Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 5

Thánh  Gia  Trên  Ðường  Lưu  Lạc ...

Lời tiên tri của ông Simêon không bao lâu đã ứng nghiệm.

Trong lúc trẩy đi, Ba Vua được lệnh Hêrôđê phải trở về thuật lại. Nhưng cứ lời dặn trong giấc mộng, Ba Vua không thể theo ý Hêrôđê, và đã đi lối khác trở về quê quán. Thói thường, những ai hung ác, hơi bị phật ý là tìm cách báo oán. Hêrôđê nghe bọn nịnh thần nói ba nhà chiêm tinh đã chủ tâm lỗi lời sai hẹn, ông liền nổi giận bừng bừng mặt mày nóng ran, ông bực tức với cái ý nghĩ:  Có lẽ họ phản mình, họ chủ tâm nhau bầu một người lên chiếm vị và che dấu dưới cái danh từ “Chúa Cứu Thế” Biết đâu sự thật không phải là mở đầu một cuộc cách mạng. Cách mạng, ừ cách mạng ! Mà cái đó ta phải bóp chết ngay còn trong thai và dìm trong vũng máu !  Ý nghĩ đó càng rõ rệt và thêm mạnh mẽ. Theo đà nghi kỵ, Hêrôđê hạ lệnh cho cảnh binh riêng của ông phải tới ngay Bê Lem và những vùng chung quanh, giết cho sạch mọi hài nhi từ hai tuổi trở xuống theo như ngày giờ ba nhà chiêm tinh đã nói về ngôi sao lạ hiển hiện.

  Sắc lệnh truyền đi, quan sát nhân bắt tay vào việc. Một số nam nhi ( trẻ con nam ) đã bị làm mồi cho những lưỡi gươm tàn nhẫn, làm các sản phụ mất con đau đớn như điên như dại, than khóc dậy trời. Lời ông Giêrêmia nói tiên tri ngày trước quả đã ứng nghiệm: là ở Bê Lem vang lên những tiếng khóc than vì đau khổ. Ðó là tiếng bà Rakiên (Rachel) khóc thương con cái. Bà thất vọng vì các chúng đã không còn.

   Hêrôđê là một tay chuyên môn giết người, nên trong vụ sát hại hài nhi, ông đã áp dụng mọi cơ mưu độc ác:

  -   Ủy cho một ban cảnh binh riêng ; định rõ hạn tuổi hài nhi ; nơi hài nhi ở ; và truyền thực hành cấp tốc, không để thời giờ kịp thoát nạn.

 Thật là nhà vua không bỏ sót một điều gì theo phương pháp nhân loại. Bọn vô thần không tin có siêu nhiên, nên họ phải hành động một cách vô cùng khôn khéo.

Nhưng ngờ đâu, họ đã quên rằng có Thiên Thần. Mà cái đó mới thực quan hệ.  Vậy ban đêm, trước khi sắc lện Hêrôđê được áp dụng. Thiên thần đã hiện đến báo mộng cho ông Giuse:

  "Hỡi Giuse ! Hãy chỗi dậy và cấp tốc mang Hài Nhi với Mẹ Người sang Ai Cập, và cứ ở đó cho đến khi có lệnh mới, vì Hêrôđê đang tìm sát hại Hài Nhi”

Ðược lên, ông Giuse liền chỗi dậy, và ngay trong đêm ấy, trốn đi, đem Hài Nhi và Mẹ Người cùng sang Ai Cập !

  Thế là chương trình của Hêrôđê đã bị phá hỏng. Không một hài nhi nào ở Bê Lem thoát tay lý hình, chỉ trừ ra chính Hài Nhi người ta định mưu hại là Giêsu thôi ! Sự xảo trá của nhân loại đã thua Thiên Chúa một cách đau đớn và mỉa mai biết dường bao !

                                                               ***

   Bà Maria được gọi dậy bằng những tiếng sét đánh ; Hêrôđê tìm sát hại Hài Nhi. Lòng bà tê tái. Lần đầu tiên bà cảm thấy mũi gươm nhọn ông già Simêon đã báo trước ! 

Bà mau mắn khoác chiếc áo ngoài vào, và ẵm chặt lấy Hài Nhi, mang thêm mấy chiếc khăn chiếc tã nữa để bọc ấm người con yêu trên cánh tay đang khóc vì vừa tỉnh dậy. Bà sẵn sàng ra đi. Ở ngoài ông Giuse cũng đã sửa soạn xong con lừa. 

  Một tiếng động khẽ.... Cánh cửa khép lại trong đêm tối. Và hai người bắt đầu lẩn trốn như có kẻ rình giết bên cạnh. Ông Giuse rảo bước, bà Maria với Hài Nhi ngồi trên con lừa hiền hậu. Nó hiên ngang như được vinh hạnh mang cả một cơ nghiệp và mối hy vọng của gia đình Thánh. Nó không hiểu gì và cũng không biết kể công mệt nhọc nếu phải qua một quãng đường dài khoảng 40 cây số. ( 40km )

 Ðêm tối gió lạnh thổi.... Nhưng thế mới tốt cho những người lánh nạn. Hai ông bà bồn chồn lo lắng, nhưng mặc, cứ tiến và phải tiến luôn ! Từ Bê Lem đến Ai Cập phải đi hai ba ngày đường kia mà....Ðồng thời theo nguồn hiểu biết của Thiên Chúa, Hài Nhi Giêsu nhìn qua lần khăn bọc, thấy rõ dòng máu lai láng của các Thánh Trẻ chảy ra. Ngài ra chiều ngủ mệt, nhưng lòng Ngài vẫn thức. Ngài lấy thánh ân hộ trì các bà mẹ mất con đang khóc lóc và thêm can đảm cho các bà chịu khổ, cũng như Ngài an ủi thân mẫu Ngài, nhất là những lúc trái tim thân mẫu như bị mũi gươm đau khổ thâu qua. 

