tiên tri như thế đấy !..

  Cũng chưa thỏa, họ còn gọi mấy người môn đệ đi ngoài đi ngoài sân và trách nữa :

    --Các anh làm gì đó ? Các anh dám cả gan cùng với Thầy các anh đến đây ăn uống với tụi thương chính và tội nhân ư ?

  Họ cố nói to cho Chúa ngồi xa cũng nghe nữa. Và quả Chúa đã nghe thấy thật, Ngài đứng dậy bênh đỡ cho môn đệ và nói với họ :

    --Không phải những người lành mạnh cần nhờ Thầy thuốc mà chính là những bệnh nhân. Cũng một lẽ ấy, Ta không đến để hoán cải kẻ lành, mà chính là để cải biến người tội lỗi.

    Rồi Ngài đẩy cuộc tranh luận đi xa hơn :

    --Xưa kia tiên tri Hôsê có lời rằng : “Ta muốn lòng khoan hậu hơn của Lễ” Lời đó nghĩa là gì các người hiểu chứ ? Lời đó có nghĩa như sau đây : Của lễ trên bàn thờ là quý thật, nhưng tình khoan dung nhân hậu còn quý hơn. Chính đức bác ái mới là cái hồn của việc phụng sự Chúa. Sự hiền từ của người ta đối với kẻ có tội còn đẹp ý Chúa hơn những việc giữ lễ nghi cách tỉ mỉ mà kiêu căng, coi khinh nhữ kẻ không làm như mình.

    Những lời đó đáng cho Biệt Phái suy nghĩ lắm. Họ là những người khoe mình nhân đức thánh thiện, nhưng thực ra họ chỉ có cái vỏ nhân đức thánh thiện mà thôi. Họ giữ tỉ mỉ mọi hình thức bên ngoài của một người nhân đức, nhưng lòng họ vẫn xa Chúa, kém đức thương yêu, hay chỉ trích người khác, và còn gọi những người không giống họ là tội lỗi nữa. Tâm hồn họ thực là khô rỗng, vì đã bị những con mọt kiêu hãnh đục khoét tứ tung. Trái lại những người mà họ cho là tội lỗi, vị tất đã tội lỗi như họ, và giả như có đích thật là tội lỗi nữa, thì lớp người đó chỉ đáng thương chứ đâu đáng ghét và đáng bỏ rơi.. Nên Chúa bảo cho họ hay : Chúa đến trước nhất là để cứu những người bị coi như tội nhân và bị bỏ rơi kia (trong số đó có ông Lêvi và chúng bạn của ông chẳng hạn) chứ không phải đến để cứu những người kiêu căng cậy mình có nhân đức mà tựu trung không có nhân đức nào cả, như Biệt Phái chẳng hạn. ( Sự thực Chúa cũng đến cứu cả Biệt Phái nữa, nhưng ơn cứu chữa của Chúa thứ nhất, sẽ đến với những người khiêm nhường biết nghe lời Chúa)

Nhưng tụi Biệt Phái có hiểu cho đâu. Càng nghe Chúa nói họ càng tức bực, và họ thầm chửi trong bụng : “Lại con cái kỳ khôi ; cải hóa kẻ có tội là ngồi ăn chung với chúng nữa ! Rõ thật ...”

Tuy nhiên lời chỉ trích của bọn Biệt Phái hình như cũng gây một ảnh hưởng nhỏ. Mấy môn đệ của ông Gioan có mặt đấy, nghe Biệt Phái chỉ trích việc ăn uống, liền chổi dậy trong lòng một ít thắc mắc mà các ông giải không ra. Các ông đến hỏi Chúa :

    --Thưa Thầy, chúng tôi là môn đệ của ông Gioan. Ông thường thúc dục chúng tôi ăn chay. Và kia nữa, cả những người thuộc Biệt Phái cũng ăn chay. Thế mà sao môn đệ của Thầy lại không ăn chay ?

  Chúa Giêsu thấy các ông có một thắc mắc nhỏ như vậy mà không giải được. Ngài liền ôn tồn giảng nghĩa :

    --Các ông nghĩ xem..đang ngày hôn lễ mà các bạn hữu của tân hôn lại ăn chay sao ?

Không được mà, ăn chay cũng phải tùy ngày chứ. Vậy đang lúc tân lang còn tại nhà thì đâu phải lúc ăn chay và tỏ mặt buồn như người đi đưa đám. Không ! Không ! Bao giờ tân lang vắng mặt và khuất đi, bấy giờ mới là lúc nên buồn và ăn chay chứ ; các ông nghĩ sao ?

   Ý nghĩa lời Chúa : Các môn đệ ngài dĩ nhiên cũng phải ăn chay, nhưng ăn chay tùy ngày theo lẽ phải, chứ không phải ngày nào cũng ăn chay như chiều nay chẳng hạn.

 Trong số các môn đệ của ông Gioan có mặt ở đây, hẳn cũng có lần đã được nghe ông ví Chúa với một vị tân lang, một tân lang bởi trời xuống cứu lấy linh hồn nhân loại. Nên Chúa dùng lời tình nghĩa nói thích ứng ngay vào điều các ông đã nghe :

    Các ông xem, ai lại ăn chay vào ngày hôn lễ bao giờ. Thầy đây là người tân lang mà ông Gioan đã nói. Thầy xuống trần để cưới linh hồn nhân loại, Thầy đang huấn luyện các môn sinh. Thời gian huấn luyện cũng không dài. Các ông ấy đang khó nhọc theo Thầy như người tâm phúc kia theo tân lang trong ngày cưới. Như vậy mà Thầy lại bắt các ông ấy ăn chay ư ?..Nhưng rồi đây sẽ có ngày các ông ấy buồn rầu và ăn chay, ấy là lúc Thầy phải đi xa và vắng bóng ( chỗ này Chúa ám chỉ ngày Ngài sẽ chịu chết ) cũng như một tân lang bỏ nhà đi mất tích, tự nhiên trong nhà sẽ có sự thay đổi và buồn phiền !

     Nghe tới đây, các môn đệ ông Gioan mới hiểu ra. Nỗi thắc mắc của các ông cũng biến mất, các ông tỏ vẻ khâm phục Chúa và tin tưởng vào Ngài.

    Trước cử chỉ đó Chúa Giêsu càng tỏ dấu yêu thương và Ngài nói rõ xứ mệnh của Ngài. Ngài xuống trần là để cải tổ thế giới, đem lại cho các linh hồn một tinh thần đạo đức mới, một tinh thần xây nền trên sự thật, chứ không câu nệ vào những hình thức giả dối của Biệt Phái. Cái tinh thần đó phải thành thật, sống động, sâu xa và mới mẻ. Nó không đi đôi với bộ dạng trá hình, hời hợt và cũ rích của Biệt Phái được. Ngài cử ra mấy ví dụ và giảng rõ :

    --Chẳng ai lấy miếng vải mới còn mặc vá vào cái áo cũ rách, vì mới cũ không tương đắc nhau. Và trong trường hợp chung đụng nhau, hẳn cái mới sẽ lấn át, làm cái cũ rách càng thêm rách. Cũng tương tự như thế : Chẳng ai đổ rượu mới vào thùng cũ kỹ, vì lúc rượu mới lên men, thùng sẽ nổ vỡ. Vậy rượu mới phải đổ vào thùng mới.

    Chúa ngụ ý nói : Cái tinh thần mới Chúa mang xuống không thể để vào cái hình thức giả dối hẹp hòi của Biệt Phái được. Nhưng phải để riêng ra, vì thế mà hiện nay Ngài đang hướng dẫn các môn đệ đi con đường mới với sự sáng suốt và chân thành, chứ Ngài không bắt các ông ấy theo những hình thức cũ rích giả dối của Biệt Phái.

 Các lời đó đã làm cho môn đệ ông Gioan và môn đệ của Chúa hài lòng. Các ông còn muốn nghe Chúa giảng mãi, nhưng giờ đã muộn, bữa tiệc đã xong, người ta bắt đầu giải tán...Và Chúa cũng chấm dứt bài giảng của Ngài.

Chiếc  Mặt  Nạ  Bị  Rơi

MỘT  MÁNH  LỚI  BỊ  LỘ..... 

   Nhóm Biệt Phái vẫn tìm cách chỉ trích Chúa Giêsu và môn đệ của Ngài, họ bới lông tìm vết, cố tình bắt lỗi những cái không đâu.  Một ngày kia, Biệt Phái thấy môn đệ của Chúa ăn bánh mà không rửa tay. Họ kỵ cái đó lắm, vì không bao giờ ngồi bàn ăn mà họ không rửa tay kỹ lưỡng, rửa tới hai ba lượt cũng như họ thận trọng rửa những đồ mua ở chợ về. Họ sợ những đồ ấy làm con người nhơ ra vì đã gián tiếp liên lạc với dân ngoại.

