Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 6

Quãng  Ðời  Công  Khai
Một  Dân  Tộc  Dị  Kỳ ...

   Do Thái là một dân tộc hạnh phúc nhất và cũng bất hạnh nhất ! Số phận họ đã chuyển từ cực vinh sang cực nhục. Vừa thành hình dưới bàn tay cao sang của Thiên Chúa, thủy tổ của họ ( tức ông Adam và bà Evà ) đã được làm chủ ở “Vườn Vui” nơi chỉ có mùa Xuân êm mát, và la liệt hoa thơm cỏ lạ. Trời ngày ấy dịu dàng tươi sáng, chưa bị ố nhọ vì mây đen, chưa bị xé rách vì tia chớp, chưa bị náo động vì cuồng phong. Thủy tổ họ được hoàn toàn sung sướng, cả thể xác lẫn linh hồn...

  Nhưng không may. Tội phản phúc đã đem lại hình phạt ( Hai ông bà Adam Evà lỗi giới răn của Chúa, ăn trái cấm, nên bị Chúa phạt đuổi khỏi vườn Ðịa Ðàng )  Thủy tổ bị đuổi khỏi vườn vui

và bước vào đường khổ nhục. Ông phải vất vả lầm than, bà phải mang nặng sinh con đau đớn, rồi trùng điệp những cảnh thương tâm ; con cái bất phục cha mẹ, anh em oán ghét nhau. Cain giết Abel ! làm máu chảy chan hòa, mặt đất xông mùi tội ác. Từ tội sát nhân đến tội hoang dâm và bao tội khác, không một tội nào con cháu Adam không mắc phạm. Vì thế Chúa nổi giận nôi đình đem Hồng Thủy rửa sạch trái đất. ( Chúa khiến nước lụt dâng lên giết chết con cháu Adam, và chỉ cứu thoát mỗi gia đình ông Noah ) Con cháu Adam chết lụt cả. Trừ một gia đình Noe.

Noe mở một thời đại hạnh phúc, mệnh danh thời đại, thượng phụ. Tiếp sau Noe một thượng phụ khác nổi tiếng: Abraham, con cháu ông là những người sống trên trăm tuổi, chuyên nghề du mục, phiêu lưu từ Canđê ( Chaldeans) đến Ai Cập, tìm đồng cỏ bên suối nước trong ở những giải đất bao la, tịch mịch. Là những người yêu chuộng tự do thôn dã, họ không cần quê hương và định sở. Cùng với vợ hiền con khôn và đoàn vật đông ức triệu họ tung hoành khắp đó đây, vai mang những bị nặng kim cương, vàng bạc. Ðến đâu họ căng lều ở đó, ban ngày ngắm dẫy núi chập chờn với khói tỏa trên những bếp lửa thân yêu. Tối đến hưởng gió ngàn thơm mát.

Ðời sống phong lạc của họ đang chảy trong những ngày vui.... thì đột nhiên có biến động ; là một danh nhân bị bán sang Ai Cập: ông Joseph. Nhưng sau cơn thử thách nhất thời ông đã được tôn lên chức cao, và ông đem cả anh em đồng bào cùng sang Phi châu lập nghiệp. Hồi đó Do Thái đã tưởng mình lập được quê hương. Họ sung sướng thấy dòng dõi mình ngày càng tăng nhân số và thêm phú cường. Nhưng vì họ đã thân cận với bụt thần dân ngoại, nhiều khi họ đã quì gối cầu trước bò vàng, nên Thiên Chúa lại thịnh nộ đổ hình phạt xuống, khiến họ hóa thành nô lệ ngoại bang, sống khắc khoải dưới lằn roi hung tàn Ai Cập, mãi cho đến khi ông Môi Sen xuất thế.

   Môi Sen là vị cứu tinh. Thiên Chúa trao cho ông bổn phận đưa dân về “Ðất Hứa”(đất Palestine)   Ông vui nhận, nhưng điều khiển một dân hay tráo trở phụ bạc như Do Thái, ông phải khổ tâm chẳng kém bao nhà tiên tri khác. Ông không được dân hiểu và đã có lần ông xin Chúa một giấc ngủ cáo chung. Nhưng trước khi được ưng thuận, ông phải trối cho dân hai bia đá chính tay Chúa đã khắc luật thập giới ( 10 điều răn )

   Ông qua đi.... Josua với mấy anh hùng đã thực hiện công việc đưa dân vào Ðất Hứa. Họ khiến các thành trì xứ Balêtin thất thủ dưới điệu kèn đồng và chiếm đất Cana làm quê quán.

 Thời gian thấm thoát thoi đưa, lịch sử quay chiều, thời anh hùng của họ chuyển sang thời quân chủ..... Ðavít lên ngôi bắt các liệt cường liên bang khuất phục và mở rộng cho Do Thái một hoàng kim thời đại, khiến sau này, mỗi lúc gặp gian nan. Do Thái lại xin một Ðavít tái hiện, nghĩa là cầu khẩn một con cháu Ðavít đến cứu..... Ðavít hoàng đế thanh gươm và sứ giả ca nhạc, sinh được Solomon là hoàng đế kim ngân và là ngôi sao sáng suốt (khôn ngoan, hiểu biết) Chính vua Solomon đã xây cho Ðức Giavê một cung điện vàng. Nhưng vàng bạc và khôn ngoan không cứu ông khỏi tội dâm đãng và nước ông khỏi nạn suy vong. Ông quá say mê mỹ nữ và đúc tượng thần, khiến Thiên Chúa nổi giận, chia nước ông ra làm hai mảnh.

Từ đó Do Thái bắt đầu sống những thời tối tăm sỉ nhục, lần lượt bị làm tôi các nước: Ba Tư, Ai Cập, Babylon, Hy Lạp và La Mã...

Thế là một dân tộc có tài chăn chiên hơn cầm binh khí, một dân tộc thích gây hấn với liên bang, hay sinh sự với các tiên tri và cả Thiên Chúa, một dân tộc muốn thống trị cả hoàn cầu, giờ đã thành một dân tộc không quê hương, lang thang mọi nơi trên thế giới.

   Năm ấy là năm XV dưới triều Xêgia Tibê thượng hoàng La Mã  (Ceasar Tibere)

Giải đất Balêtin bấy giờ phân chia ra nhiều mảnh và nước Giuđêa biến thành một tỉnh nhỏ trong đế quốc La Mã. Hoàng đế Tibê truất ngôi ông Archêlô và đặt ông Phongxiô

Philatô lên quản trị xứ Giuđêa.

    Anh em ông Philatô là những tay ngoại giao thiện nghệ, một đàng quỳ lạy ông chúa độc tài La mã, một đàng khéo mua chuộc lòng dân. Nếu kết quả:Philatô được cai quản xứ Giuđêa ; Antipa được cai xứ Galilêa ; Philippê được cai xứ Ituree với xứ Trachonite và Lysanias được cai xứ Abilene.

Giống như ở các nước khác bị ngoại xâm chiếm, hồi ấy người Do Thái cũng chia nhiều phái dảng. Có hai đảng đáng kể, là đảng “Nhiệm Niệm” (Sadducêô)  và đảng “Biệt Phái”

(Pharisêô)  Ðảng “Nhiệm Niệm” ( Ðảng này có lẽ do thầy thượng tọa Sodoc đứng đầu. Ðảng viên phần lớn là người thuộc giới phú hào, quyền quý. Có thể mệnh danh họ là nhóm Nhiệm Niệm, vì lập trường của họ là trong hai cái hại, phải tránh cái lớn) chủ trương thích ứng với tình thế, hết sức dung hòa với ngoại bang. Họ cho thế là thượng sách, để tránh những hại lớn, phản kháng làm gì ? Do Thái là người dân quê, gồm thiểu số những mục đồng và thương khách, muốn đạp đổ La Mã, một dân thiện chiến, đó chỉ là ảo mộng. Họ nghĩ như vậy.