  Từ Bê Lem đến Ai Cập xa độ 200 cây số. Có lẽ hai ông bà đi theo con đường Bê Lem-

Gaza-Suez-Egypt. Ðó là con đường gần, cách xa biển sa mạc, và có cái lợi là dễ kiếm nước, ít nguy hiểm và thấp thoáng có những bụi cây xanh để có thể tạm nghỉ chân.

Qua kinh Suyê ( Suez ) hai ông bà đến một thành gần đó tên là Hêliôbôlít ( Heliopolis ) rồi từ thành này đến Matariết ( Matarieh ) cách thủ đô Ai Cập ( Cairo )  10 cây số.

Matariết là một hương thôn ở trong lãnh thổ nước Ai cập. Nhưng hồi ấy cũng hầu như khoảnh đất của người Do Thái, giống như Chợ Lớn ngày nay dưới tay Hoa kiều. Họ chiếm bằng nhân số và quyền lợi. Nguyên từ ngày vua Nabucôđônôsô (Nabuchodonosor) tàn phá thành Jêrusalem, một số đông Do Thái sang lập cư bên Ai Cập. Rồi số kiều dân tăng lên mãi có tới một triệu, họ phải đi ở rải rác nhiều nơi. Họ đã xây ở Lêongtôbôlit (Leontopolis) một đền lộng lẫy ngang với đền Sion ở quê nhà. Tuy nhiên họ vẫn trung thành với cố hương và liên lỉ tiếp xúc với những anh em đồng đạo ở chính quán. Ngoài ra ở Alịchsandra ( Alexandria ) cũng có nhiều nhà trí thức Do Thái. Họ chuyên dịch sách cho thư viện Pharaong Paolemêo II.  Trong số các bản dịch Thánh Kính, có bản dịch “Bảy Mươi” là nổi tiếng nhất.

  Vậy Thánh gia bó buộc phải định cư ở Ai Cập, nơi đất khách quê người, trăm chiều túng thiếu. Giữa khung cảnh mới, ông Giuse đã sớm xoay nghề xưa, tra tay vào công việc cưa đục để kiếm ít đồng chi dụng.

Khung cảnh Ai Cập thật là ly kỳ, trên mặt sông Nilô cuồn cuộn sóng, những cánh buồm to tha thướt khắp nơi, nhẹ nhàng băng mình trên dòng nước nâu nâu giữa hai bờ tre sậy.

Ở đàng xa trên nền trời tím, thấp thoáng bóng Kim Tự Tháp đồ sộ. Trên mặt đất đó đây la liệt những di tích ; nào là văn bia của tiền đại Pha-ra-ông, nào là những dẫy đền chùa, nào những tượng thần trăm thứ, đứng sững trên những thạch trụ khắc chạm hình người với đầu ngựa hay bò xen với bầy yêu tinh. Phong tục và cách phục sức cũng lạ lắm. Người ta ăn mặc lố lăng, thích chưng diện và kiệu rước hàng trăm thứ tượng thần bằng đất sét. Người ta đua nhau sức thuốc thơm những tượng thần và thích thờ thần trong những núi đá nhỏ ở khắp nơi.

    Trước khung cảnh trần tục và dị đoan ấy, Thánh gia cảm thấy buồn phiền và tịch mịch cô đơn !

Trên  Ðường  Về....

   Thánh gia phải cư trú ở Ai Cập để đợi ngày về đúng như lời tiên tri đã nói xưa "Ta sẽ gọi con Ta ở Ai Cập về “

 Thánh Kinh không nói rõ Thánh gia ở Ai Cập bao lâu ; nhưng theo các nhà chép sử, có lẽ Thánh gia ở đó chừng 2 hay 3 năm ( Chúa Cứu Thế sinh ra năm 747 từ khi lập thành La Mã, thế mà Hêrôđê băng hà năm 750. Nên có lẽ Thánh gia ở Ai Cập chừng 3 hay 4, 5 năm) Nhưng giờ về quê đã điểm.

Một ngày kia, khắp nước Ai Cập bắn ra tin lớn: Hêrôđê đã băng hà !

Hêrôđê ai mà chẳng biết. Một tên bạo chúa số một, khét tiếng gian hùng ! Ông chết năm 70 tuổi, do những việc quái ác, nhà vua mắc chứng bệnh ung thư trong ruột, đau đớn ngày đêm như bị mổ, muốn chết đi mà không được. Ðã có lúc đau đớn quá, nhà vua định tự sát cho xong đời, nhưng khốn nỗi người ta lại cản trở. Cơn đau cứ mạnh thêm, thêm mãi. Nhà vua quá điên dại, nhất là vì nghĩ đời mình sắp héo tàn và cái đó lại sẽ được thiên hạ chào mừng bằng những tiếng cười vui như là một điềm cứu thoát ! Nhà vua muốn mình du hành âm phủ phải có tiếng khóc theo sau, nên lập mưu bắt nhốt nhiều gia đình quý phái ở nhà cạnh kỹ thành Giêricô, và mật lệnh cho bộ hạ phải sát hại các gia đình ấy, khi vừa có tin mình băng hà. Như thế ắt sẽ có muôn người khóc. Nhưng cũng còn may, quỷ kế đã được cản lại và không một gia đình nào bị giết.