Cùng với thời gian, họ còn chất thêm lên mối di truyền kia nhiều nghi thức vụn vặt nữa, như rủa dĩa, rửa ly tách, rửa một cách trang nghiêm kính cẩn.

 Thực ra, rửa tay trước khi ăn không phải là điều luật, mà chỉ là điều di truyền thôi, nhưng Biệt Phái lại cho là một điều di truyền thánh, không bao giờ được bỏ qua. Còn sự tiếp xúc với dân ngoại cũng chỉ bị cấm đoán trong những việc làm cho Do Thái mất đạo chính thức thôi, như những việc : Giữ tượng ngẫu thần, thông công cúng tế hay những cách múa bất nhã, vì những cái đó dễ làm người ta quên Chúa là Ðấng thánh thiện và thuần linh. Chỉ có thế. Nhưng từ chỗ cấm đoán đó đi tới thái độ : Phải rửa tay cẩn thận mỗi khi bắt gặp một người ngoại giáo ở bất cứ nơi đâu, thì đó là bước xa quá, đó là hiểu lầm tai hại và chia rẽ, chứ không phải tinh thần luật. Vì thế một cách vô tình hay hữu ý, phần rất lớn trong dân và các môn đệ ít để ý thực hành những lễ nghi đúng như Biệt Phái dạy và vẫn tin rằng mình cũng chẳng bất trung với luật vì không cẩn thận  giữ những lễ nghi kia.

    Câu chuyện chỉ có vậy, nhưng Biệt Phái hí hửng cho là mình đã khám phá được một trọng tội để bắt bẻ các môn đệ Chúa Giêsu. Cái tội dám lỗi tập truyền, và lỗi một tập truyền đối với họ là xúc phạm đến tổ phụ của cả một dân. Nên họ hiên ngang đến hạch Chúa :

    --Sao các môn đệ của ông không giữ những tập truyền ? Dám bỏ rửa tay trước khi ăn.

   Nhưng những lời bắt bẻ lỗ mãng có vẻ hiên ngang ấy đã đưa cho Chúa một cơ thuận tiện để Ngài tuyên án cái tội kiêu căng và giả hình của họ. Chúa phán :

    --Hỡi những người giả nhân giả nghĩa kia, quả thực tiên tri Isaia đã phán đoán rất phải về các ngươi, khi ông nhân danh Chúa nói rằng : “Dân này chỉ tôn Ta bằng miệng, còn lòng chúng ở xa Ta, chúng chỉ thờ Ta một cách giả dối. Chúng không làm vui lòng Ta, vì đạo chúng đã biến thành một mớ những quan niệm và những tập tục của loài người.   Chúa còn mắng thẳng vào mặt họ :

    --Thế sao các người dám vi phạm giới răn Thiên Chúa để chỉ bám chặt vào tập truyền của các ngươi ! Các ngươi chỉ có một mục đích là bắt người ta giữ moi tục lệ của các người và các người không màng chi đến luật của Chúa. Ví dụ đây... Ông Môi sen nói trong luật rằng : Con hãy hiếu kính mẹ cha, và ai nguyền rủa cha hay mẹ mình, người ấy sẽ bị án chết. Nhưng các người đã giải thích : Ai nói với cha hay mẹ rằng :CORBAN.

( Nghĩa là những tài sản trong quyền sở hữu của tôi, nhờ đó tôi có thể giúp đỡ cha hay mẹ được, tôi đã tuyên hiến cả. Tôi đã cúng dâng vào đền Thánh) thì tức khắc người ấy được miễn chuẩn những bổn phận đối với cha hay mẹ. Lạ chưa !.. Các người coi, các người đã thủ tiêu giới răn của Chúa vì những di truyền và những tập tục của các người  như vậy đó...!

      Những lời trên đây quả tố giác những lối giả hình của Biệt Phái, một lối giả hình có mánh lới tinh vi, ẩn dưới tấm màn tôn giáo. Người Do Thái biết rằng những của đã cúng kiến Thánh đường không được dùng vào việc khác. Tuy nhiên người dâng cúng vẫn một mình được hưởng những của ấy suốt đời cho đến chết. Chết đoạn mới thuộc Thánh đường và ở trong quyền xử dụng ban quản lý Thánh đường. Biệt Phái để ý luật đó lắm, vì với một luật như vậy, họ có thể vừa làm vui lòng người có của là được sống ích kỷ, khỏi phải lo đến mẹ cha, vừa hy vọng được thừa hưởng của đã cúng hiến. Bởi vậy họ giảng dạy luật đó luôn luôn. Nhưng như thế không phải là lạm dụng tôn giáo để bóp chết niềm hiếu kính ư ? Và đã diệt hiếu kính, thì còn nhân nghĩa ở chỗ nào ? Hay nhân nghĩa là khuyên người ta sống ích kỷ, tệ bạc, bất hiếu, bất trung, để rồi mình lại có thể trục lợi ư ? Hẳn không phải.... 

   Vậy lời Chúa đã quá minh bạch và mặt nạ nhân nghĩa của họ đã bị rơi ! Nên nghe Chúa nói tới đó, họ thấy nghẹn họng và rút lui dần. Họ sợ kẻo dân chúng biết rõ thì thêm xấu hổ lắm. Nhưng không may cho họ, dân chúng đã đến đông, nhiều người đã nghe qua câu chuyện và còn muốn biết rõ nữa. Mà họ cũng cần muốn biết thêm để tránh tính giả hình như tránh mọi tội khác. Bởi vậy Chúa gọi dân chúng đến và nói :

    --Các con hết thảy hãy nghe Ta và hãy hiểu lấy lời Ta. Không phải hễ cái gì ở ngoài vào trong miệng là làm cho người ta nhơ. Nhưng chính cái ở miệng phát ra là cái làm nhơ người ta mà thôi !   (nhơ là nhơ nhuốc, bẩn thỉu và cũng nghĩa là dơ dáy)

   Ý Chúa muốn nói : Của ăn vào miệng không làm người ta nhơ đâu, nhưng những ý nghĩ xấu tự trong lòng phát ra mới là cái xấu. Và nó càng xấu hơn khi nó đeo mặt nạ thánh thiện và nhân nghĩa để bịp người. Chúa nói tới đó thì Biệt Phái đã lui xa, họ tức tối, quạu cọ mắt đỏ ngầu. Thấy thế, mấy môn đệ thưa với Chúa :

    --Bẩm Thầy ! Thầy có biết lúc nãy Biệt Phái lui ra một cách tức giận không ?

    Chúa tỏ dấu có biết và Ngài phán thêm :

    --Cây nào chính Cha Ta trên trời không trồng, cây ấy sẽ bị nhổ đi...Các con cứ mặc chúng. Chúng mù và đòi hướng đạo người mù. Nhưng mù dắt mù cả hai sẽ xuống hố.

    Những lời Chúa phán hôm nay ý nghĩa lắm. Các môn đệ đã hiểu một phần, nhưng các ông còn muốn hiểu thêm. Nhất là ý nghĩa của lời “Không phải cái gì ở ngoài miệng làm cho người ta nhơ” Nên khi dân chúng về rồi, còn lại một mình Chúa với các ông, ông Phêrô thưa với Chúa :

    --Xin Thầy giảng lại bài ngụ ngôn lúc nãy cho chúng con.

 Chúa nói :

    --Sao thế, chính các con cũng chẳng hiểu ư ?...Các con chưa biết rằng cái gì ở bên ngoài vào trong miệng không thể làm nhơ người ta ư ? Nó không làm nhơ là vì nó có nhập vào lòng đâu. Nó chỉ nhập vào bụng rồi thải ra, chính vì nó phát tự lòng, nên nó mới làm người ta nhơ. Tự thâm tâm người ta có những tư tưởng xấu. Những tư tưởng đó qua miệng phát ra và đã biến thành tội : Tội nói dối, tội kiêu căng, tội giết người, tội gian dâm, và những tội làm chứng dối, hà tiện, lộng ngôn v..v.. Ðó là cái ở trong người ta phát ra đã làm người ta nhơ là thế, chứ đâu phải rằng ăn không rửa tay là nhơ...

.   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .   .

    Lời Chúa thực đã rõ rệt mười mươi. Trong tôn giáo, cái cần nhất là linh hồn, hay nói cụ thể là con tim : Con tim “có hòa” hay “không hòa” với Chúa ?..Vậy không nên lầm lẫn sự khiết tịnh của linh hồn với sự trong sạch của bàn tay. Chỉ cốt rửa sạch tay mà để lòng nhơ bẩn là phản tôn giáo vậy. Ðó là bài học Chúa dạy hôm nay, một bài học chua cay cho Biệt Phái, nhưng lại dịu dàng và chứa biết bao ý nghĩa cho môn đệ của Ngài.

Tôn  Giáo  Vì  Người

HAY  NGƯỜI  VÌ  TÔN  GIÁO...