  Ðối lập với đảng trên, là nhóm “Biệt Phái” (Pharisêô một danh từ mỉa mai, do tiếng Peruchim nghĩa là nhóm Biệt lập, nhóm “phân ly” Ðảng viên họ gọi nhau là “Haberim” nghĩa là bạn đồng hành hay là “bạn đồng chí” )  Nhóm này mạnh quyền và được dân chúng ủng hộ. Họ cố khêu to ngọn lửa quốc truyền, và phóng đại những trang sử vẻ vang của dân tộc, để lòng dân phấn khởi cùng đứng dậy bẻ ách ngoại bang. ( Nhóm này họ kiêu căng giả nhân giả đức, khéo nói ít làm, giảng nghĩa sai nhiều cổ truyền,và bày vẽ ra lắm tục kỳ dị, nên nhiều lần đã bị Chúa Giêsu quở  mắng.)

Thực ra, ách La mã thời ấy quá nặng, toàn dân ngóng chờ một vị cứu tinh. Quân La mã vô liêm sỉ bạo ngược, không thèm kính nể một ai. Nhiều khi chúng muốn xông xáo vào tận thẩm cung đền thờ, khiến dân chúng vô cùng phẫn uất.

Do Thái coi Ðền Thờ là chốn chí tôn. Họ thà chết còn hơn thấy một tượng thần (bụt) đặt trong đó. Họ tin Thiên Chúa là Chúa độc tôn, cao siêu tuyệt đối, không một thần phật nào được ngang hàng với Ngài. Thiên Chúa lại là Ðấng vô hình, vô tượng, nên phải thờ Ngài như vị thần linh ; không một hình tượng nào được chiếm chỗ trong Ðền Thánh..... Trước cử chỉ cương ngạnh đó, La mã đã theo chính sách dịu mềm, một đàng mặc cho Do Thái tự do tôn giáo, một đàng ưng thuận cho họ được quyền tự do nội trị, nhưng nội trị dưới con mắt của viên Giám định La Mã. Thời ấy Philatô làm giám định xứ Giuđêa và Hêrôđê làm giám định xứ Galilêa. Còn quyền nội trị do hai vị giáo chủ Anna và Caipha nắm giữ.  Anna nhạc phụ của Caipha làm giáo chủ danh dự, còn Caipha làm giáo chủ chính thức.

Nhưng xiềng đô hộ mỗi ngày mỗi nặng thêm ; cực khổ chồng chất cực khổ. Vì thế mộng giải thoát đã dâng lên tựa thủy triều. Hơn bao giờ hết, ý tưởng “Chúa Cứu Thế’ khuấy rộn nhân tâm, làm đầu đề cho câu chuyện trong nhà, ngoài chợ, chốn phố phường, nơi thôn dã, giữa nhà giảng hội và cả trong Ðền thánh. Bị trào lưu lay động, bậc trí thức cũng ra công suy tầm Thánh Kinh, khám phá ra từng nghìn câu chỉ về Chúa Cứu Thế.

Nhưng Chúa Cứu Thế đã không đến với đạo binh nghìn vạn quân và đoàn kỵ mã oai hùng. Ngài chỉ đến với thần lực của Thiên Chúa. Ngài đã tung ra muôn phép mầu, để hướng dẫn nhân loại vào con đường sáng, phục tùng sự thật và tìm ơn cứu rỗi siêu nhiên........ Và Ngài đến. . . .

Tiên  Tri   “Nước”

Ở Jêrusalem đã vang tiếng đồn về một tiên tri lạ. Ðó là tiên tri Gioan, con của đạo trưởng Da-ca-ri-a. Ông có biệt hiệu là Tẩy Giả  (Baptism)  vì ông chủ xướng thuyết lấy nước rửa cho dân. Ông đang áp dụng thuyết đó ở bãi cạn sông Jordan trước mặt thành Giêricô ( Jericho)  Sau khi từ biệt mái nhà thân yêu Magnificat (nhà ông Da-ca-ri-a) ông đã đi ẩn tu trong hang tịch mịch bên bụi cây um tùm gần một suối nước ( ngày nay gọi là “hang ông Gioan” ở gần Ain Karim )

Rừng hay được vinh dự tiếp đón những lớp nhân loại cấp trên. Người ta ham đến đó, hầu được yên lặng nung nấu trong suy nghĩ những dự định cao siêu. Hẳn cũng do vậy, nên trước ngày giáo đầu vở kịch “Tiếng kêu” Ông Gioan đã ẩn dật trong rừng vắng (ông xưng mình là “Tiếng kêu trên rừng”)

Ngày nay nhiệm vụ ông đã gọi ông ra chỗ công khai. Người ta thấy ông có dáng một sơn nhân trạc độ ba mươi, cao, gầy ; thân hình và tứ chi sạm nắng, râu rậm, tóc sõa vai và bộ mặt gân guốc, cặp mắt ánh ngời như thấu tận nhân tâm Ông che mình bằng tấm da lạc đà, thắt chặt lại với chiếc giây da. Ông thích dùng thứ châu chấu phơi khô và mật rừng làm lương thực. ( Ở miền này có nhiều châu chấu to ăn được. Ông Gioan dùng thứ đó hoặc do chính ông bắt lấy, hoặc do lữ khách đem mật rừng, thứ mật lấy trong hốc đá, thường luyện với một thứ mủ cây.)

     Tiếng đồn về ông đã đi xa, và dân sự náo nức. Từng đoàn người các nơi, nhất là ở Jêrusalem tuôn đến sông Jordan để xem và nghe ông giảng. Ông giảng cho dân:

   Các ngươi hãy ăn năn hối lỗi, hãy phạt mình, hãy cải thiện đời sống. Nước Thiên đàng đã gần, Chúa Cứu Thế sắp đến, Tôi chỉ là tiếng hô trên rừng “Hãy dọn đường cho Thiên Chúa” Các người hãy nhớ lại lời tiên tri Ysagia (Isaia) “Này ta sai sứ giả đến mở đường cho con Ta (chỉ Chúa Giêsu) Sứ giả sẽ hô lên “ Các ngươi hãy sửa đường dọn lối cho Thiên Chúa. Ðồi núi hãy thấp xuống và thung lũng hãy đầy lên, thành những con đường bằng phẳng không một khúc nào quanh co, để Con Ta ngự đến “

    Ði đôi với đời sống thánh thiện, lời lẽ ông Gioan đã gây được ảnh hưởng lớn và nhóm được lửa kính ái trong lòng người. Nhân dân mọi giới đều cảm xúc, sám hối ăn năn.... Rồi với cử chỉ truyền dạy, ông Gioan chỉ xuống sông. Và mọi người tuân phục. Nam, phu,ï lão, ấu cởi áo xuống bãi cạn, biến thành những chiếc đầu hối lỗi, để ông Gioan dội trên đó một dòng nước “Thanh tân”

  Nghi lễ đó gọi là “Phép Rửa” nó không có sức tẩy sạch tội khiên. Nhưng đó là dấu chỉ sự sám hối, khiến người ta nhận lỗi, thú lỗi và biết qui theo đường lành, cải thiện đời sống, làm Thiên Chúa thứ tha. Vì lẽ đó, ông Gioan rửa cho dân, để dọn lòng họ đón chịu lấy Chúa Cứu Thế. (Dấu rửa tượng trưng này, ngày nay vẫn còn gặp ở bên Ấn Ðộ. Từng đoàn người hàng năm kéo đến rửa mình ở Sông Hằng Ấn Ðộ, để chỉ dấu nhiệt liệt hối lỗi và thanh tẩy lương tâm )

   Trong số những người đến xin ông Gioan rửa, có cả đảng viên đảng Biệt Phái và đảng Nhiệm Niệm.