Tuy nhiên người ta cũng cất ma cho nhà mua cách trọng thể. Di hài nhà vua được mặc áo hồng, xức thuốc thơm, được khiên trên cỗ đòn vàng và được thắp hương nến. Nhưng đám ma đi qua đâu cũng bị dân chào bằng chuỗi lời nguyền rủa .

Tin vua Hêrôđê băng hà lan rộng. Nhưng Thánh gia vẫn chưa biết, mãi cho đến một đêm kia.... Ðêm ấy ông Giuse đang ngủ, Thiên thần Chúa lại hiện đến và ra lệnh: 

  "Hỡi Giuse ! bây giờ ông hãy chỗi dậy và trở về Israel với Hài Nhi và Mẹ Người, vì những kẻ mưu toan hại Ngài đã chết ! “ 

Vậy giữa đêm khuya, đang lúc trời đất lặng ngủ, hai ông bà lại thức dậy, đem Hài Nhi lên đường về. Ông Giuse định trở lại Bê Lem, vì ở đó vừa tiện bề sinh nhai đối với nghề nghiệp của mình, vừa là quê hương vua Ðavít tổ phụ Chúa Cứu Thế. Nhưng đến biên thùy, ông gặp một người đi đường cho biết Archêlaô đã lên thay vị cha, cai trị xứ Giuđêa Archêlaô là trưởng nam vua Hêrôđê. Ông này cũng ác lắm. Một hành động đầu tiên của ông là khánh thành cuộc lên ngôi bằng dòng máu của 3000 người Do Thái bị giết hại. Ông quả không kém Hêrôđê. Thành ra ông Giuse sợ không dám trở về xứ Giuđêa nữa...

  Hai ông bà san sẻ nỗi phân vân, rồi cùng cầu nguyện... Thiên thần lại hiện ra bảo phải trở về Nazareth ở xứ Galilêa (Galilee)

Nên một buổi sớm tinh sương, ông Giuse mau mắn lên đường, cùng với con lừa hiền hậu chở bà Maria và Hài Nhi với bọc hành lý thối thiểu, hướng về thành Nazareth đúng như lời tiên tri đã nói xưa: “Ðấng chịu xức dầu sẽ gọi là người bản hương Nazareth”.........

   Hai ông bà Giuse và Maria vắng nhà đã lâu ngày...... Không ai ngờ đến những trường hợp éo le và lạ lùng đã xảy đến cho gia đình thánh ấy. Họ hàng thân thuộc lại thăm, nhưng câu chuyện chỉ thu gọn vào những lời hỏi han thường lệ. Trước mắt thế gian, đời sống của Thánh gia lại trôi théo thời gian với mực thường như bao đời sống khác..

Ðời  Sống  Bình  Dân

 NGƯỜI CHA LÀM THỢ MỘC, NGƯỜI MẸ THÊU THÙA, NGƯỜI CON ÐI MÚC NƯỚC..

    Một tiểu thôn xứ Galiêa được gọi là Nazareth nghĩa là “Cánh Ðồng Hoa, vì nơi đó là xứ sở của trăm hoa ; khắp đó đây những cây hoa mọc la liệt làm thành một cánh đồng thiên hương vạn sắc.

  Tiểu thôn xinh đẹp ấy, nằm cheo leo bên những ven đồi hướng mặt về cánh đồng Êđơlông (Esdrelon) và ngày nay lởm chởm nào thánh đường, nào tu viện, nào tháp chuông, giữa những ruộng hoa nhịp nhàng tha thướt, những cây trắc bá đen, những dàn nho chi chít quả, những mẫu lúa mì nặng chĩu hạt và những giếng nước bao giờ cũng trong sạch và thơm mát.... Chính trong cảnh sắc đó, Chúa Cứu Thế đã sống trọn quãng đời mai ẩn của Ngài trong khuôn khổ một gia đình bình dân.

   Không mấy lúc sau ngày hồi hương, những người bản quán quên rằng có lần ông Giuse đã xuất ngoại. Họ gọi ông cái danh từ đượm mồ hôi “Bác thợ mộc”

Thợ mộc, nghĩa là một người vừa làm xà nhà, kèo cột, vừa đóng bàn ghế, tủ,giường và có khi liêm cả công việc của thợ nề ( Theo Thánh Kinh kể lại, dụng cụ của thợ mộc là, cái cưa, cái búa, dây nảy mực, cái đục và cái thước đo. )  Công việc thường nhật của ông Giuse là cưa gỗ, làm nhà, đóng bàn ghế tủ, lắp ráp với những con cá thô sơ ; sửa những món cày gỗ, hay làm chuồng bò, chiên, ngựa v..v..   Xưởng của ông là một sân hẹp và một căn nhà nhỏ vừa làm phòng ăn, vừa làm buồng ngủ, có một cái cửa sổ đem vào chút ánh sáng và không khí.