   Mùa hạ đã bắt đầu, khí trời nóng nực thêm. Lúa ngoài đồng đã chín, hứa một vụ gặt vui tay. Một ngài hưu lễ nọ, Chúa Giêsu và đoàn môn đệ của Ngài đi qua một cánh đồng lúa chín, thoảng đưa mùi hương thơm. Ðoàn môn đệ thấy đói, các ông lảy lấy một ít nhánh, vò trong tay, ăn cho đỡ mệt.

  Việc đó đối với quan niệm Do Thái không có gì đáng trách cả, cũng như họ không trách những ai vì đói, hay khát, lúc qua đường hái vài trái vả hay một chùm nho, ăn cho quên khổ lúc đi đường. Nhưng hôm ấy lại là ngày hưu lễ (tức là ngày thứ Bảy, Sabbat) ngày nghỉ việc, phải kiêng mọi việc chân tay. Ngày đó theo quan niệm Biệt Phái, lảy bông lúa lúc qua đường, hái một trái vả hay lượm một chùm nho cũng là trái phép, vì cũng là gặt hái, cũng làm việc chân tay, nên nhất định phải cấm. Thế nhưng thấy môn đệ của Chúa lảy lúa trong ngày hưu lễ, họ tức giận lắm. Họ lại gần, kéo tay áo Chúa vừa chỉ vừa hoa tay :

    --Kìa Thầy coi, môn đệ của Thầy đã làm việc cấm ngày hưu lễ . Thế có phải chính Thầy đã cho phép không ?

    Nhưng câu hỏi sấn sổ của Biệt Phái, chỉ được Chúa cười mỉa mai và Ngài trả lời bằng một câu chuyện xa xôi :

    --Các người có đọc chuyện phưu lưu của Ðavít và toán quân của Ngài không ?..Một ngày kia Ngài và đám tùy tùng đói lã mà không có gì nhét bụng, phải tìm vào một Ðền thờ Chúa và được Thầy Thượng phẩm Abiathar cho phép dùng những bánh dành riêng để tế lễ. Thế mà các người biết họ không có quyền ăn những bánh ấy, vì chỉ có các đạo trưởng mới được ăn thôi. Vậy họ có lỗi luật không ? Không. Vì đó là trường hợp tối khẩn. Thế cũng vậy, ngày hưu lễ đã được đặt ra vì loài người, chứ đâu phải loài người được dựng lên vì ngày hưu lễ.

   Ý Chúa muốn nói : Ngày hưu lễ đặt ra là để tiến ích cho loài người, vì thế nếu ngày đó trở nên một ngày thống khổ hơn các ngày khác, một ngày không giúp đỡ nâng cao người ta lên và giải thoát người ta khỏi ách mệt nhọc trong tuần, thì ngày đó đã mất mục đích của nó. Vậy các môn đệ bứt mấy bông lúa để trợ đói trong ngày hưu lễ mà lỗi luật ư ?..Luật nào lại chấp nê một cách khắt khe như thế ?...    Chúa nói tiếp thêm :

    --Các người không đọc thấy trong luật rằng : Ngày hưu lễ, các Ðạo trưởng trong Ðền thờ được lỗi ngày ấy để bận vào việc tế tự mà không có tội ư ?...Thế các người phải biết rằng, ở đây có Người còn cao cả hơn Ðền thờ nữa... Nếu các người hiểu Thánh kinh hơn,

hẳn các người không lên án những người vô tội, vì trong Thánh kinh Chúa tuyên bố Ngài muốn thấy các người xử nhân từ với anh em của các người hơn là thấy các người luôn luôn tế lễ. Nhưng thôi, các người nên biết rằng. Con Người là Chúa cả ngày hưu lễ nữa.

    Lời Chúa nói : “Con Người là Chúa cả ngày hưu lễ nữa” làm Biệt Phái đã tức giận càng tức giận thêm. Họ có cảm giác như đối phương của họ đã xưng mình là Thiên Chúa. Nên họ nhất định không đội trời chung với Chúa, và tìm cách lật Ngài.

   Sau câu chuyện lảy lúa, Chúa vào một giảng đường kia. Ở đó, người ta đang đợi Ngài chung quanh một bệnh nhân tay liệt bại và khô cứng. Cũng ở đó mấy Luật sĩ và Biệt Phái đang chờ cơ để công kích Ngài. Họ rình xem Ngài có dám chữa bệnh ngày hưu lễ không ? Nhưng hình như Ngài lướt qua bệnh nhân và không muốn để ý tới. Nên họ sợ bỏ lỡ dịp và xô đến hỏi ngay :

    --Thưa Thầy, Thầy nghĩ thế nào ? Người ta có được phép chữa bệnh ngày hưu lễ không ?

   Biết ác ý của họ, Chúa tặng lại một câu oái oăm :

    --Thế Ta cũng hỏi các ngươi, ngày hưu lễ nên làm điều thiện hay điều ác. Nên cứu sống người ta hay để người ta chết ?

  Luật sĩ và Biệt Phái đứng lặng thinh không thưa. Chúa nói :
    --Ai trong các người có một con chiên và thấy chiên mình rơi xuống hố ngày hưu lễ, mà không chạy vội đến cầm lấy chiên và lôi nó lên ư?
 

  Luật sĩ và Biệt Phái cứng họng vẫn đứng lặng thinh, và Chúa kết :

    --Vậy người ta đáng giá hơn con chiên nhiều và ngày hưu lễ vốn được làm điều thiện như mọi hôm.

  Nói xong, Chúa nhìn bọn Luật sĩ và Biệt Phái tựa hồ như buồn giận vì họ quá cứng lòng. Rồi Chúa đưa tay về phía bệnh nhân :

    --Con hãy giơ tay ra và đến đứng ở đây.

  Người bệnh vâng lời giơ tay và tay đã khỏi.

   Phép lạ này làm dân phục Chúa hết sức. Họ nhiệt liệt hoan hô, nhưng Biệt Phái lại bực tức khôn tả. Họ về nhà hội họp bàn nhau, tìm cách liên lạc với những người thế lực trong triều Atipas để lập mưu giết Chúa !

   Cũng chưa xong, chiều hôm ấy, Chúa lại đụng chạm lần nữa với tinh thần chấp nê của đối thủ.  Chúa vào thuyết đạo trong một giảng đường kia, và gặp một người đàn bà kia có cái bướu ở trên lưng. Bà ta bị gù đến nỗi không thể ngước mặt lên được, và đã bị như vậy mười tám năm. Thấy thế, Chúa thương tình gọi lại và phán bảo cho bà được khỏi

Rồi Chúa đặt tay trên lưng, thoát chốc bà ta được khỏi, đứng thẳng lên và chúc tụng Chúa. Toàn dân hoan hô, xô đẩy nhau lại gần xem cho rõ. Nhưng giảng viên đường Trưởng khó chịu. Y cũng là người Biệt Phái , không hiểu sao ngày hưu lễ mà Chúa

dám chữa bệnh nhân. Cái đó cấm rồi mà ! Nhưng ông ta biết biện lý với Chúa Giêsu không phải là dễ, nên ông chỉ lớn tiếng bảo dân :

    --Mỗi tuần đã có sáu ngày làm việc rồi. Vậy hãy đi chữa chọt trong những ngày ấy, còn ngày hưu lễ chớ có làm gì !

  Nhưng vừa lớn tiếng xong, ông đã bị Chúa mắng :

    --Hỡi người giả hình kia !.. Ai trong các ngươi không cởi giây cho con bò hay con lừa của mình và không dắt nó ra khỏi chuồng đi uống nước ngày hưu lễ ? Vậy ngươi lấy làm trái phép vì ngày hôm nay Ta tháo cởi cho một đàn bà thuộc giống nòi ngươi, giống nòi của tổ phụ Abraham, đã bị đeo xiềng của bệnh tật từ 18 năm ư ?

    Chúa dứt tiếng, dân chúng vỗ tay. Hoan hô nhiệt liệt làm đối phương của Ngài xấu hổ tìm cách rút lui...

  Theo cuốn “Sáng Thế Ký” Chúa sáng tạo trời đất trong sáu ngày, và nghỉ ngày thứ Bảy. Ngày thứ Bảy đó có ý nghĩa tôn giáo tượng trưng, nghĩa là người ta phải tập đời sống cần lao theo gương của Chúa. Trong một tuần nên làm việc sáu ngày thôi, còn một ngày nên nghỉ. Nghỉ để trút gánh nặng trong cả tuần, để lấy lại sức, đưa đời sống lên cao và để có thì giờ làm việc thiện ; như viếng thăm nhau, hầu gây được chữ “hòa” và chữ “vui” trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Hơn nữa, nghỉ để thánh hóa linh hồn bằng cách thờ phụng, kính ái Chúa, để giữ trọn chữ hiếu chữ trung. Ðó là ý nghĩa vĩ đại  của ngày thứ Bảy, cũng gọi là ngày Hưu Lễ, mà Thánh Môi Sen đã ghi vào Bộ Luật.