Nhưng ông hiểu rõ bọn này lắm. Trong lòng họ ẩn những cơ mưu hiểm ác như rắn độc tiềm mình dưới hang, và tâm họ cứng như bàn thạch. Nên ông nặng lời đe dọa để họ khiếp sợ và sinh lòng sám hối. Ông bảo họ:

     Hỡi những người hiểm độc ! Ai bảo các ngươi biết trốn cơn thịnh nộ sắp rình đến. Vậy cũng như dân chúng, các ngươi hãy thú lỗi đi, hãy ăn năn đi và cải thiện đời sống. Các người đừng hợm mình rằng: chúng ta chả có việc gì phải sợ ; vì chúng ta là dân Thiên Chúa ; và chúng ta lại có Tổ phụ  là Abraham ; Thiên Chúa cần chúng ta để lưu truyền đạo Người. Không đâu ! Thiên Chúa không cần các người.  Các người là con cháu Abraham ư ? Nhưng Thiên Chúa phán một lời có thể làm cho những hòn đá kia hóa nên những con cháu ấy. Thôi các ngươi đùng huyễn mình nữa ! Giờ là giờ khám bệnh lương tâm, Thiên Chúa đã rõ chân giá trị của mỗi người rồi. “Cái rìu đã đặt vào gốc cây và cây nào không sinh quả tốt, cây đó sẽ bị chặt đi và vất vào lửa” 

Nghe những lời đó dân chúng hoảng sợ. Họ tiến lại gần và hỏi ông Gioan:

- Thế chúng tôi phải làm gì ?  Phải hãm mình thế nào ? Phải khấn nguyện làm sao ? Phải dâng cúng gì vào Ðền Thánh ?

 Ông Gioan đổi giọng dịu dàng và khuyên dụ họ:

- Việc cần nhất là thực hành bác ái. Ai có hai áo, nên nhường một cho người không có. Và ai có lương thực ăn, nên chia phần cho người thiếu thốn .

Uy danh ông Gioan cũng lôi cuốn cả một số thương chính viên tới sông Jordan nữa

Những nhân viên này thường bị dân chê ghét, và họ oán lại sự chê ghét đó, bằng cách thu thuế nặng hơn và đòi nhiều lợi tức. Nhưng khi lương tâm cắn rứt, niềm hối lỗi gợn lên, họ đã tìm đến hỏi ông Gioan:

         Riêng chúng tôi, chúng tôi phải làm gì ?

Ông Gioan trả lời:

        Các ông hãy công bằng, các ông đừng đòi quá số đã ấn định.

Sau đó những cảnh binh cũng xin ý kiến ông, và ông chỉ dẫn:

  “ Phần các ông, Các ông đừng ức hiếp, đừng cường bạo, đừng vu cáo. Các ông hãy bằng lòng với số lương của mình”

   Càng ngày dân chúng càng biết rõ đời sống của ông Gioan. Ông là người siêu việt, khổ tu từ thuở nhỏ, hãm mình tu thân tích đức, không hề uống một hớp rượu, xa lánh mỹ nhân, và chỉ lo một việc phụng sự Thiên Chúa. Dân chúng thấy ông có nhiều điểm vượt hơn cả mọi tiên tri, nên họ kháo với nhau: Hay ông này là vị cứu tinh của muôn dân trông đợi ?  Tiếng đồn ông Gioan là Chúa Cứu Thế lan tới cả giai cấp trí giả. Ngày kia, một phái đoàn của giáo phẩm và Biệt Phái đến chất vấn thẳng với ông rằng:

   --Ngài là ai ?

Hiểu ý , ông Gioan trả lời minh bạch:

  --Tôi không phải là Chúa Cứu Thế.

  --Thế Ngài là ai ?Hay Ngài là tiên tri Êlia ?  ( Dân tin rằng trước ngày Chúa Cứu Thế đến, tiên tri Êlia sẽ tái hiện, để sức dầu phong vương cho Chúa Cứu Thế. Nên ở đây phái đoàn nhắc đến ông Êlia)

  --Không ! Tôi không phải là tiên tri Êlia.

  --Nhưng ít ra Ngài là một tiên tri ?

  --Cũng không.

  --Thế Ngài là ai ? Xin Ngài tuyên bố, để chúng tôi trả lời cho những người sai chúng tôi đến đây.

  --Tôi là tiếng kêu trên rừng:”Hãy dọn đường đường cho Chúa ngự đến, như lời tiên tri Ysagia đã nói xưa”

Nhưng câu trả lời minh bạch đó chưa làm thỏa mãn bọn Biệt Phái, họ vẫn còn nghi hoặc và tiếp tục chất vấn nữa:

  --Chúng tôi không hiểu. Nếu Ngài không phải là Chúa Cứu Thế, không phải là Êlia, không phải là một tiên tri nào, thế sao Ngài rửa cho dân ?

  --Ô ! tôi chỉ rửa bằng nước thôi. Hiện ở giữa các ông có một người mà các ông không biết. Người đã đến sau tôi, nhưng mạnh quyền hơn tôi nhiều lắm. Tôi không đáng được cởi giây giầy cho Ngài. Ngài không rửa bằng nước lạnh như tôi sẽ rửa, mà bằng lửa nồng của Chúa Thánh Thần. Phải ! Ngài sẽ đến với cái nia sảy lúa trong tay, để sảy cho sạch sân lúa. Hạt lúa thì Ngài sẽ để trong kho, còn rơm rạ Ngài đốt bằng lửa không thể tắt ! . . . .

Tiên  Tri  “Lửa”

   Một hôm đang dội nước cho dân, ông Gioan thấy tiến lại một người trạc ba mươi tuổi.

Người ẩn danh này xuống sông như mọi người khác. Ông Gioan đoán chừng đó là Giêsu. Người anh em họ mà song thân từng nhắc đến nhiều lần. Ông chỉ biết người đó có một sứ mạng cao cả, thế thôi. Nhưng thốt nhiên với ơn trên soi sáng, ông biết thêm người anh em họ mình chính là Chúa Cứu Thế, là tiên tri “Lửa” mà ông đã giảng cho dân. Ông liền kinh ngạc run người và cúi mình khiêm tốn:

  --Ðúng ra tôi phải đến xin Chúa rửa cho, mà Chúa lại đến cùng tôi ư ?

  Quả nhiên. Người ẩn danh đó là Chúa Giêsu.

Nghe thiên hạ nô nức đi xem ông Gioan, như là một tiên tri xuất thế, mấy anh em họ Chúa cũng đi. Rồi một ngày nọ đẹp trời, chính Chúa Giêsu cũng xếp chàng đục vào rương, bảo cho thân mẫu biết sứ mệnh của mình đã bắt đầu, và ra đi.....

       Ngài đến bãi cạn Bethania để chịu ông Gioan rửa. Nhưng ông Gioan lại khiêm tốn khước từ, nên Ngài phải an ủi và khuyến khích:

  --Không sao ! Chúng ta hãy tự vinh vì được làm chu toàn việc công chính  ( Việc công chính là vì vâng theo ý Chúa Cha, và chịu thay cho nhân loại tội lỗi. )

 Không dám cưỡng nữa, ông Gioan liền giơ cánh tay run run lên và dìm Ngài xuống nước....

Chịu rửa xong, Chúa Giêsu lên khỏi nước. Ngài ngửa mặt lên trời cầu nguyện. . . .

Ðưa mắt nhìn theo Ngài, ông Gioan thấy mây trên trời mở ra, và một chim câu từ trên đó xuông đậu trên đầu Ngài.

      Ðó là Chúa Thánh Thần hiển linh.

     Và cùng lúc ấy có tiếng trên cao dội xuống:

    “Này con Ta yêu quí, đẹp ý Ta muôn phần”

    Ðó là lễ phong vương cho Chúa Cứu Thế. Tiếng trên cao chỉ Ðức Chúa Cha ; chim câu chỉ Chúa Thánh Thần ; và Người vừa chịu ông Gioan rửa chính là Ngôi Hai Nhập Thế.  Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện hữu. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

    Tỉnh giấc ngạc nhiên, ông Gioan không thấy Chúa Giêsu nữa, Ngài đã trà trộn vào dân chúng, và những người đến xin xin rửa vẫn tiếp tục xuống sông..... Ông Gioan phải rửa cho họ, nhưng tâm trí của ông đã bay theo người ẩn danh lúc nãy.

                                                                 ***

Cuộc  Giao  Tranh
GIỮA  HAI  NHÀ  QUÁN  QUÂN  THẾ  GIỚI . . .