Ðồ đạc trong nhà thô sơ, góc này là một hỏa lò để nấu nướng ; góc kia là một cái thùng, dăm ba cái chum (cái lu) đựng nước, quả khô và lúa ; thêm một vài cái nồi và mấy cái đĩa.... Ở chân tường, vài cái rương dùng thay tủ quần áo, vài ba cái thúng và một cái trụ nhỏ nâng đèn dầu để soi sáng ban đêm. Trong nhà có một cái thang hẹp lên gác thượng,

gọi là mái bằng ; về mùa hè mái bằng là chỗ đón giấc ngủ dưới ánh trăng sao..... Có lúc chạy việc, trời thanh gió mát, ông Giuse cảm thấy tâm hồn thanh thản. Có lúc làm không đủ ăn, trời lại nồng nực khó thở trêu ngươi, làm ông khổ sở. Nhưng với Hài Nhi và người bạn hiền trước mặt, ông vẫn cảm thấy nghị lực dồi dào và lòng sung sướng nao nao.

Bà Maria vui việc nội trợ. Khi thì quét dọn ở ngoài sân quanh chỗ ông Giuse làm việc dưới bóng cây vã ; lúc thì thu xếp trong nhà, hay thêu thùa và bếp núc. Bà mặc cái áo dài lượt thượt phai màu viền gấu, đầu đội lúp trùm bỏ thõng xuống đàng sau che món tóc kết lại bằng mấy cây kim cài, chân đi đôi dép đế gỗ. Theo lối phục sức thời ấy, phụ nữ nhà giầu quen nhuộm tóc, đội lúp trùm hình tua rua, trên có đính mấy sao bằng vàng hay bằng bạc lấp lánh, trong người thì mang túi đựng thuốc thơm và đi giầy da gót kín.

Riêng bà Maria thì chuộng lối bình dân, rất giữ gìn trong cách ăn mặc, tuy nhiên vẫn y phục xứng bậc, hợp với thói lành chỗ hương thôn và làm vinh dự cho chồng....

    Giêsu một Hài Nhi linh lợi khôi ngô, da dẻ hồng hào trắng mịn, cặp mắt lóng lánh như sao mai, luôn luôn nở nụ cười và thích ở bên Mẹ. Cậu thích bám chặt vào áo Mẹ cả khi người bận việc. Cậu cũng ưa nhìn ông Giuse và thích nhận xét cách ông cưa xẻ.

 Giêsu là Thiên Chúa đấy. Nhưng lúc đó thiên tính của Ngài ẩn dưới màn nhân tính, giống như đỉnh núi nằm dưới đợt sương mù. Với tầm thước tí hon, Ngài đưa mắt nhìn vũ trụ. Ngài ưa xem Mẹ Ngài xay bột trong cái cối xay bằng hai thớt đá chồng lên nhau, rồi pha men và nướng bánh. Ngài ngắm nhìn đường kim mũi chỉ trong tay Mẹ, và nhiều khi Ngài theo Mẹ đi múc nước, rồi lại theo sau Mẹ đội vò nước về nhà.

 Người Nazareth hay thay đổi. Họ đang chuyện trò vui vẻ, bỗng sinh sự cãi nhau om sòm, nhất là ở bên bờ giếng, do vậy có câu thành ngữ mỉa mai “Cáu kỉnh như người Nazareth” Trong việc tiếp xúc với họ, Thánh gia phải ý tứ luôn luôn và rất êm đẹp, nhưng thế cũng không xong. Những kẻ khó tính thay vì khen những người họ thường tới lui, là đơn sơ chân thật, tận tâm, và vui vẻ ; họ lại đưa ra những lời không khéo:

-  Cái gia đình đó mới thật là gàn, đạo đức không phải lối. . . . .

Người khác đệm thêm:

-  Ừ ! mà việc gì phải qua Ai Cập.

Lại có kẻ thấy Thánh gia thuận hòa cách lạ, nhất là thấy Hài Nhi thông minh ngoan ngoãn, họ đâm ra ghen. Trong lúc trò truyện họ chỉ trích:

-  Bà ấy yêu con như thờ Chúa tể.

-  Phải ! Mà việc gì phải thờ, phải yêu như thế.

-  Bất quá cũng là con bác thợ mộc là cùng mà thôi !

                                                                  ***

    Giữa cảnh Nazareth êm đềm đầy thi hứng Hài Nhi Giêsu đã lớn lên, mạnh lên và trí khôn Ngài đã tuần tự thức tỉnh

 Giêsu đi nhà trường ( Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu không cần đi học cũng dư biết. Nhưng Ngài muốn giữ luật thường như bao nhiêu người khác ) Cậu học hành chăm chỉ, và mê man đọc những cuốn sách Sử và Tiên Tri.

Cứ hình thức, Giêsu là một con trẻ như bao con trẻ khác. Trước kia khóc cười, cười khóc và lẫm chẫm tập đi, ngày nay cậu đã cao lên và đầy đặn, cậu tra tay vào công việc xưởng mộc và đồng áng. Ông Giuse có một khu đất nhỏ trên đồi, những giờ rảnh việc ở xưởng, ông đi cuốc đất. Giêsu cũng đi theo; Cậu đem theo đoàn chiên đi chăn, thỉnh thoảng lại nhìn ông cuốc xới, đốt cỏ và gieo hạt, đôi khi Cậu cũng phụ giúp ông đào cuốc... Lúc về Cậu thường hái cho Mẹ mấy bông huệ rừng, mấy bông mẫu đơn hay vài chùm nho chín thẫm.

Ông Giuse mãi miết làm việc cả ngày, nhưng lòng trí luôn nhớ tới người con thân yêu, nhất là nhớ lúc Mẹ Ngài tập cho Ngài bập bẹ nói tiếng "Giavê” nghĩa là “Thiên Chúa” tức là Cha thật của Ngài.