 Nhưng từ lâu, Biệt Phái đã hiểu xuyên tạc cả. Họ là những người quá thích hình thức bên ngoài và coi rẻ cái tinh thần bên trong. Luật cấm bằng một, họ cấm gấp mười và còn hơn nữa. Theo họ thì ngày hưu lễ, một đứa trẻ không được trèo lên cây hái một quả chín, một thiếu phụ không được soi gương, kẻo tiện tay nhổ luôn một sợi tóc hay xịt thoa một chút nước hoa lên đầu, cũng như người bộ hành không được mang một bầu nước nhỏ. Vì những cái đó là động tác cần lao. Ngặt hơn nữa, theo họ, ngày đó cũng không được săn sóc người bệnh tật. Ngày thứ Bảy, ông có bị té, và bị gẫy hay bị sưng cánh tay ! Thì ông được quyền nhúng chân vào nước. Nhưng nhất định ông không được thoa bóp và rịt thuốc, vì luật cấm ngặt !...

 Với những kiểu cách hẹp hòi như vậy, quả họ đã biến tôn giáo thành một trò cười và đã thắt buộc người ta quá . Họ đã lấy hình thức tôn giáo vây người ta như những thép gai vây người tù. Bởi thế, Chúa đã buộc lòng thẳng lời trách họ và giảng thích tinh thần ngày hưu lễ cho dân. Chúa đã làm nhiều phép lạ trong ngày thứ Bảy hưu lễ. Những phép lạ đó làm họ tức giận đầy gan, nhưng lại làm cho dâ chúng vui mừng hớn hở. Cho hay : “Tôn giáo vì người, chứ không phải người vì tôn giáo” Và hơn nữa, tôn giáo là an vui cao cả, chứ đâu bé nhỏ hẹp hòi, hằn lên những nét sầu muộn đau thương...

Mười  Hai  Ông  Hữu  Trách...
  

Một đêm kia trời đẹp. Chúa lên núi cầu nguyện, một núi cao bên biển hồ Tibêrát. Ngài cầu nguyện thâu đêm, tâm trí luôn hướng tới những người mà hôm sau Ngài sẽ chọn làm thủ lĩnh công cuộc của Ngài...

   Hôm sau xuống núi, Ngài gọi các người theo Ngài lại chọn lấy mười hai ông làm môn đệ  đặc biệt của Ngài, và giao hẳn trách nhiệm truyền giáo cho các ông. Ngài sai các ông lấy tên Ngài mà giảng Phúc Âm ở khắp chốn và chuyển thông cho các ông quyền chữa các bệnh tật, trừ mọi quỷ ám. Quý danh 12 ông đã được chọn :

  Ông thứ nhất là Simôn, ông này được Chúa cho biệt hiệu là Phêrô (nghĩa là đá) và Chúa muốn ông được gọi như vậy luôn luôn. Tiếp đến là ông Anrê anh ông Phêrô. Rồi đến các ông Giacôbê Tiền và Gioan. Cả hai là con ông Giêbêđê một ngư phủ có tiếng. Chúa cũng ban cho hai ông này cái biệt hiệu “con nhà sấm” có lẽ vì tiếng phấn nhiệt hai ông đã ran vang. Kế đến là các ông : Phillipê, Bắctôlômê,Mathêô, Giacôbê Hậu con của ông Alphêô, ông Tađêô, Simôn Cananêô, sau cùng ông Tôma và Giuđa Itcarô. Ông này sau làm nội gián cho địch lập mưu bán Chúa.

     Phần lớn các ông trên đây thuộc lớp bình dân ; đức tính đơn sơ, cẩn thận, thẳng thắn cần cù, đi đôi với nước da bánh mật, với những bắp thịt cứng và những bàn tay chai.

Nhờ những năm tháng theo Thầy, dần dần các ông đã biến cải, tâm hồn trí óc mỗi lúc mỗi lên cao, và phủ trên địa cầu những cái nhìn rộng rãi, rộng rãi về cả thời gian cũng như không gian.

Hiến  Chương  Của  Nước  Trời

HAY  BÀI  GIẢNG  TRÊN  NÚI...

 Thanh danh Chúa mỗi ngày mỗi đi xa và toàn dân hướng về Ngài mỗi lúc mỗi gần.

   Hôm ấy từng dòng người ở thập phương trẩy về bên hồ Tibêrát. Ðó là những người thuộc xứ Galilêa, xứ Giuđêa, thành Jêrusalem, miền duyên hải, thành Tirô và thành Siđôn, cũng có một số đông người thuộc xứ Ydumêa và bên kia sông Jordan nữa.

  Những phép lạ Ngài đã làm vang tiếng lớn, nên ở khắp nơi, dân chúng đều nói tới Ngài, và ai nấy đều cầu được thấy Ngài, nghe Ngài giảng, cũng như những bệnh nhân mong được Ngài cứu khỏi mọi khổ cực đau thương.  Hơn nữa, người ta còn xô nhau để tới sát Ngài, tìm cách đụng vào Ngài, hay ít ra đụng nhẹ vào gấu áo Ngài vì người ta tin tưởng từ bản thân Ngài phát hiện một sức nhiệm mầu có thể chữa lành mọi bệnh tật. Bởi vậy Ngài đi đâu, người ta khiêng bệnh nhân tới đó, đặt đón trước lối Ngài sẽ bước qua. Và Ngài nhân từ cúi xuống vỗ về, an ủi, chữa mọi bệnh nhân. Bệnh liệt bại, bệnh mù, bệnh câm điếc, điên dại ; Biết bao bệnh đã được khỏi !... Chữa họ rồi, Ngài bảo họ đừng phao tin. Nhưng họ cứ mang tin đi cùng mọi ngã, và càng ngày họ càng đến đông hơn. Có những ngày họ tới đông chật cả bãi, tới nỗi Ngài phải bảo mấy môn đệ lấy thuyền đưa Ngài ra xa một ít, vừa tầm để Ngài có thể dễ dàng giảng cho dân đứng nghe trên bãi.

   Quả thực, Ngài đã thực hiện đúng lời Thiên Chúa phán trong sách tiên tri Isaia xưa :

“Này là Người trung nghĩa Ta đã chọn. lòng Ta quý yêu Người. Người theo đúng tinh thần Ta. Người sẽ làm cho dân ngoại biết chính đạo. Người sẽ không phí thời giờ  trong những cuộc tranh biện vô ích. Người rất nhân từ. Cây lau đã bị dập, Người không nỡ đánh gẫy. Cái bấc đèn đang bốc khói. Người không tắt phụp đi. Tuy nhiên, Người quyết định tranh đấu đến cùng để lập trên trái đất một nước công bình chính trực, ngỏ hầu muôn dân đặt vào quý danh Người một tin tưởng vững chắc”.

    Ngày hôm ấy, người ta đến đông hơn mọi hôm... Từ trước và bao giờ cũng vậy, Ngài vẫn đặt trên đám dân những cái nhìn thiết tha âu yếm. Nhưng hôm nay, nét mặt Ngài cùng lộ vẻ yêu dấu hơn. Ngài thấy dân khổ quá, họ là những người chất phát đơn sơ, cần lao chăm chỉ, nhưng mang số kiếp của những kẻ trói buộc ức hiếp, không được ai bênh đỡ. Họ là những người làm ruộng, làm thuê mướn, làm nô bộc, hay đi đánh cá ở bờ biển, sông , suốt năm gò cật trên những việc nặng nhọc khi nắng gắt cũng như lúc mưa dầm. Họ chỉ cầu ước một mực sống tối thiểu thôi : Một căn nhà nhỏ, một vài cái giường tre, mấy manh áo vải, với mỗi ngày có lương thực ăn đủ sống. Nhưng chao ôi !

Nhà họ ở chẳng ra nhà, áo mặc là áo rách, áo hôi, tấm khăn trên đầu đã lâu ngày bạc màu dơ bẩn, có lúc họ phải nằm đất suông, không có chiếu, và có ngày đói khát mà không tìm ra một mẫu bánh con, hay một chút nước sạch. Thật bữa ăn của họ là những bữa thòm thèm, áo mặc của họ là áo trống hổng, và nhà của họ chất chứa hôi tanh ! Giờ đây họ bơ vơ sơ xác, nước da mặt ngăm đen, nhăn nheo biết bao tang thương đau khổ. Ấy thế mà vai họ phải mang nặng bao nhiêu thứ thuế : Thuế cho triều vua Atipas, thuế cho Ðế quốc La Mã, thuế cho Ðền thờ ! Làm gì cũng thuế ; đi buôn cũng thuế, cày ruộng cũng thuế, cuốc vườn cũng thuế, thuế ở mọi nơi, chỗ nào cũng người thu thuế (không riêng gì ngày xưa, đã cách nay hơn hai ngàn năm, mà cho đến bây giơ,ø ở xứ Trung Ðông vẫn còn đa số là dân nghèo đói.)