   Hai ông tiên tri “Nước Lửa” tạm xa nhau, mỗi người theo đường quan niệm và phận sự khác nhau.

   Bỏ cánh đồng Galilêa, Chúa Giêsu đến bãi cỏ sông Jordan, rồi từ bãi cỏ Ngài lành vào rừng xa núi vắng, chọn một nơi tịch mịch không một tiếng lạc đà kêu, không một bóng người qua lại. Ngài vào nơi đây là do ý Chúa Thánh Thần muốn Ngài có dịp chịu ma quỷ cám dỗ  ( Theo cổ truyền, Chúa Giêsu lánh lên một núi cách thành Jericho chừng 4 dặm, núi này gọi là núi “Tứ Thập”. Djebel Quarantal. )

   Giữa nơi hoang vu đầy dã thú, Ngài cầu nguyện với Ðức Chúa Cha, và nghĩ đến anh em đồng loại khổ cực dưới ách nô lệ của ác thần. Ngài thiết tha yêu nhân loại. Thế gian đầy kiêu hãnh, ích kỷ, đê mạt và oán ghét, Ngài mưu tính cải tổ lại, sáng lập ở đó một nước siêu nhiên trên nền hòa bình và bác ái. Tượng hình bằng danh hiệu”Nước Trời” Ngài quyết gánh lấy mọi tội lỗi nhân loại, và giao tranh một phen sống mái với ác thần. Do vậy, giữa rừng thâm u Ngài vui nhịn ăn bốn mươi đêm ngày và hãm phạt mình trăm cách. ( Thánh Kinh nhắc lại nhiều lần con số 40. Ông Môi Sen ở trên núi 40 ngày để nghe luật Chúa. Dân Do Thái đi đường rừng trong hoang địa 40 năm, trước khi vào “Ðất Hứa” Ông Êlia bộ hành 40 ngày để tránh cuộc oán thù của một hoàng hậu.)

    Tuy là Thiên Chúa, Ngài cũng có nhân tính như muôn người khác, và nhân lực có hạn, nên khỏi 40 ngày không ăn. Ngài thấy đói, trong mình khó chịu và gan ruột nôn nao.

    Ðã từ lâu, Quỷ Satan vẫn lưu tâm quan sát người dị nhân thành Nazareth. Hắn thấy Ngài quả có nhiều điểm siêu việt. Hắn nghĩ Ngài là tiên tri mà ông Gioan đã tuyên bố ở sông Jordan ? Nhưng không lẽ nhà đại tiên tri, không lẽ Chúa Cứu Thế lại làm thợ mộc, đóng bàn ghế để nuôi thân ? Rồi Hắn bàn định: hay ta thử thí nghiệm... Nếu Ngài tin là Chúa Cứu The mà sự thật lại khác, thì đánh đổ Ngài cũng là chuyện dễ...

    Hắn tiến lại gần Ngài và dua nịnh cách vồn vã:

  --Nếu Ngài là con Thiên Chúa, Ngài còn do dự nỗi gì ? Ngài phán một lời, những đá này sẽ trở nên bánh.

  Ý nghĩ của Satan: Nếu người dị nhân làm phép lạ để khỏi đói, tất nhiên Ngài không phải là vị thánh đáng sợ, vì Ngài ít tin vào Thiên Chúa an bài và còn lưu tâm đến cái bụng. Nên Ngài sẽ không thể cứu thế gian khỏi bệnh mê ăn và nhục cảm.

  Nhưng đối lại, Chúa Giêsu đã tuyên bố Thiên Chúa thấu hiểu sự khẩn cấp của loài người, và giờ nhu cầu điểm, Người sẽ ban của ăn. Vậy phải chờ đợi, chớ đặt vật chất trên tinh thần. Ngài trả lời đanh thép:

   --Nhưng người ta không những sống bằng bánh, mà còn bằng lời Thiên Chúa phán ra.

   Satan không thất vọng, Hắn càng hăng lên, cố nghĩ thêm mưu thâm hiểm.

Trên đường sứ mạng, Chúa Giêsu thấy nhiều chông gai. Làm cho thế gian hiểu Ngài đến cứu độ bằng giá hy sinh. Và làm cho Do Thái nhận một Chúa Cứu Thế chịu khổ hình, đó là điều khó quá. Thế mà giản tiện thay nếu bùng lên một cơn chinh chiến....

   Giữa lúc ấy, Satan lại cám dỗ..... Chúa Giêsu thấy như có kẻ mang Ngài lên tháp môn Ðền thờ Jêrusalem và nói với Ngài rằng:

   --Nếu Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài hãy buông mình xuống, đừng sợ gì. Vì lời sách chép rằng: Thiên thần nâng đỡ kẻo chân Ngài vấp phải đá.

  Chúa Giêsu cự lại:

  --Nhưng cũng có lời sách rằng: Con chớ thử Thiên Chúa là Chúa con. Con chớ nên thỉnh phép lạ vô lý.

   Theo cổ truyền Do Thái, Chúa Cứu Thế sẽ ra mắt quốc dân trên tháp môn Ðền thờ và đọc bài tuyên cáo. Ở đó dân chúng sẽ tung hô Ngài là Cứu Tinh.  Satan đã lợi dụng lời cổ truyền kia trong việc thăm dò Chúa. Và hiểm hơn nữa, hắn trưng cả lời Thánh Kinh để làm rối trí đối phương. Nhưng quỷ kế đã bị bại lộ cách chua cay, vì Chúa dạy: không nên càn dở xin phép lạ để thỏa tính hiếu kỳ của dân và lòng tự phụ của mình.

    Hai lần thất bại, Satan tức giận đầy gan, nhưng hắn còn muốn chơi một lá bài chót để đánh gỡ. Dùng lối biểu tượng hư ảo, ( Ý kiến Cha Thivolier – Le Liberateur trang 48 ) hắn dời Chúa Giêsu lên một núi cao và trong giây phút, làm cho Ngài xem thấy mọi nước thế gian với tất cả vẻ uy hùng lộng lẫy. Như trong một toàn cảnh khổng lồ, nào những cung điện nguy nga, nào những cơ binh hùng dũng, nào những chiến thuyền la liệt trên mặt biển. Rồi hắn dụ dỗ Ngài:

   --Tất cả uy lực đó, tất cả những báu vật đó đều là của ta. Ta muốn cho ai mặc ý, nhưng ta sẽ ban cho Ngươi, nếu Ngươi quỳ gối bái lạy ta.

   Nghe lời hỗn xược của hắn. Chúa Giêsu tỏ dấu tởm gớm và khinh thị, Ngài nặng lời xua đuổi:

   -- Satan ! Mi cút đi ! Mi hãy nhớ lời sách rằng:

  “Con phải thờ lạy một Thiên Chúa và phụng sự một mình Người thôi”

   Satan hoàn toàn bại trận. Hắn tạm rút lui, đợi có cơ hội, một ngày kia sẽ trở lại. Hắn quyết định sẽ gắng công mưu hại người dị nhân thành Nazareth.

     Sau bao ngày nhịn ăn và bị ma quỷ cám dỗ quấy nhiễu, Chúa Giêsu cảm thấy mệt nhọc. Ngài cầu khẩn Ðức Chúa Cha, và thoáng hiện ra cái ý nghĩ vào một làng lân cận tìm lương thực. Nhưng bỗng dưng có Thiên thần hiện đến, mang cho Ngài một số đồ ăn.

Năm  Sứ  Ðồ  Tiên  Khởi ...

    Dòng Jordan nao nao chảy giữa hai bờ cây rậm và những thành đá nghiêng cao khổng lồ. Những người đến bãi “dội nước” xem ông Tẩy Giả ( Tẩy Giả là biệt hiệu của ông Gioan làm phép rửa) đã dựng lều vải và lều lá trên bờ sông làm nơi tạm trú. Sau ngày gặp người anh em họ (tức Chúa Giêsu) tâm hồn ông Tẩy Giả luôn lẩn vẩn hình chim câu lạ và tiếng yêu thương ở trên cao dội xuống.