Nhưng nếu người ta thấy nhiều con trẻ có xu hướng về âm nhạc, hội họa hay về văn chương thi phú.... Thì người ta thấy trẻ Giêsu là một thần đồng siêu việt trong địa hạt Tôn Giáo. Trẻ Giêsu có những quan điểm rõ rệt, cao thâm về kinh nghiệm nghi lễ. Quả thật thiên tính của Ngài, đã lần lần chiếm lấy khoảng không át cả nhân tính ở trong Ngài, cũng như mặt trời chói sáng giải hào quang xuống trái đất, mây mù càng tan lỏng ra. Người ta cảm thấy ơn Chúa ở trong Ngài. Và thân phụ vui sướng vì thấy ánh vinh quang của thiên tính ở trong Ngài tỏa sáng ra.

Mỗi ngày hai buổi Thánh gia cầu nguyện chung, ông Giuse đứng đầu xướng xuất. Ông thường rút ở trong cái hộp treo ở gần cửa ra một cuốn sách bằng da cừu, xướng kinh ban mai, và ban tối: “Chỉ có Chúa chúng ta là chính Thiên Chúa độc tôn. Con phải thờ phượng kính ái Người với hết tâm hồn con ... “

Các ngày thứ bảy trong tuần là ngày tiến dâng Thiên Chúa. Ngay từ chiều hôm trước, lúc mặt trời ẩn sau ngọn núi, một hồi kèn trong làng vang lên báo hiệu ngày thứ bảy đã gần. Mọi người mau mau thu xếp công việc, vì một giờ sau, tiếng kèn vang lần nữa, là ngày thứ bảy bắt đầu rồi. Từ lúc đó trong mọi nhà phải nhóm lên “ngọn đèn của ngày thứ VII” (Chính chữ là “Lampe du Sabbat”)

Ðèn nhóm lên tượng trưng một ngày vinh quang hoan hỷ. Trong vòng 24 giờ không ai được thổi nấu, người ta phải giữ sẵn trong lò của ăn đã dọn sẵn từ hôm trước. Ngày thứ VII toàn dân đi nhà Giảng Hội cũng như giáo hữu đi nhà thờ.

   Theo tinh thần Luật, trong cả nước chỉ có một nơi thờ phượng là Ðền Thánh ở thành Jêrusalem thôi. Nhưng vì xa xôi cách trở, nên mỗi làng, dân thường xây một giảng đường để hội nhau cầu nguyện và nghe diễn giảng. Theo quan niệm của dân, nhà giảng hội là nơi thiêng liêng nhất trong làng. Nhà giảng hội hình vuông, ở giữa nổi lên một giảng đàn trên có giá sách cho diễn giả. Chung quang giảng đàn kê một tủ chứa những cuốn Thánh Kinh bằng da. Người ta tới nhà giảng hội từng gia đình một. Lễ phép vào rửa tay trong cái chậu to để ở ngưỡng cửa, rồi nam giới ngồi với nam giới, nữ giới ngồi với nữ giới.

   Hát ca vịnh xong, một thầy đạo trưởng, hay là một thầy thông giáo đọc sách và giảng nghĩa Lề Luật. Nếu diễn giả là thầy đạo trưởng, thì diễn giảng xong, thầy phải làm phép lành cho cử tọa.

 Buổi chiều, người ta đi thăm nhau, nhưng không được đi quá xa, vì Luật cấm. . . . . . . .

Ðời sống của Thánh gia đã lần lượt trôi theo chuỗi ngày làm việc và nghi lễ trong khung cảnh êm đềm đó, trừ ra có một năm kia lộng lên cơn thử thách: ấy là lúc Hài Nhi lên 12 tuổi đi lễ ở thành Jêrusalem.

Làm  Việc  Thuộc  Về..  Ðức  Chúa  Cha.

  Năm nay chúng ta đi viếng Ðền thờ Jêrusalem ?

-         Vâng ! Mà phải đi vào dịp lễ Vượt Qua (Pascha)

 Gia đình ông Giuse nổi tiếng là mộ đạo. Mùi hương nhân đức bay ra chung quanh, và tiếng nói của việc thiện đã vọng đi xa lắm. Ngoài việc cầu nguyện hằng ngày, mỗi năm một lần, hai ông bà đều lên thành Jêrusalem thờ lạy Chúa.

  Năm ấy Hài Nhi lên 12 tuổi, cái tuổi xuân tươi bắt đầu chớm nở, và theo ý niệm Do Thái. Lề Luật bắt đầu buộc phải đi viếng Ðền thờ Jêrusalem. ( Theo quan niệm Do Thái, trẻ 12 tuổi, có thể coi như trưởng thành. ) 

 Hài Nhi Giêsu là một trẻ siêu việt. Từ bé đã tỏ ra nhiều dấu khác thường trong lời nói, việc làm và cử chỉ. Bà Maria rất sung sướng được chiêm nghiệm những cử chỉ có một không hai ấy. Nhất là ít lâu nay Hài Nhi Giêsu càng hiện ra lạ lùng hơn. Chung quanh Hài Nhi như ánh ngời một tia siêu phát, người ta nói: Cùng với thân hình nở nang và thêm đầy đặn, Hài Nhi cũng thêm thông minh và ánh ngời trong ơn thánh sủng. Trong Ngài không có những cử chỉ thường có của trẻ con, những cử chỉ thay đổi hàng ngày như ảo mộng. Trong Ngài có những cử chỉ đặc biệt và khéo léo.