    Càng nghĩ càng thương....Giá lúc ấy Chúa muốn lợi dụng lòng dân, thổi cho họ một tư tưởng cách mạng thì dễ quá. Ngài chỉ cần một lời cũng đủ để họ cảm thấy nỗi oan uổng khổ cực của mình, cũng đủ để tố giác những kẻ tham tàn, chỉ muốn đè đầu bóp cổ xây hạnh phúc trên lưng cật và trên mồ hôi nước mắt của người khác. Thật Ngài chỉ cần một lời thôi, cũng đủ khiến cho dân rầm rập theo Ngài. Và bấy giờ là cách mạng, là chiến tranh....Nhưng từ ngày có chiến tranh, nhân loại có hạnh phúc hơn không ?.....

Cái đó vẫn chưa chắc. Ðã hẳn rồi, tình trạng của dân phải đổi khác. Nhưng đổi khác bằng cách nào ? Bằng cách mang gươm giáo với súng đạn ư ? Nhưng gươm giáo với súng đạn chỉ đâm chém và hủy diệt loài người. Trái đất là chốn nguy nan, là nơi khổ ải cũng như đường đời đầy chông gai. Nhưng lòng yêu thương, sức chịu đựng, tình bằng hữu, hiểu biết nhau cũng là diệu pháp làm êm dịu những nỗi khổ cực trên đời, cũng làm kẻ bất công biết suy nghĩ, cái ức hiếp bằng công bình, cái phân ly bằng tình đoàn kết,

Nghĩa là phải cách mạng con người từ bên trong, phải cải thiện con tim và linh hồn của họ. Ðó là thứ cách mạng không hủy diệt mà chỉ xây đắp, không gây hấn mà chỉ yêu thương, một thứ cách mạng không đổ máu, không đánh đập, không sỉ mạ mà ảnh hưởng sâu xa, có thể lan đi mọi nước, có thể tồn tại mọi đời và có thể đem con người về hạnh phúc, một thứ hạnh phúc xây trên công bình, bác ái và yêu thương, mà Thiên Chúa muốn mọi người cùng được hưởng. Ðó là hạnh phúc mà Chúa đã giáng trần để đem cho nhân loại và hôm nay là dịp tiện để Ngài công bố cho dân. Nên Ngài bước lên một đám đất cao rồi ngồi xuống. Môn đệ cũng ngồi theo vây quanh Ngài, nhưng Ngài vẫn có thể nhìn rõ đám dân và Ngài bắt đầu giảng thuyết, hay nói cách khác. Ngài trịnh trọng tuyên bố bản Hiến chương của nước Ngài :

  Hạnh phúc những ai có tinh thần khó nghèo, vì nước Trời là của kẻ ấy.

  Hạnh phúc những ai chịu đói khát, vì một ngày kia sẽ được đầy no.

  Hạnh phúc những ai phải khóc lóc phiền sầu, vì sẽ được an ủi và cười vui.

  Hạnh phúc những ai thiết tha yêu công bình, vì một ngày kia sẽ thấy công bình. Hạnh            phúc những ai gớm sự hung tàn, vì họ sẽ chinh phục được thế giới.

 Hạnh phúc những ai biết yêu thương, vì sẽ được yêu thương lại.

 Hạnh phúc những ai giữ lòng trong sạch, vì sẽ được thấy Chúa.

 Hạnh phúc những ai lo xây hòa bình, vì chính họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa

 Hạnh phúc những ai chịu bách hại vì sự an lành, vì nước Trời là của kẻ ấy

  Ðó cả là một Hiến chương, một hiến chương quý báu, vĩ đại và êm đềm, gieo vào lòng người một kích thích, một tin tưởng, một an vui.

  Ðó cũng là Hiến chương mới, từ Trời đưa xuống, một Hiến chương chưa thấy vết tích trong tàng thư viện Hy Lạp, trong bộ luật La Mã, trong tác phẩm của một thi gia hay một triết nhân nào. Hiến chương đó giống như chuỗi kim cương cực lóng lánh, chiếu xuống cảnh khổ của đời người, muôn mầu trông cậy và vui tươi. Hiến chương đó để xây điều thiện, trừ điều ác. Nhưng điều ác sẽ phản ngụy luôn luôn và tìm cách hại những kẻ theo, hay cổ võ điều lành. Chúa thấy thế Ngài phán thêm :

    Và hạnh phúc cho các con, nếu người ta chửi rủa, ngược đãi, bách hại hay vu khống mọi điều ác cho các con vì danh Ta...Lúc đó các con hãy mừng và có thể nhảy mừng nữa

vì phần thưởng dành cho các con ở trên trời trọng hậu lắm. Cái đó có lạ chi, vì xưa kia họ cũng bách hại các tiên tri như vậy.

  Chúa cũng đe những kẻ hợm mình vì tài sản, vì quyền thế hay vì số phận may, trông thấy dân nghèo rỏ ra kiêu hãnh và khinh thị :

    Nhưng khốn cho kẻ giầu, vì họ sẽ được an ủi

    Khốn cho kẻ no say, vì họ sẽ đói khát

    Khốn cho kẻ ham chơi, vì họ sẽ gặp sầu phiền và khóc lóc

    Khốn cho những kẻ khi được tán tụng hoan hô, vì xưa kia người ta đã xử thế với những  tiên tri giả.

 

   Chúa phán thế, nhưng Hiến chương mới của Ngài không nghịch với Luật đâu. Nó rất đúng tinh thần Luật, và còn làm cho Luật thêm hoàn hảo nữa. Ngài phán :

    “Nhưng các con đừng nghĩ rằng Ta đến để bãi bỏ Lề Luật hay những lời dạy của các tiên tri...Không ! Ta không đến để thủ tiêu cái đã có, nhưng chỉ để bổ túc thôi. Ta nói rõ cho các con. Trời đất qua đi, nhưng mọi điều trong Luật, từ một nét nhỏ đến một chấm con sẽ không qua đi. Thiên Chúa sẽ thực hiện mọi điều. Vậy ai lỗi một trong những giới răn nhỏ mọn, hay dạy người khác lỗi như thế, kẻ ấy sẽ bị coi là kẻ rốt nhất trong Nước Trời. Trái lại, ai giữ và dạy người khác giữ Luật Chúa, thì trên Nước Trời, người ấy sẽ được chỗ cao”.

    Các con biết Chúa phán với tiền nhân rằng : “Con chớ giết người. Ai giết người sẽ bị phán đoán” Nhưng Ta nói với các con : Chưa cần phải đi tới giết người, nhưng ai giận anh em thôi, người ấy cũng bị phán đoán. Ai chửi anh em mình là “óc đặc” là “khờ dại” người ấy sẽ bị án phạt của pháp viện tối cao. Và ai nguyền rủa anh em mình là “điên cuồng”sẽ bị án hình của ngục lửa. Vậy nếu lên Ðền thờ dâng của lễ, mà ở đó con nhớ lại con đã làm mất lòng anh em con, thì con hãy để của lễ đó, đi làm hòa với anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ sau. Con nên biết, sống hòa thuận với nhau tốt hơn là đi kiện cáo. Vậy con hãy cố mau làm hòa với người thù địch của con đang khi con còn đi đường với họ, kẻo họ sẽ đưa con tới án tòa, và án tòa sẽ tống ngục con. Ta nhắc cho con, một khi bị tống ngục rồi, con không thể ra khỏi đó cho đến khi trả xong hết từng đồng xu.

    Các con cũng nghe thấy rằng “dĩ oán báo oán” mắt thế mắt, răng đền răng. Nhưng Ta nói với các con : Con đừng phản lại kẻ dữ. Nếu họ vã con bên má hữu, con hãy giơ luôn cả má bên tả. Nếu họ kiện con để lấy áo lót con làm tiền phạt, con hãy trút cho họ cả chiếc áo ngoài. Và nếu họ bắt ức con đi một nghìn bước với họ, con sẽ đi theo họ hai nghìn bước. Ai xin con, con hãy cho. Ai mướn mượn con, con đừng từ chối. Vắn tắt con hãy áp dụng nguyên tắc này : Con muốn người ta làm sự gì cho con, con hãy làm cho người ta sự ấy. Ðó là Lề Luật, đó là điều dạy của các tiên tri.

Một vấn đề khác. Các con biết Chúa phán trong Luật rằng : “Con chớ gian dâm” Nhưng Ta còn nói thêm với các con : Ai nhìn xem vợ người khác bằng con mắt ước muốn với nó, người ấy đã phạm tội gian dâm ở trong lòng. Vậy nếu mắt của con nên dịp tội cho con, con hãy móc và vứt nó xa con, vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là để cả phần thêm thể bị ném vào lửa đời đời. Về tay cũng thế. Nếu tay của con đưa đến sự tội, con cũng phải chặt và ném nó đi, vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là để cả phần thân thể đi vào ngục lửa.