   Lúc ấy ông đã thu phục một số đông môn đệ, trong đó có hai người quê ở Galilêa, là Gioan ( Gioan Thánh sử Tông đồ của Chúa Giêsu)  và Anrê (Andrew) cả hai cùng là bạn đồng nghiệp, cùng quen kéo lưới ở hồ Tiâbêrát (Tebiriade) và một ngày kia cùng đến lạy tạ, xin nhận ông làm quân sư, nhiều lần và nhất là hôm nay ông ngồi trong lều lá thuật lại cho hai môn đệ đó quang cảnh diệu kỳ ở bờ sông Jordan hôm trước, và thêm rằng:

    Hôm qua ở đây tôi được vinh dự gặp Ngài, ở lối đi giữa bụi cây sậy kia. Và tôi chỉ cho dân chúng ; này là Con Thiên Chúa. Này là đấng xóa tội thiên hạ, Ngài là Ðấng đến sau tôi, nhưng vượt tôi muôn phần, vì Ngài có trước tôi. Trước kia chính tôi cũng không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi rửa trong nước, phán với tôi rằng: “Chúa Thánh Thần lấy hình chim câu đậu trên ai, thì người ấy chính là Ðấng rửa trong Lửa nồng của Chúa Thánh Thần.” Vậy tôi đã xem thấy và tôi đã làm chứng Ngài là Con Thiên Chúa, là Chúa Cứu Thế muôn dân mong đợi.

   Nghe lời thầy, hai môn đệ cảm thấy tâm hồn sung sướng và ước mong được gặp “Ðấng trông đợi” ấy. Thấy môn đệ mình ra tình khoái trá thế, ông Gioan Tẩy Giả cũng

hài lòng. Cặp mắt tinh nhuệ của ông còn phỏng đoán rồi đây hai môn đệ sẽ theo Con Chiên Thiên Chúa. Nên ông càng hoan hỷ trong dạ .

   Có tiếng lá động... ông giật mình nhổm dậy, nhảy bổ ra khỏi lều.... ông thấy một người ở giữa một đám cây gần sông. Thôi đích rồi ! Người đó ông đã nhận ra: Chúa Cứu Thế. Ông giơ cánh tay gầy gò chỉ vào Chúa và sốt sắng nói với hai môn đệ:

    --Kìa ! Ðấy là chính Con Thiên Chúa. Chính Ngài là Ðấng xóa tội thiên hạ. Ngài là Chúa Cứu Thế mà tôi vừa nói tôi đã gặp hôm qua.

   Nghe thầy chỉ bảo, hai môn đệ liền lạy tỏ tình xin theo “Ðấng xóa tội”  Và ông Gioan Tẩy Giả gật đầu cho ngay.

   Ban đầu hai người còn sợ, đi rón rén xa xa.... nghĩ bụng: không biết “Ðấng Nhiệm Mầu” kia có đoái hoài đến mình không ? Trong số nhân đinh, mình chỉ là ngư phủ thôi, nước da nâu vẫn còn thoảng mùi cá....  Tiếng lá khô sào xạc....Chúa Giêsu cảm thấy có người đi theo. Ngài quay lại và quả đúng có hai người theo dõi. Ngài hỏi:

    --Chúng con tìm ai ?

    --Dạ ! Lạy thầy ! Thầy ở đâu ?

   Ðược Chúa Giêsu quay lại hỏi giọng yêu thương, hai môn đệ sướng quá. Hai ông vội thưa “Dạ” mặt ửng đỏ....và tỏ ý “Theo” cách kín đáo “Lạy Thầy ! Thầy ở đâu ?”

   Chúa Giêsu hiểu ý, và lộ dấu ưng thuận:

    --Chúng con cứ theo Ta rồi sẽ thấy.

   Bấy giờ khoảng 4 giờ chiều. Hai môn đệ được hân hạnh đồng hành và rồi cùng nghỉ đêm với Chúa một nơi.

   Thầy trò thân mật chuyện vãn....Thầy tỏ mình có sứ mạng cứu chuộc thiên hạ, quê ở Naxareth trong xứ Galilê. Hai môn đệ quê ở Bétsai (Beithsade) cũng gần đó....Anrê là một ngư gia tài giỏi....Gioan trẻ tuổi hơn, mới nhập nghề. Gioan có cặp mắt ánh ngời như tia sáng và con tim trinh bạch của ông luôn luôn rung động trước những lời huấn dụ cao cả của thầy....

   Anrê đã nghiễm nhiên là một Tông đồ nhiệt ái, ông có người em là Simôn cũng là tay ngư phủ, đang ở quanh quẩn bờ sông Jordan để nghe xem nhà “Tiên Tri Nước”  Ông muốn người em mình cũng thành một môn đệ của Chúa. Nên sáng hôm sau lúc tinh sương, ông đi tìm em và nói “Này em ! Anh đã tìm thấy Chúa Cứu Thế,  và hiện anh đã là môn đệ của Ngài. Rồi ông dẫn em đến trình diện Chúa....

   Chúa cảm động....Ngài nhìn Simôn và để tay vào vai ông:

    --Con là Simôn, con Giona. Từ nay trở đi con sẽ gọi là Phêrô nghĩa là “Ðá”

   Chúa ngụ ý dạy: cho đến nay chỉ là một thường nhân như bao người khác, con hay thay đổi. Nhưng từ rầy trở đi, con sẽ vững chãi như thạch sơn giữa ba đào. Con sẽ trở nên cột trụ chống đỡ Giáo Hội, bất chấp mọi giông tố thế gian.... 

   Simôn chưa hiểu rõ ràng như thế. Nhưng được Chúa yêu, ông cảm xúc muôn phần, thấy vui nhẹ hơn khi thở gió mát ngoài khơi. Ông cũng sụp xuống lạy tạ, xin theo làm môn đệ Chúa.

   Ðúng với ý định, Ngài đã tỏ cùng hai môn đệ tối hôm trước, bây giờ Chúa lên đường về xứ Galilêa đem ba môn đệ đi theo. Dọc đường gặp bọn lữ khách. Trong đó ông Anrê và Phêrô (Peter)  nhận ra Philippê cùng quê ở Bétsai  (Philippe)

   Anrê giới thiệu Philippê với Chúa. Ngài vui vẻ liếc nhìn và nói với Philippê:

    --Philippê ! Hãy theo Thầy “

   Philippê thưa “Vâng” và hân hạnh theo Ngài ngay .Và năm Thầy trò tiếp tục đi phương Bắc. Trời xế bóng....Nắng oi bức...

   Ở thành Bêten (Bethel) Philippê có người bạn tâm phúc tên là Natanen ( Nathanael danh hiệu này có nghĩa “Ơn Thiên Chúa” cũng như tiếng Theodore. Người ta thường nghĩ ông này cũng là

Barthelemy con ông Tolmai. Và nếu thế thì theo Thánh Giêrôminô, Nathanael là một văn nhân quý phái, chứ không phải là ngư nghiệp.) Phlippê đi tìm bạn và bắt gặp đang nằm đọc sách dưới bóng cây vã. Ông vui vẻ đưa tin:

    --Anh có biết không ? Chúng tôi đã tìm thấy Ðấng mà cụ Môi Sen nói trong sách Luật và các tiên tri đã tiên báo là Chúa Cứu Thế. Ðó là Giêsu, con cụ Giuse ở Nazareth.

   Natanen nhảy bổ dậy, cười:

    --Chà ngây thơ quá ! Tưởng gì chớ Chúa Cứu Thế mà quê ở Nazareth ư ? Ở Nazareth nào có gì tốt ?

   Tưng hửng, Philippê không biết đáp làm sao, nhưng cũng cứ một mực quả quyết:

    --Thế anh cứ đi xem.

   Vừa tò mò vừa nể bạn, Natanen từ giã bóng cây vã ra đi....Ông đến trước mặt Chúa. Ngài nhìn thấy ông, mỉm cười cách yêu dấu và nói với đoàn môn đệ:

    --Ít ra đây cũng là một người thành thực, một công dân Israel đích danh....

    --Thế sao Thầy biết tôi ?