 Vậy Giêsu lên 12 tuổi, hai ông bà đặc biệt bàn tính với nhau, việc đi Ðền thờ Jêrusalem vào dịp lễ Vượt Qua và đem trẻ Giêsu đi nữa. ( Dĩ nhiên năm nào cũng đem theo Hài Nhi đi, nhưng năm ấy đem đi cách chính thức theo Lề Luật. )

 Bà Maria thuộc bên nữ giới, Luật không buộc, nhưng bà cũng muốn đi để tỏ lòng tôn kính Lề Luật và được luôn luôn ở bên cạnh người con yêu quý.

                                                                  ***

  Hai ông bà lên đường, nhập bọn với những người cùng một ý định. Ðàn bà cưỡi lừa, đàn ông đi bộ tay cầm gậy nhỏ.... Từ Nazareth đến Jerusalem hơn một trăm cây số. Ðường chia ra từng chặng. Bọn lữ hành thường nghỉ chân ở bờ suối Enganinh trong xứ Samaria, rồi giếng Giacóp và Bêrốt. Ðể đi cho vui chân, dọc đường họ hát những ca vịnh theo điệu kèn đồng và ống tiêu:

   Con mắt tôi mơ về thành Thánh. Nơi đem ơn phú thịnh cho tôi.

   Tôi được cứu do tay Ðấng Vĩnh tại. Người đã dựng lên trái đất và bầu trời (Ps.121)

    Jêrusalem ! Jêrusalem ! Chân chúng ta bước về cửa thành ngươi.

   Muôn dân tiến lên chúc mừng ngươi. Thành quách ngươi y nguyên không rạn vỡ.

Kìa Ðền Thánh Jêrusalem hiện ra uy nghi, in bóng cao ngất trên nền trời xanh thẵm. Mọi người cung kính sấp mình thờ lạy Chúa và hô tiếng:”Halleeluia! Hoan hô Thánh đường Thiên Chúa” Cả đoàn lữ hành sung sướng, xếp hàng tiến lên thành Thánh theo điệu ống tiêu và kèn đồng, để dự tuần lễ Vượt Qua sắp mở ( Tuần lễ Vượt Qua gồm 7 ngày, ngày nào cũng vui vẻ náo nhiệt, số người tới dự vào thời đó rất đông, tính ra có cả hàng triệu người. Theo sử gia Joseph, mỗi tuần lễ Vượt Qua tốn hết khoảng trên hai trăm ngàn con chiên. Mỗi nhóm từ 10 đến 20 ăn một con.)

Dịp lễ cảm động ! Và nhất là đối với trẻ Giêsu ! Vì đây là lần thứ nhất Ngài chính thức vào nhà Thiên Chúa là Cha Ngài.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Những tục lệ cố cựu đi đường trong xứ Balêtin, bọn lữ hành đời nay vẫn còn giữ. Người ta hợp lại thành từng nhóm, rồi cùng đi, cùng nghỉ, cùng trọ một nơi lúc tối trời. Ở miền sơn cước nguy hiểm phải hành động tập đoàn như thế cũng là dĩ nhiên. Tuy vậy ai nấy được tự chủ về cử chỉ hành động của mình.

   Nhưng giờ trở về đã điểm... Ban sáng ngày sau cùng, hai ông bà và Giêsu lên đền thờ dự lễ lần chót. Những người Nazareth đã giao hẹn với nhau về thì giờ lên đường về chỗ trọ. Cậu Giêsu—vì bây giờ đã được coi là trưởng thành, có địa vị “một người của Lề Luật” được quyền hành động—Cậu muốn đi với ai mặc ý ( Và cũng cần được tự do như thế để năm sau, Cậu có thể đi lễ đền thờ một mình không phải ai dẫn dắt)  Bởi vậy, lúc từ giã ngưỡng cửa đền thờ để về, ông theo nhóm đàn ông, bà theo nhóm đàn bà, hai ông bà cứ đinh ninh Cậu cũng trở về theo. Ông tưởng Cậu đi với nhóm đàn bà, Bà tưởng Cậu đi với nhóm đàn ông. Vì Cậu được tự do đi với nhóm nào tùy ý. Có ngờ đâu sự thực hai ông bà đã trở về mà Cậu vẫn còn ở lại.

                                                            ***

   Chiều về, gió lộng, những lá cây như đau đớn phải lìa cành, bay vơ vẫn mãi mới chịu rơi xuống đất. Ðoàn lữ khách về tới chặng đường thứ nhất, đang sửa soạn nghỉ đêm, bỗng một câu hỏi vang lên:

   -- Giêsu của tôi có ở đây không?

 Ông Giuse và bà Maria luôn nhớ tới Con, muốn ở gần Con, tuy vẫn tôn trọng quyền tự do của Con, muốn đi với bọn lữ khách nào mặc ý. Nên vừa tới chặng đường thứ nhất, hai ông bà liền đi tìm Con ngay, tìm trong đám bà con thân thuộc, nhưng không thấy Con đâu cả ! Hai ông bà cùng lo lắng, lòng dạ nao nao, tất tả đi tìm Con trong cả đoàn lữ khách. Bà nghẹn ngào, đến đâu cũng đưa ra một câu hỏi hốt hoảng qua nước mắt:

    "Giêsu của tôi có ở đây không?! “

Hai ông bà quên mình mệt nhọc, quên hết mọi việc, trừ ra việc tìm Giêsu. Hai ông bà bỏ đoàn lữ khách và trở lại Jêrusalem, vừa đi vừa tim, vừa hỏi vừa lo... Mãi đến ngày thứ ba, ông bà mới tìm thấy Con ở trong Ðền Thánh.