    Trong Luật có lời rằng : “Ai muốn rãy vợ mình, người ấy phải cho nó một tờ ly thư” Nhưng Ta nói với các con : Ngoài trường hợp ngoại tình, ai lìa bỏ vợ mình, là nó phạm tội gian dâm, và ai lấy đứa đã bị bỏ, người ấy cũng phạm tội gian dâm.

    Các con biết Luật dạy tiền nhân rằng : “Con không được thề gian. Nhưng phải giữ những lời thề với Chúa” Nhưng Ta còn bảo các con : Các con phải triệt để đừng thề. Các con đừng lấy trời mà thề, vì đó là tòa của Chúa ; Cũng đừng lấy đất mà thề, vì đó là bệ đỡ chân Ngài, đừng lấy Jêrusalem mà thề, vì đó là Thành Thánh, thành của Vua Cao Cả. Các con cũng đừng lấy đầu mà thề, vì các con không thể làm cho một sợi tóc hóa đen hay trắng. ( Do Thái có tính hay thề, trong việc nhỏ cũng thề, thế mà Luật lại hạn chế lời thề. Nên họ đã đặt ra nhiều lối thề quanh mà trong đó Chúa không trực tiếp đứng chứng, để họ dễ thoát trách nhiệm. Nhưng như vậy lại làm người ta mất tin nhau. Nên Chúa Giêsu cấm những cách thề quanh đó )

Vậy lời nói của các con phải thẳng thắn rõ ràng : Có là có, không là không. Có thế thôi thêm thắt vào là nói dối đó.

    Các con nghe nói rằng : “Con hãy yêu người cận thân con, và con được phép ghét kẻ thù”. Nhưng Ta nói với các con rằng : Con hãy yêu kể thù địch của con, hãy làm lành cho kẻ ghét con, hãy chúc phúc cho những người chửi rủa con và hãy nguyện cầu cho những kẻ bách hại cùng những kẻ vu khống con. Các con hãy chú ý : Nếu các con chỉ yêu người yêu các con, thì có công gì, vì những người thu thuế và dân ngoại giáo cũng làm như vậy. Nếu các con chỉ làm ơn cho những kẻ làm ơn cho mình, hay chỉ cho vay mượn những người trông đòi lại được, thì có công gì, vì những kẻ tội nhân cũng biết làm như thế, và nữa, nếu các con chỉ chào bạn hữu thôi, thì có lạ chi, vì người ngoại giáo cũng làm như thế. Vậy các con phải có điều gì hơn. Các con hãy yêu kẻ ghét các con, hãy làm lành và hãy cho vay mà không trông được trả lại, để các con đáng làm con cái Chúa Cha ở trên trời. Ðấng khiến mặt trời mọc lên soi cho kẻ lành và kẻ dữ, làm mưa xuống trên người chính trực và kẻ bất công. Tóm lại các con hãy nhân từ và hoàn hảo như Cha các con ở trên trời là Ðấng hoàn hảo...

    Những lời Chúa phán trên đây quí giá hơn trân châu vàng ngọc, chất chứa một tinh thần yêu thương tha thứ mà thế giới mới được nghe lần đầu. Chúa nhấn mạnh về tinh thần huynh đệ siêu nhiên, để tập họp thực sự người bốn biển lại một nhà, dưới bóng từ bi nhân ái của người Cha thánh thiện là Thiên Chúa. Với tinh thần yêu thương tha thứ, người với người là anh em, dân tộc với dân tộc là bằng hữu, và giữa Tạo Hóa với nhân loại là tình cha con. Hiểu lầm, bất công, thù hằn, giận ghét... hết thảy chỉ gây tai ương khổ cực, chia rẽ và sầu phiền. Vậy công bình và yêu thương là hơn hết.

   Nhưng lánh dữ làm lành thôi, chưa đủ ; Chúa còn muốn hiến pháp của Ngài được thực hành với một tinh thần thật thà, đơn sơ và ngay thẳng. Tránh những hình thức giả dạng và đầy ẩn ý kiêu căng, tránh những lối tinh khôn của Biệt Phái, nhóm người chỉ làm việc bên ngoài, mà trong lòng thì cầu được người ta tán thưởng. Và Chúa phán :

    Các con hãy ý tứ : Các con đừng làm việc thiện trước mặt người ta để được tán tụng ; bằng không các con sẽ không được phần thưởng của Cha các con ở trên trời.

    Khi bố thí, các con đừng muốn được rao tên bằng tiếng kèn, như những kẻ giả nhân giả nghĩa quen làm ở các giảng đường và ở phố xá để được người ta khen ( Do Thái có thói quyên tiền giúp người nghèo bằng cách thổi kèn để mừng và rao tên người đó ở góc phố và ở nhà giảng đường. Trong trường hợp đó nhiều người cho của cốt để dương danh cho thiên hạ biết tiếng và tán tụng hơn là để giúp người nghèo. Chính cái ý tìm hư danh đó, Chúa muốn cho dân Ngài phải tránh xa.) Ta nói thật với các con ; kẻ làm như thế đã được phần thưởng rồi. Vậy khi bố thí, con hãy làm một cách kín đáo, dường như tay trái không biết việc tay phải làm, để việc bố thí của con vẫn giữ được kín, Ðấng xem thấy cả việc kín của đời con, sẽ trả công cho con.

    Cũng giống như thế nữa : Khi cầu nguyện, con đừng theo lối những kẻ giả hình, thích cầu nguyện ở giữa giảng đường và ở giữa phố để được người ta chú ý. Ta bảo thật các con, họ đã được phần thưởng rồi. Vậy khi cầu nguyện, tốt hơn, con hãy vào phòng, đóng kín cửa lại, cầu khẩn với Cha con ở đó, và Cha con xem thấy việc kín của đời con, sẽ trả công cho con. Khi cầu nguyện con đừng dài lời như thói kẻ ngoại. Họ tin tưởng : nói nhiều là được Chúa nghe. Nhưng không phải thế, con đừng bắt chước họ, vì Cha con đã biết con cần gì trước khi con cầu xin.

    Ai xin thì được. Ai tìm thì thấy. Ai gõ cửa thì cửa mở cho. Vậy các con hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ cửa thì cửa mở ra. Ai là người trong các con có con cái,

nó đến xin con cái bánh, mà ném cho cục đá ư ? Hay nó xin con cá mà lại cho con rắn?

Không có lẽ. Vậy nếu các con là người ít lương thiện, còn biết cho con cái mình những của tốt, thì phương chi Cha các con ở trên trời là Ðấng thánh thiện, càng biết cho kẻ xin Ngài những của tốt... Các con hãy cầu nguyện rằng :

    Lạy Cha chúng con ở trên trời, xin cho Danh Cha được rạng sáng, nước Cha được trị đến, và ý muốn Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con đủ ăn hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ mắc nợ chúng con, lại chớ để chúng con sa chước cám dỗ, và cứu chữa chúng con khỏi mọi sự dữ. Amen.

    Các con phải nhớ : Các con hãy tha cho nhau. Nếu các con tha tội cho người khác, thì Cha các con ở trên trời cũng tha tội cho các con. Bằng nếu các con không tha tội cho người khác, thì Cha các con cũng không tha cho các con.

    Sau hết, khi ăn chay các con đừng có tỏ vẻ buồn như thói kẻ giả nhân giả nghĩa. Họ làm tiều tụy nét mặt để được người ta biết họ ăn chay. Ta bảo thật các con : Họ đã được phần thưởng rồi. Vậy khi ăn chay, con hãy giữ đừng cho ai biết. Con hãy xức thuốc thơm trên đầu, hãy giữ khuôn mặt sạch sẽ vui tươi và Cha con ở trên trời, Ðấng xem thấy việc kín trong đời con, sẽ trả công cho con.

   Lại một lối giả hình khác là mang lốt hiền lành như con chiên để tìm danh lợi. Lối đó các đạo trưởng hay dùng và Chúa cũng tố giác để dân biết phòng ngừa tránh lánh :

    Các con hãy ý tứ tránh những tiên tri giả. Họ mặc lốt chiên đến với các con, nhưng bên trong, họ là sói tham mồi. Các con phải nhận xét họ qua hành vi của họ, cũng như người ta căn cứ vào quả để nhận xét một cây. Nào có ai hái nho hay vả nơi bụi gai đâu ?

Cây tốt sinh quả tốt. Cây xấu sinh quả xấu. Cây tốt không sinh quả xấu và cây xấu không sinh quả tốt. Nhưng cây không sinh quả tốt sẽ bị chặt đi và ném vào lửa. Vậy các con hãy nhìn vào hành vi của họ và nhận ra đâu là sứ giả của Chúa.