    --Ô ! Trước khi Philippê gọi con, thầy đã thấy con nằm dưới bóng cây vã, Thầy nghe thấy cả lời con phê phán về người thành Nazareth nữa.

   Natanen kinh ngạc, đoán chừng người Nazareth này đọc được lòng mình, và câu tục ngữ “ở Nazareth không có gì tốt” có lẽ cũng sai.... Không nghi hoặc nữa, con người ở gốc cây vã cũng xin gia nhập trường Chúa. Ông nói run run:

    --Bẩm Thầy ! Thầy thật là Con Thiên Chúa, là Hoàng thượng của dân Israel.

   Chúa trả lời:

    --Vì Thầy nói, Thầy đã xem thấy con nằm dưới gốc cây vã, nên con tin theo. Nhưng con còn xem nhiều điều vĩ đại hơn thế nữa.

   Nơi đây là thành Bêten, gợi lại cái ý nghĩ chiếc thang ông Giacóp xưa đã thấy trong mộng, trên có Thiên thần lên xuống. Chúa Giêsu nhìn năm sứ đồ tiên khởi nói xa xôi:

    --Các con hãy tin tưởng một ngày kia, các con sẽ thấy trời mở ra trên Con Người và các Thiên thần lên xuống bay lượn chung quanh.

   Ðêm về....màn tối bao phủ cả Bêten, nhưng tâm trí năm môn đệ tiên phong bừng sáng. Các ông thấy lòng ấm áp vì đã được theo “Ðấng muôn dân trông đợi” và rồi đây còn được thấy bao điều vĩ đại nữa....

Tiệc  Cưới  Cana
NƯỚC  HÓA  THÀNH  RƯỢU...

   Ngày hôm sau Thầy trò lại lên đường về phía Bắc, qua làng Cana  (Có hai nơi trong xứ Galilêa quen gọi là Cana. Một nơi là Kefr Kenna cách Nazareth 10 cây số. Một nơi khác là Kirbet Qana cách Nazareth 14 cây số. Có lẽ Chúa Giêsu đến nơi thứ hai này.) nơi đang nhộn nhịp có đám cưới.

   Ðây là đám cưới bình dân, đơn sơ giản tiện, chỉ phủ qua chút vẻ hào hoa trong y phục trong cách trang hoàng nhà cửa, và trong bữa tiệc vui, như bánh nướng, thịt quay trứng sào v..v.. và nhất là rượu. Bữa tiệc đặc cách này cha mẹ hai bên đã phải trù liệu từ lâu và cho mời những bà con thân thuộc, cùng những người có liên lạc tình nọ, nghĩa kia.

Trong số được mời có cả Bà Maria thân mẫu Chúa Giêsu, và hiện Bà đã đến dự....(Ðức Mẹ được mời có lẽ vì Người có họ hàng với đôi Tân Hôn, hoặc bên nội, hoặc bên ngoại. Lại cũng có lẽ Người giúp đôi tân hôn cả trong việc nấu món ăn và soạn thực đơn. Nên rượu hết Người biết ngay.)

Cũng ngày hôm ấy, Chúa Giêsu tới địa hạt Cana, và Ngài cùng môn đệ được mời. (Chúa Giêsu được mời cũng một lẽ như Ðức Mẹ, còn các môn đệ được mời hoặc vì các Ngài đi theo Chúa, hay vì do ông Nathanael đưa đến.)

   Xa cách từ lâu, nay mẹ con được gặp nhau trong một trường hợp đặc biệt, cả hai đều sung sướng.  Ðám chủ, khách ở Cana cũng cảm thấy hoan hỉ hơn. Thiên hạ vẫn đồn dậy về Giêsu thành Nazareth: Ngài là tiên tri và có khi còn là Chúa Cứu Thế nữa ! Nên ai ai cũng ước mong được mục kích Ngài. Nhất là ông chủ chi ( tức là người chủ sự những chi tiết về bữa tiệc “Ordonnateur”) càng tỏ niềm hoan lạc. Ông hân hạnh được xếp đặt một tiệc cưới trong đó có cả nhà đại tiên tri. Ông đích thân chạy lên chạy xuống để tiệc vui được vui hơn và chén rượu của khách được đầy luôn. Nhưng ông có ngờ đâu một lo âu đang hiện hình là rượu đã bắt đầu thiếu, rồi hết hẳn... ( Rượu hết vì:(A) Theo phong tục Do Thái tiệc cưới có thể kéo dài tới 7 ngày, mà ngày hôm nay có lẽ đã tới ngày thứ ba (xem Thivollier Le

Liberateur trang 52) ; (B) Tiện tiệc cưới gia chủ thường mời những người trong làng và cả khách qua đường nữa.(C) Vì gia chủ là người bình dân, mua rượu chỉ có hạn lượng thôi. )

   Bà Maria tuy sung sướng được thấy Con, nhưng không quên những tiểu tiết trong việc phục dịch. Sớm nhận ra rượu đã hết, Bà lại gần Con, nói thầm với Ngài bằng một giọng tín nhiệm. ( Giữa tiệc cưới thường có những lúc nghỉ, các người thân thuộc thân nghĩa nói chuyện riêng với nhau. Có lẽ trong lúc nghỉ, Ðức Mẹ nói với Chúa Giêsu khuất mặt chủ khách (xem William  La Vie de Jesus, trang 104 – 110 ) 

    --Họ hết rượu rồi !

      Ngài thưa:

    --Cái đó có quan hệ gì đến chúng ta ?...Và nữa cũng chưa phải lúc....

   Theo tâm lý, những người hiểu rõ nhau và nồng nàn yêu nhau, có lúc đối thoại với nhau bằng cặp mắt yêu đương ; điệu bộ thân mật mà lời nói có vẻ khô khan, ít đằm thắm. Lời nói lúc đó theo nghĩa đen, là chối từ, mà nghĩa thực là ưng thuận ; hay trái lại, theo nghĩa đen là quyết định, mà nghĩa thực là chối từ. Trong những trường hợp như vậy chỉ hai bên hiểu nhau, và hiểu rồi họ vừa vui, vừa an tâm tin tưởng. Hai câu đối thoại trên đây cũng ở trong luật tình ái đó.

Vì yêu mến thiết tha và tin tưởng vững chắc, Bà Maria ngầm xin Con thương đôi tân hôn, với những lời có hình thức “đề nghị” hay là “báo cáo” mà tựu trung là một lối khẩn cầu đầy tin tưởng.

Ðối lại, Chúa Giêsu cũng tỏ bộ kính yêu và cặp mắt ưng thuận với những lời lẽ có vẻ chối từ, mà sự thực là ưng theo, ưng theo một cách đặc biệt, ưng theo “dẫu giờ chưa đến”.  Hiểu rõ thế, Bà Maria thấy lòng vui rạo rực, một niềm vui như người vừa tìm được viên ngọc quý. Bà liên đi xuống bếp dặn các người phục dịch:

    --Hễ Giêsu dạy điều gì, xin các ông làm ngay.

Ðược lời dặn, ban phục dịch sắp sẵn. Họ cầu chóng được nghe thấy vị tiên tri Nazareth ban một lệnh mầu....Hôm ấy ở nhà đôi tân hôn có sáu chiếc kiệu đá  (6 lu nước) mỗi chiếc chứa đựng được từ 80 lít đến 100 lít nước.Người ta dùng nước trong đó để rửa tay trước khi ăn cơm. ( Theo tục Do Thái, phải rửa tay. Ai không rửa là lỗi Luật.)  Thấy dẫy kiệu đá Chúa Giêsu nói với ban phục dịch:

    --Các ông sách nước sạch, đổ đầy vào những kiệu này.

   Ban phục dịch vâng lời ngay. Họ sách nước đổ đầy cả 6 kiệu. Họ nghĩ: hay vì thấy nước dơ (bẩn) nhà đại tiên tri truyền phải thay nước sạch để rửa tay được hợp lễ nghi chăng ?

   Sáu kiệu nước đã đầy, Chúa Giêsu nói:

    --Bây giờ các ông hãy múc nước và đem cho người chủ chi nếm thử.