 Ðền Thánh Jêrusalem có những gian rộng mênh mông, trong mỗi gian kê từng hàng ghế cho dân ngồi nghe các thầy tiến sĩ ( Sử kể lại mấy thầy tiến sĩ thời danh như Hilet, Shammai, Jonathas.) giảng nghĩa Luật, nhất là trong những dịp đại lễ. Mỗi thầy chuyên dạy một nhóm thính giả. Hai ông bà Giuse Maria tiến gần một nhóm chuyên về những vấn đề tôn giáo và may mắn. Tìm ngay ra được Cậu Giêsu ở giữa nhóm đó. Cậu đang nghe, đang chất vấn làm họ phải khâm phục ngưỡng mộ trước những lẽ sâu sắc và những lời giải thích chí lý của Cậu.

 Theo tục lệ giáo dục Ðông phương ( Tục giáo huấn ở Palestine thời xưa, nay cũng còn dấu vết lại

Dr.Francois Mitchel William. La vie de Jesus Christ, p. 65- 66 ) một thính giả—có khi là một thanh niên—chất vất thầy giáo một câu. ( Có lẽ Chất Vấn là phần thiết yếu trong sách giáo huấn ở Palestine, nên ông Chanina có để lại câu “Tôi học nhiều bởi các thầy giáo của tôi. Tôi học nhiều bởi các bạn đồng liêu của tôi hơn là các thầy giáo của tôi, nhưng nhất là tôi học nhiều bởi các học trò của tôi” Câu nói của ông ám chỉ vào những lời học trò chất vấn trong lớp.)  Ông giáo trả lời. Chàng thanh niên lại nêu một câu hỏi khác. Ông thầy nhìn chòng chọc vào thanh niên và khôn khéo nói tránh sang vấn đề khác để thử học lực của thính giả. Theo đà ông cứ nói hoài với một thính giả, mà ông coi là học trò của ông. Kết cục  do những câu vấn đáp của thính giả, ông hiểu đó là một học sinh nỗi lạc, trông có một tương lai sáng lạn. Ông liền khoe học của trò ông với các ông khác và rủ họ đến nghe.

Có lẽ do lối giáo dục trên đây, mà hai ông bà Maria-Giuse đã tìm thấy Con giữa nhóm những người chuyên môn khảo cứu vấn đề tôn giáo, quen gọi các thầy Tiến sĩ. 

    Thấy con ngồi đàm thoại giữa nhóm người tiến sĩ, hai ông bà lấy làm bỡ ngỡ hoang mang..... Bà Maria mau mắn tiến lại gần, vui vẻ trách yêu:

-    Con yêu của Mẹ. Con làm gì cho cha mẹ, này cha con và mẹ, cả hai cùng lo lắng tìm Con. ( Bà Maria gián tiếp tỏ ra lòng cha mẹ yêu thương Cậu, nên hễ xa Cậu là đâm ra buồn phiền lo lắng )

Bà Maria tỏ ra đau đớn, không tại vì vất vả đi tìm, nhưng chính vì đã phải xa cách Con rất quí yêu và bây giờ mới được gặp. Trước tình yêu dạt dào của cha mẹ, Cậu Giêsu nhìn hai ông bà một cách cảm động thấm thía và biết ơn. Rồi với giọng từ tốn, Cậu thưa lại bằng những lời trang nghiêm, ngầm tỏ một sứ mạng cao cả:

-    Tại sao cha mẹ lại lo lắng tìm con ? Cha mẹ cũng quá biết con phải làm việc thuộc về Ðức Chúa Cha.

 ( Hai ông bà không hơi phật ý về câu đó, vì biết Cậu vốn hiếu thảo, từ tốn, và bây giờ đây Cậu tỏ ra yêu thương đằm thắm trong điệu bộ, trong cách nhìn và cách thưa dẫu phải ngầm chỉ một sứ mạng trọng đại đã giữ Cậu lại trong Ðền Thờ.)

  Hai ông bà được gặp con, lòng dạ vui sướng quá. Nhất được con nhìn yêu và cho biết duyên cớ ở lại trong Ðền thờ, nên hai ông bà chỉ biết vui quên hết mọi sự. Ngay lúc ấy, hai ông bà cũng chưa hiểu rành mạch điều con nói. Nhưng cách thức tri ân đầy cảm động, và giọng điệu từ tốn của con. Bà ghi những điều ấy vào ký ức và sau này suy gẫm luôn luôn.  .  .  .  .  .  .  .  .  .   .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

    Giêsu lại theo hai ông bà cùng trở về Nazareth. Ở đó Cậu tận tình phục tùng cha mẹ.

Hai ông bà quí Cậu vô cùng, và cũng biết Cậu là chính Ðấng cao trọng vô biên, nên không dám sai bảo Cậu theo cách thức cha mẹ truyền bảo con cái. Tuy nhiên, Cậu hằng vâng phục như một người con hoàn toàn dưới quyền cha mẹ. Cậu mau mắn giúp đỡ cha mẹ trong mọi việc, chẳng kỳ việc sách nước ngoài giếng, hay là việc quét nhà thu dọn.