    Ta nói thật với các con : Ta chỉ trọng sự thật và ghét mọi lối giả hình. Không phải những kẻ bô bô với Ta rằng : “Lạy Chúa ! Lạy Chúa” là được vào nước trời đâu. Không.

Chỉ những ai thực hành ý muốn của Cha Ta trên trời, mới được vào nước đó. Một ngày kia nhiều kẻ sẽ nói với Ta : Lạy Chúa, Lạy Chúa, nào xưa kia tôi chẳng lấy danh Chúa mà nói tiên tri, mà trừ quỷ và làm những việc lạ ư ? Nhưng Ta sẽ trả lời rằng : Ta không biết chúng bay, chúng bay những kẻ làm sự dữ, hãy xa Ta.

    Một điều nữa, các con phải thương yêu nhau và nhận biết mình, chớ đoán càn bậy, chớ gán ý trái cho nhau. Các con đừng phán đoán, để khỏi phải chịu phán đoán. Các con hãy biết tha thứ để được thứ tha. Các con hãy xử rộng tình với người khác, và các con sẽ được xử rộng lại. Các con mà lấy đấu nào đong cho anh em, các con sẽ được đong lại bằng đấu ấy. Tại sao con muốn buộc tội anh em con, khi chính mình con cũng muốn được người khác hiểu cách rộng rãi ? Và tại sao con thấy các rác trong con mắt anh em con, mà con không thấy cái xà trong mắt con ? Ôi ! ..Hay con táo bạo dám nói với anh em con rằng : “Anh hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt của anh” đang khi con mắt con mang một cái xà ! Ôi ! Nếu con cả gan như thế, con sẽ đáng bị người ta mắng con rằng : Hởi kẻ giả hình kia, ngươi cứ lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi ngươi sẽ thấy cái rác rơi khỏi mắt ta.

    Nói thế, không phải Ta triệt để cấm các con xét đoán đâu, nhưng là để các con đừng xét đoán bậy, vô cớ gán cho người khác những ý không hay. Ngoài ra các con vẫn được xét đoán, vẫn phải khôn ngoan phân biệt điều thiện, điều ác, của thánh, của tục. Các con đừng lấy của thánh vứt cho con chó, cũng như đừng lấy ngọc trai ném trước con lợn (heo) vì chúng chẳng hiểu chi, chúng sẽ lấy chân dày xéo lên những của ấy, và có khi sẽ phát khùng, quay lại tìm cắn các con.

    Hỡi các con, vậy các con hãy nghe lời Ta. Hãy thực thà tránh mọi giả dối, và thực hành lời Ta.

    Có hai đường : Ðường chết và đường sống. Ðường chết rộng thênh thang và nhiều kẻ đi vào đường ấy. Ðường sống chật hẹp và ít kẻ đi. Nhưng con hãy đi vào con đường hẹp:

Hãy nắm giữ lời Ta. Ai nghe lời Ta và thực hành những lời ấy, người đó giống như ông chủ thông thạo biết xây nhà mình trên đá. Nhà vững biết bao...Trời đổ mưa xuống, sông dẫy nước lên và gió thổi bốn bề. Tất cả như muốn xô nhà đổ xuống, nhưng nhà đứng vững hiên ngang, vì đã được xây trên nền đá ! Nhưng trái lại, ai nghe mà không thực hành lời Ta, người ấy sẽ giống như kẻ dại, xây nhà trên cát. Trời sẽ đổ mưa, nước sông sẽ dâng lên, gió sẽ thổi, tất cả sẽ xô vào nhà, và nhà sẽ đổ, và sẽ biến thành một đống hư nát tan hoang.

  Chúa nói dứt lời, tiếng hoan hô của dân chúng vang lên. Người ta đã chú ý nghe Ngài giảng và hết sức cảm phục hâm mộ, vì Ngài giảng như người có quyền bính, chứ không như Luật sĩ và Biệt Phái chỉ thuyết giảng khô khan.... Trời đã trưa, dân chúng lại trở về Caphanaum dùng bữa. Họ trầm ngâm suy nghĩ : Hôm nay quả đã nghe bao điều mới mẻ cao sâu ! Ôi ! Chí lý thay những lời nói ấy !...

Thương  Người   Xấu   Số...

  Giảng xong, Chúa bỏ núi Bát phúc trở về thành Caphanaum. Gần tới nơi, Ngài gặp một người bệnh hủi đến sấp mình dưới chân Ngài kêu van thảm thiết :

    --Lạy Chúa ! Chúa hãy thương cho con được sạch...

   Hủi ! Ðây là thứ bệnh đáng sợ, lan tràn khắp Trung Ðông và rải rác ở nhiều nơi khác.

Ông M.Lefebre để lại một trang khảo cứu về bệnh đó như sau :

 “Bệnh trạng đầu tiên là những chấm loang nhợt nhạt hay đo đỏ ở trên mặt da. Chung quanh những vết chấm ấy dần dần hiện lên những mấu to bằng hạt đậu hay trái bồ đào. Lúc đó thân mình bệnh nhân xấu xí khó coi : mặt mất sắc, mí mắt sa xuống, môi dầy ra, mũi và cằm có nhiều nốt nhỏ và tay co quắp lại. Tới đây còn là giai đoạn dễ chịu, và bệnh nhân muốn giai đoạn đó đứng lại mãi. Nhưng bệnh tình cứ tiến thêm : Sẽ có những mụn độc chảy mủ, há rộng miệng xông mùi thối tha !... Lúc đó bệnh nhân biến thành một đồ tởm gớm cho chính mình và cho người khác...Cũng chưa xong, lại còn ung thư ở trong mắt, làm mắt lõm xuống và các đốt ngón tay bắt đầu rụng, có khi cả một chân, hay tay biến đi mất !... Thôi, chúng ta đừng đi xa hơn nữa, vì khó chịu nổi những nét tả sau cùng của bệnh đó...Xin được gọi cho dễ hiểu đó là bệnh Cùi !

   Người cùi phải khổ như thế, nhưng ở Palestine người đó càng phải khổ hơn ! Dân Do Thái coi bệnh cùi là hình phạt của Chúa và áp dụng mọi biện pháp nghiêm nhặt để cô lập người cùi. Họ chính thức tuyên bố người đó là “người dơ” và bắt buộc phải sống xa các thành phố. Bởi thế người cùi phải sống thiếu thốn, cô đơn, bị mọi người khinh chê, ruồng bỏ, nhất là cảm thấy tủi nhục và mặc cảm bản thân bệnh tật ; Mỗi khi có ai đi qua nơi mình ở, phải khua mõ và kêu la lên rằng : “các ông hãy ý tứ, tôi đây là người nhơ bẩn, xin chớ đến gần”

   Nhưng người cùi trong truyện đây, đã nghe đồn về Chúa, nên rất tin tưởng vào lòng quảng đại và phép nhiệm của Ngài, nên thoạt biết Ngài đi qua, thay vì hô cho Ngài tránh, còn lăn vào chân Ngài, tỏ hết cử chỉ tín nhiệm và kêu van :

    --Lạy Chúa ! Nếu Chúa muốn, Chúa hãy cho con được sạch.

   Chúa cảm thấy trong tiếng kêu van đó như tiếng kêu đau của một tấm lòng bao năm bị xé rách. Ngài cảm động thương tình, và giơ tay động đến bệnh nhân :

    --Phải ! Ta muốn lắm, con hãy được sạch.

   Chúa vừa dứt tiếng, bệnh cùi biến ngay. Những dấu vết hôi tanh không còn nữa. Nước da của người bệnh đã trắng mịn, hồng hào xinh tươi. Nhưng Chúa dặn :

    --Con hãy giữ đừng nói với ai. Con chỉ đi gặp đạo trưởng, báo cho ông ấy biết con đã được lành, và dâng của Lễ như Luật ông Môi Sen dạy.

   Chúa biết thế nào rồi bệnh nhân cũng nói trống phép lạ đã được. Vã thế, cũng là minh chứng cho dân biết sứ mạng của Ngài. Tuy nhiên, Ngài phải dặn thế để phá tan mọi bạo động cách mạng và làm yên lòng người, gieo vào dư luận cái quan niệm : Ngài đến không phải để phá đổ, nhưng để xây đắp trật tự thôi. Trước kia bệnh nhân đã bị chính thức tuyên bố là “người dơ” nay Ngài muốn người đó lại được đạo trưởng chính thức tuyên bố là  “sạch” và đồng thời, người được phép lạ có dịp tạ ơn Thiên Chúa. Ðó là lời dặn ý nghĩa rất sâu xa...