   Mệnh lệnh ly kỳ ! Họ nhìn nhau rồi mới chúc vò vào kiệu múc nước. Lạ quá ! Họ nhận thấy một hương vị khác thường như mùi rượu ngon. Họ vội mang đến cho người chủ chi nếm thử ; Ông này nếm, quả thấy là rượu ngon mà không biết bởi đâu ra ( nhưng ban phục dịch biết rõ lắm )  Ông uống cạn chén, tắc lưỡi khen rồi liền đi tìm chú rể.

  Ông trách chủ:

Theo thường lệ người ta tiếp khách rượu tốt trước, rồi khi khách đã ngà ngà mới đem hạng rượu kém ra. Ðàng này, trái lại, Ông đã giữ rượu tốt lại mãi đến bây giờ mới đem ra !

   Trước lời trách nhẹ, chú rể chỉ biết chữa mình, chàng cũng không hiểu vì sao có chuyện đó. Nhưng ban phục dịch liền vội thuật rõ phép mầu....Mọi người đều lấy làm lạ. Từ đó trong nhà đôi tân hôn, người ta càng hâm mộ và chăm chú nhìn nhà đại tiên tri thành Nazareth. Nhưng Ngài vẫn điềm nhiên và đàm thoại như không có chuyện gì lạ vừa xảy tới.

    Ðó là phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu làm ở Cana trong xứ Galilêa để minh chứng uy lực của Ngài. Ðược thấy phép lạ, nhóm môn đệ càng tin Ngài là Chúa Cứu Thế.

    Lễ cưới xong, Chúa Giêsu cùng với thân mẫu Ngài với anh em họ Ngài và với nhóm môn đệ xuống thành Caphanaum bên bờ biển Tibêrát để đợi ít lâu sẽ lên thành Jêrusalem dự lễ.

Bên  Tế  Ðàn

LOẢNG  XOẢNG  TIẾNG  VÀNG  BẠC....

 Từ Cana, Chúa Giêsu và đoàn môn đệ xuống thành Caphanaum. Ở đây Thánh Kinh dùng tiếng “xuống” vì con đường từ Cana đến Caphanaum là con đường dốc. Nó uốn khúc qua nhiều cao nguyên, rồi duỗi thẳng xuống ven bờ biển hồ Tibêrát, một biển hồ thấp hơn mặt biển Ðịa Trung Hải khoảng 90 thước. ( thước Tây)

   Chúa Giêsu xuống thành này ngụ ý lập một trụ sở truyền giáo và nhân tiện để môn đệ dễ được gặp những đội lữ hành đi thành Thánh trong dịp lễ Vượt Qua. ( Lễ Vượt Qua của Do Thái có hai ý nghĩa: Lễ kỷ niệm việc dân Do Thái vượt qua Biển Ðỏ. Và kỷ niệm Thiên thần hiện xuống Vượt Qua những nhà nào có dấu hiệu vẽ máu chiên ngoài cổng tường, để khỏi bị giết con đầu lòng, ở thời ông Môi Sen)

    Không bao lâu, tuần lễ đã tới. Chúa Giêsu và đoàn môn đệ lại tạm biệt Caphanaum để lên đường đi Ðền thờ  theo con đường Jordan Jêricô ( Có hai lối đi thành Thánh, một lối đi qua xứ Samayria ; một theo lối sông Jordan qua thành Jêricô. Lối này tiện và vui hơn.) Ði vào một buổi sáng lúc rạng đông vừa xuất hiện.

    Trong tuần lễ Vượt qua, số khách đến dự ở Jêrusalem đông lắm, đông hơn cả khách hành hương năm châu đến Lộ Ðức, người Ấn Ðộ đến Benares và người Hồi Giáo đến kinh thành Mecque. Theo sử gia Flavius Josephus số chiêm khách có khi lên tới từ hai triệu đến ba triệu người. Từ các nước La Mã, Ai Cập, Hy Lạp, Babylon, Tiểu Á tế Á, v..v.. Từng dòng người cuồn cuộn chảy tới Kinh Thành không ngớt, rồi căng lều đóng trại khắp mọi nơi. Thêm vào đó các số súc vật do các thương gia đem đến ( Các thương gia Hy Lạp, ở Alexandria v..v.. đem súc vật về bán, nhất là cho các người ở xa đến) để bán trong tuần lễ cũng rất đông, nhiều năm có đến  gần hai trăm ngàn con chiên bị giết làm của Lễ. ( theo Flavius Josephus trong tuần lễ Vượt qua, trước khi Ðền thờ bị phá năm 70, số chiên bị giết sấp xỉ ba trăm ngàn con) Do vậy tuần lễ Vượt qua cũng là tuần lễ hội chợ rất lớn.

Nhưng các phố phường ở Jêrusalem lại chật hẹp và ít chợ. Nên các thương khách thường đem bán súc vật ở trong Ðền thờ. Trước họ còn bán ở ngoài sân và ở những dẫy hành lang, sau dần dần họ đem vào bán ở hẳn trong nội đình ( Ở gần Cung Thánh có 4 nội đình: Nội đình dân ngoại giáo, nội đình nữ giới, nội đình nam giới và nội đình Ðạo trưởng. Mỗi nội đình dài 100 thước, rộng 50 thước )  Và giới đạo trưởng cũng có tỏ niềm dung thứ, vì xử trí như vậy, họ vừa làm đẹp ý dân, vừa thu được phần lời đáng kể. Bởi thế, những nội đình của Ðền thánh đã biến thành dẫy chợ ! Giữa là đoàn chiên cừu và chim câu lẫn với người mua bán ; bên cột và ở góc tường là những bàn vuông đổi vàng bạc ( Vì trong Ðền thờ, dân phải nộp thuế bằng tiền Do Thái, chớ không được nộp bằng tiền Hy Lạp hay tiền La Mã. Do vậy có nhiều người buôn tiền để chiêm khách dễ việc mua bán và có tiền nộp thuế cho Ðền thờ )   Trong chợ vang những tiếng ồn ào, huyên náo, nhiều khi là tiếng cãi nhau, xen với những tiếng chim kêu, bò rống, giữa những bầu không khí sặc mùi người, mùi súc vật, mùi phân, mùi máu và mùi thịt của các con vật bị giết.... Một nơi vui nhộn hỗn độn như vậy quả không phải là nơi yên tĩnh để cầu nguyện, không đáng mệnh danh là Ðền thánh. Vì rất khó mà đưa linh hồn lên với những tư tưởng cao xa, một khi trí khôn bị khuấy nhộn cả bốn phía.

    Chúa Giêsu và đoàn môn đệ vào trong nội đình của Ðền thờ. Vừa thấy trong đó cảnh tượng một chợ phiên, cơn thịnh nộ lập tức vận lên trong lòng Ngài như nước biển. Mặt Ngài nghiêm lại, đôi mắt tia hào quang chơp lóe, chân Ngài dẫm phải một cuộn giây thừng. Ngài liền nhặt lấy kết lại làm roi và ra uy đuổi lũ buôn bán ; Ngài đuổi cả chiên bò, đạp đổ cả bàn vuông đổi tiền bạc, và bảo những kẻ bán chim câu:

    --Các ngươi hãy đem những thứ này ra khỏi đây ! Các ngươi đừng lấy nhà Cha Ta làm nơi buôn bán.

  Và lời Ngài có uy thế lạ lùng. Mọi người đều tuân phục, chẳng ai dám phản kháng. Thấy vậy đoàn môn đệ ngạc nhiên, các ông quay nhìn nhau, vì chưa thấy bao giờ Ngài thịnh nộ như thế. Bấy giờ một người trong các ông ấy, thạo Thánh Kinh, có lẽ là ông Natanen sực nhớ lại lời sách Thánh Vịnh rằng “Lữa nhiệt ái của nhà Chúa đốt cháy lòng tôi”.

Nhưng khỏi một lúc, bọn người bị đuổi định thần lại. Họ nghĩ tại sao mình bị đuổi ? Thầy Thượng phẩm đã cho phép, sao ông này lại cấm, và một người trong họ tiến lại nhiều người khác theo sau, vặn hỏi Chúa:

    --Ông có bằng chứng gì để làm chứng việc ông đã làm ?

   Câu hỏi cũng giống như câu hỏi ngày nay: “ Giấy tờ ông đâu” ?

     Chúa trả lời:

    --Các ngươi hãy phá Ðền thờ này, và trong 3 ngày ta sẽ xây lại.

   Câu trả lời bất ngờ làm họ cười ồ lên:

    --Ðền thờ này làm mất 46 năm trời, mà ông sẽ xây lại trong 3 ngày ư ?

   Họ hiểu về Ðền thờ bằng cẩm thạch. Nhưng Chúa ngụ ý nói về Ðền thờ là thân thể Ngài. Sau này khi Ngài sống lại các môn đệ mới hiểu ra lời Chúa đã phán.

       Trong tuần lễ Vượt qua. Chúa Giêsu đã tỏ ra cử chỉ uy hùng trong việc đánh đuổi tụi con buôn ra khỏi Ðền thánh và còn làm nhiều phép lạ nữa. Nên đoàn môn đệ khâm phục Ngài hết sức. Một số lớn dân chúng cũng tin theo Ngài. Nhưng Ngài chưa tín nhiệm họ vì Ngài hiểu rõ tâm tình của họ, một tâm tình biến đổi tựa như mây đen xê dịch giữa khoảng không theo luồng gió.

Phải  Sinh  Ra  Bởi  Nước...

    Ở Jêrusalem có một cụ già thông thái quý hiệu là Nicôđêmô. ( Nicodemus) Cụ có chân trong nhóm Biệt Phái và là nhân viên cao cấp trong Thượng nghị viện. Cụ đã từng nghe nhiều về Chúa Giêsu thành Nazareth. Nhưng là người của sách vở, quen chơi với ánh sáng của khoa học. Cụ ít tin những chuyện về phép lạ phép mầu. Tuy nhiên những dấu lạ lùng của nhà tiên tri kia mỗi ngày càng thêm số, và dân chúng khắp nơi đồn dậy về Ngài. Nên dần dần trí khôn Cụ dời tủ sách hướng theo nhà tiên tri mà Cụ chưa quen. Ðã có lần trí khôn Cụ thấp thoáng một nghi hoặc: Hay biết đâu Người như thế không phải là Người của Thiên Chúa ?

     Một đêm kia trời sáng đẹp với muôn sao, Cụ đi tìm Chúa Giêsu để thảo luận.

  Cụ mở đầu câu chuyện bằng một cách khiêm cung:

    --Thưa Thầy ! Thầy quả là Người của Chúa Trời, Thầy đến đây dạy chúng tôi con đường Thánh vì không ai làm được phép lạ như Thầy. Vậy xin Thầy chỉ dạy cho, đạo lý của Thầy thế nào ?

  Tuy là một nhà trí thức uyên thâm, có địa vị trọng yếu trong nhóm Biệt Phái, nhưng cụ già Nicôđêmô vẫn giữ được vẻ hồn nhiên thẳng thắn trong tâm hồn. Cụ quyết đi tìm Chúa Giêsu, để được trực tiếp quan sát đạo lý của Ngài. Nhưng sợ đi lúc ban ngày sẽ lộ chuyện, nên tối đến Cụ mới đi. Vã nữa, đêm tối thường làm cho cuộc đàm đạo thêm thân mật. Là bậc trí thức lão thành, Cụ đã mở đầu một cách khiêm từ khéo léo.

   Biết rõ Cụ hồn nhiên thẳng thắn, Chúa Giêsu đi thẳng vào vấn đề, Ngài thưa lại:

    --Ðể hiểu rõ nước Thiên Chúa, cần phải giữ một điều kiện là phải tái sinh.

  Cụ Nicôđêmô mỉm cười bỡ ngỡ:

    --Thế nào ? Phải tái sinh ? Ngần này tuổi như tôi mà còn phải vào bụng mẹ để tái sinh ư ?

   Chúa đáp:

    --Thế đấy.Ai muốn vào nước Chúa Trời đều phải sinh lại cả. Nhưng là sinh lại bằng nước Chúa Thánh Thần. Vì ai sinh ra bởi xác thịt, người ấy thuộc về xác thịt. Và ai được Chúa Thánh Thần sinh ra, người ấy mới có tinh thần.

   Ý Chúa muốn nói có hai cách sinh ra. Một cách tự nhiên do lòng mẹ. Một cách siêu nhiên do ơn Chúa. Cách thứ hai này gọi là sinh ra bởi nước và bởi Chúa Thánh Thần, vì đồng thời với nước rửa phần xác, Chúa Thánh Thần ban ơn thánh hóa bên trong, để người ta cải tà quy chánh, mặc lấy đức tính siêu nhiên. Nhờ cách thứ hai này, người ta mới hiểu được nước Trời, một nước siêu nhiên mà Chúa đã đến để sáng lập ở trần gian

  Cụ già Nicôđêmô cúi đầu. Về suy nghĩ gần như sửng sốt hiện trên khuôn mặt. Cụ chưa lĩnh hội được ý nghĩa danh từ “sinh lại bởi nước.”

  Chúa Giêsu tiếp theo:

    --Ông bỡ ngỡ ư ?... Ta không nói về người ta phải thoát ly cõi trần, đi vào lòng mẹ để rồi trở nên hài nhi. Không ! Không ! Hiểu như thế là chật hẹp quá ! Chính ý Ta là nói về tái sinh bằng tinh thần.

  Một làn gió thoảng qua, không khí bớt nặng nề, Chúa Giêsu mượn trong đó một ví dụ:

    --Ông nên suy nghĩ sâu hơn. Kìa gió thổi đi từ muôn ngã, ông nghe tiếng gió rít lên mà không biết nó xuất xứ từ nơi đâu và hướng tới chỗ nào. Thế người ta tái sinh lại bởi Chúa Thánh Thần cũng vậy.

  Ðó là cuộc tái sinh Chúa Thánh Thần làm cách thiêng liêng trong lòng, không ai xem thấy, nhưng công hiệu của nó vẫn cảm được.

  Cụ già ngẩng đều lên tròn xoe đôi mắt:

    --A ! Quả thật công việc như thế ư ?

    --Chính vậy....Ông là tiến sĩ trong dân mà cũng không hiểu ư ? Những điều Ta nói với ông là sự thật, Ta nói điều Ta biết và chứng thực điều Ta đã xem. Thế mà ông chưa tin Ta. Nếu Ta nói về những chuyện xảy dưới đất mà ông không tin, đến lúc Ta nói về những sự trên trời, ông sẽ tin sao được. Vậy mà không một ai có thể lên trời, và biết những chuyện trên đó trừ ra “Con Người” ở trên trời đã xuống thế.

    Cụ già đâm hoang mang, trong lòng Cụ nổi lên một cuộc giao tranh dữ dội. Cụ muốn theo Chúa đi vào con đường tái sinh, nhưng lại sợ những hy sinh to lớn, khiến Chúa phải nồng nàn an ủi, kích thích Cụ mạnh dạn theo Ngài. Chúa tỏ cho Cụ cả cuộc thọ nạn Ngài sẽ chịu để cứu chuộc sinh linh:

    --Ông biết xưa kia ông Môi Sen đã treo lên ở giữa rừng một con rắn đồng, để những ai bị rắn lửa cắn, nhìn lên rắn đồng ấy sẽ được khỏi. Về Con Người “cũng vậy” Con Người cũng sẽ bị treo lên một cách cực nhục trên khổ giá, để những ai nhìn lên và tin tưởng, sẽ được sống muôn đời.

     Cuộc gặp gỡ đã tới đích, Cụ già Nicôđêmô cảm động, đặt trên tay Chúa một cái hôn sốt dẻo tỏ tình tôn kính thần phục. Rồi lui về.....Trên trời khuya muôn sao vẫn lấp lánh, như hòa điệu với những cảm tình phơi phới trong lòng Cụ Nicôđêmô.