   Nhưng hình như vui quá, quên cả lời dặn, người cùi đã vội vàng đi khắp nơi khoe mình được khỏi, thành ra danh tiếng Chúa càng lan rộng thêm. Từ nay Ngài đi nơi nào là dân chúng tuôn đến nơi ấy. Họ luôn luôn tìm để gặp Ngài, để nghe Ngài giảng thuyết, để xem Ngài chữa bệnh. Tuy nhiên Ngài vẫn tìm được chỗ tịch mịch để cầu nguyện.

   Chúa Giêsu cũng còn chữa nhiều người cùi khác. Một ngày kia đang lúc vượt biên giới xứ Galilêa và Samaria để lên Jêrusalem, Ngài sắp vào một thị trấn, thì gặp mười người cùi chạy đến đón Ngài. Mười người đó đứng xa và kêu van :

    --Lạy Thầy Giêsu ! xin thầy thương chữa chúng tôi.

  Ngài nhìn họ và phán bảo :

    --Các con hãy đi trình diện với các đạo trưởng.

   Họ vâng lời đi ngay, và dọc đường, mười người đã được khỏi cả. Nhưng trong số đó,

chỉ có một người thuộc xứ Samaria trở lại cám ơn Ngài mà thôi. Người đó đến sấp mình dưới chân Ngài và tỏ hết tình tri ân. Thấy thế, Chúa phán :

    --Nào mười người không khỏi cả sao ? Còn chín người kia đâu ? Sao chỉ có một người ngoại xứ đến cám ơn Chúa ? ( Dân Do Thái coi xứ Samaria là thuộc dân ngoại )

  Rồi Ngài nói riêng với người xứ Samaria :

    --Phần con, con hãy chổi dậy mà trở về. Con tin, nên con đã được khỏi.

Thân  Hữu  Của  Người  Mù...

   Chúa Giêsu tiếp tục đi giảng khắp các miền bên bờ hồ xứ Galilêa. Ngài đi tới đâu, dân chúng kéo tới đấy. Họ đem theo những bệnh nhân : người què, người mù, người tê liệt, người câm điếc v..v.. Và Ngài làm phép lạ chữa khỏi hết : Kẻ què đi được, kẻ câm được nói, kẻ điếc được nghe, kẻ mù được xem, kẻ tê liệt được khỏi. Những phép lạ đó làm dân chúng cảm phục, kính tôn, lớn tiếng tạ ơn Chúa đã ban cho Ngài một nhiệm quyền như vậy.

  Một ngày kia người ta đem đến cho Ngài một người câm điếc để xin Ngài chữa. Ngài liền dắt người đó ra khỏi đám dân, lấy ngón tay động vào tai người đó, rồi lấy nước bọt cho vào lưỡi người đó nữa. Ðồng thời, Ngài ngửa mặt lên trời, hầu như thở dài và nói với bệnh nhân “Ephphetha” nghĩa là “Hãy mở ra” Ðột nhiên tai người ấy mở ra, nghe thấy được, và sợi giây buộc lưỡi người ấy cũng đứt luôn, người ấy nói được rất rõ. Dân chúng thấy vậy cảm kích lắm, kêu lên “Thực là mầu nhiệm, Ngài là cho kẻ điếc nghe và người câm nói”....Lần khác, đang ở làng bét Bétsai, người ta đem đến cho Ngài một người mù, để Ngài chữa. Ngài cầm tay dắt người mù ra khỏi làng, lấy nước bọt bôi vào mắt người ấy rồi đặt tay lên trên hỏi :

    --Con có thấy gì không ?

  Người mù thấy lờ mờ, thưa lại :

    --Con thấy người ta xê dịch tựa như cây biết đi.

  Ngài lại đặt tay trên mắt người mù lần nữa. Người ấy liền thấy rõ mọi vật ngay, không lờ mờ như trước. Ngài cho người ấy trở về và dặn theo :

    --Con hãy về nhà, đừng nói trống việc với ai.

  Lần khác nữa, Ngài cũng chữa hai người mù ngồi ăn xin bên vệ đường Giêricô trong xứ Giuđêa. Một trong hai người này được nhiều người biết. Ðó là con ông Timê....

  Nghe tiếng ồn ào của đám đông theo Chúa, hai người dò la biết đích là Chúa Giêsu đi qua, liền kêu lớn tiếng :

    --Lạy Giêsu, Con vua Ðavít xin thương chữa chúng tôi.

  Mấy người đi trước dọa nạt, muốn họ im, nhưng họ càng kêu to hơn trước :

    --Lạy Giêsu Con vua Ðavít, xin thương chữa chúng tôi.

  Chúa Giêsu đã nghe thấy rõ, Ngài dừng lại nói :

    --Hãy bảo họ đến đây.

  Một người chạy lại bảo hai người mù :

    --Im đi, đứng dây, Ngài gọi các anh đó.

  Hai người vội đứng dậy, quên cả áo ngoài, đưa tay cho người ta dắt đến Chúa. Chúa hỏi : “Các con muốn xin Ta làm gì cho các con ?” Hai người đều thưa :

    --Lạy Thầy, xin hãy làm cho chúng con được xem thấy.

  Chúa cảm động để tay trên mắt mỗi người và phán :

    --Ðược ! Ta cho, con hãy xem...Con tin nên con được khỏi.

  Mắt hai người liền mở ra, xem thấy rõ. Hai người cùng đi theo Chúa Giêsu, xen vào dân chúng và dân chúng hết thảy vui mừng ca ngợi Thiên Chúa về lòng quảng độ của Ngài đối với những người xấu số.

Không  Ðáng  Ðược  Thầy  Chiếu  Cố....

  Chúa Giêsu trở về Caphanaum trụ sở truyền đạo của Ngài... Có một viên bách quân trưởng trong thành đó có người con đang ốm nặng đau đớn, liệt giường sắp lâm chung.

Ông đã nghe người ta đồn nhiều về Chúa Giêsu. Ông tin tưởng lắm, nên sai mấy người đến xin với Chúa chữa người con của ông đang liệt nặng. Ðó là mấy người kỳ mục Do Thái có thế lực trong dân. Mấy ông nhận lời, đi ngay, thưa với Chúa :

    --Thưa Thầy ! Viên Thượng sĩ mà Thầy biết, có người con ốm nặng, ước ao được Thầy cứu chữa...Thầy biết ông ta xứng đáng lắm : Ông thật tình yêu đất nước chúng ta và đã xây cho chúng ta một giảng đường. Vậy xin thầy ban ơn...

  Chúa ưng thuận :

    --Ta sẽ đi và cứu chữa.

  Chúa với các ông cùng đi, hướng về nhà viên Thượng sĩ. Dọc đường mấy thân hữu của viên đó đến đón, vái chào và kính cẩn thưa :

    --Bẩm Thầy, xin Thầy chớ phiền bận. Thượng sĩ chúng tôi không đáng được Thầy chiếu cố, cũng như không dám tự tiện đích thân đến thưa Thầy. Ông chúng tôi chỉ xin Thầy phán cho một tiếng để con ông được khỏi.

  Nhưng Chúa tiếp tục đi. Một người trong đám thân hữu chạy vội về báo tin cho viên Thượng sĩ. Viên này chạy ra ngay. Ông biết mỗi khi Biệt Phái có việc phải tiếp xúc với ông hay với người ngoại giáo, lúc về, phải tắm rửa cẩn thận để thanh tẩy hết cái nhơ vì gặp người ngoại giáo. Ông nghĩ Chúa là người Do Thái hẳn cũng phải giữ nghi thức phiền toái đó. Không những thế, mà bao người Do Thái đi với Chúa cũng phải giữ theo.

Ông không muốn phiền Chúa như vậy. Nên ông đích thân chạy ra thưa với Chúa trước khi Ngài vào nhà :

    --Lạy Thầy ! Tôi quả không đáng được Thầy hạ cố tới nhà tôi. Thầy chỉ thương phán một tiếng, con tôi cũng được khỏi. Vì như tôi đây là người hạ cấp, chịu phục quyền trên, thế mà tôi bảo lính, đứa này rằng “Ðến” là nó đến ; và đứa khác rằng “hãy làm cái này” là nó làm ngay. Vậy Thầy chỉ phán một lời, là con tôi khỏi.


  Câu nói của viên Thượng sĩ làm Chúa bỡ ngỡ. Ngài cảm phục đức tin của ông. Ngài quay nhìn các kẻ theo Ngài và phán :

    --Ta nói thật, Ta chưa gặp một đức tin như vậy trong dân Israel. Vì thế, Ta nói thật, nhiều người từ bên Ðông và bên Tây sẽ đến nước Trời ngồi với Abraham. Isaac và Jacob

mà con cái trong nhà sẽ bị đuổi ra, đi vào chỗ tối, phải khóc lóc nghiến răng.

  Rồi Ngài nói với viên Thượng sĩ :

    --Ông hãy về, con ông được khỏi như ông đã tin.

  Thượng sĩ trở về và ông thấy con ông quả đã được khỏi chính lúc Chúa phán “Con ông được khỏi, như ông đã tin”.