Cậu thích giúp đỡ cha nuôi (ông Giuse) bằng cách mang lại cho ông những dụng cụ cần dùng ; cái cưa, cái búa, cái bào, mấy chiếc đinh, một vài mảnh ván v..v.. Và khi chân đã mạnh, tay đã vững, Cậu cũng mê mải tập xử dụng cái cưa, cái búa. Cậu ý tứ bào nhẵn những mãnh gỗ và lắp thành những bàn ghế nhỏ xinh. Cậu đã trở nên bạn đồng nghiệp ông Giuse và đã tìm trong mồ hôi trán số tiền phụ cấp cho gia đình.

Cậu lại tỏ ra là một người có tư cách và đạo đức phi thường ; kính trên nhường dưới, hòa thuận vui tươi hết thảy mọi người, khiến ai nấy đều phải kính tôn khen ngợi và làm cho cha mẹ vô cùng hoan hỉ.

  Quả thật cùng với thân thể lớn lên. Cậu đã tấn tới nhiều trong hàng khôn ngoan và ơn Thánh trước mặt Thiên Chúa và nhân loại.

Tuy nhiên, một đám mây lo âu như bao phủ mái nhà nhỏ hẹp Nazareth. Hai ông bà cảm thấy trước, vì sứ mạng phải làm việc thuộc về Ðức Chúa Cha, một ngày kia Cậu phải từ giã gia đình. Dấn mình vào cảnh khổ, khiến cha mẹ phải xa mặt con. Do vậy, một đàng hai ông bà hết sức chăm nuôi săn sóc để Cậu có đủ sức mạnh phần xác và nghị lực phần hồn, ngõ hầu đảm đang những công việc nặng nề của sứ mệnh ; và một đàng khác, hai ông bà tìm hết cách âu yếm con, để bù lại những ngày sẽ phải xa cách.

Phụ  Lục  I

Gia   Hệ  Chúa   Giêsu

  Chúa Giêsu thuộc hoàng tộc Ðavít, điều đó được ghi rõ rệt trong hai gia phả: Một gia phả Thánh sử Mathêu (Mt.1: 1,17) một gia phả do Thánh sử Luca (Lc. 3: 23,38)

Hai gia phả khác nhau về chi tiết, vì hai Thánh sử viết theo mục đích riêng biệt. Thánh Mathêu viết Phúc Âm cho người Do Thái, ngụ ý minh chứng Chúa Cứu Thế sinh ra đúng như lời Chúa hứa với ông Abraham và Ðavít, nên Ngài chép gia phả từ ông Abraham đến Chúa Giêsu. Còn Thánh Luca viết Phúc Âm cho dân ngoại, nhằm mục đích chứng minh Chúa Giêsu xuống cứu chuộc toàn thể con cháu ông Adam, nên người chép gia phả từ Chúa Giêsu đến Adam.

Là phần tử trong số dân ngoại được ơn nhập đạo, dưới đây chúng tôi chép lại gia phả Chúa Giêsu theo lối Thánh sử Luca. Giêsu được công nhận là con ông Giuse. Ông Giuse là con ông Heli, Heli con ông Mathat, Mathat con ông Lêvi, Lêvi con ông Melchi, Melchi con ông Janne, Janne con ông Joseph, Josheph con ông Mathathias, Mathathias con ông Amas. Amas con ông Nahum, Nahum con ông Hesli, Hesli con ông Nagge, Nagge con ông Mahath, Mahath con ông Mathathias, Mathathias con ông Semei, Semei con ông Josheph, Joseph con ông Juda, Juda con ông Joanan, Joanan con ông Resa, Resa con ông Zorobabel, Zorobabel con ông Salathiel, Salathiel con ông Neri, Neri con ông Melchi, Melchi con ông Abdi, Abdi con ông Cosam, Cosam con ông Elmadam, Elmadam con ông Her, Her con ông Jesus, Jesus con ông Eliezer, Eliezer con ông Jorim, Jorim con ông Mathat, Mathat con ông Levi, Levi con ông Simeon, Simeon con ông Juda, Juda con ông Joseph, Joseph con ông Jonan, Jonan con ông Eliakim, Eliakim con ông Melea, Melea con ông Menna, Menna con ông Mathatha, Mathatha con ông Nathan, Nathan con ông David,

David con ông Jesse, Jesse con ông Obed, Obed con ông Booz, Booz con ông Salmon, Salmon con ông Naasson, Naasson con ông Aminadab, Aminadab con ông Aram, Aram con ông Esron, Esron con ông Phares, Phares con ông Juda, Juda con ông Jacob, Jacob con ông Isaac, Isaac con Abraham. Araham con ông Thare, Thare con ông Nachor, Nachor con ông Sarug, Sarug con ông Ragaii, Ragaii con ông Phaleg, Phaleg con ông Heber, Heber con ông Sale, Sale con ông Cainan, Cainan con ông Arphaxad, Arphaxad con ông Sem, Sem con ông Noe.

Noe con ông Lamech, Lamech con ông Mathusale, Mathusale con ông Cainan, Cainan con ông Enos, Enos con ông Seth, Seth con ông Adam, Adam con Ðức Chúa Trời.

 Phụ  Lục  II

 Thánh  Giuse

   Sử sách không ghi, nhưng theo cổ truyền, Thánh Giuse về già lúc Chúa Giêsu lên ba mươi tuổi. Ngài lập gia đình lúc lên hai mươi hay hai mươi lăm. Ngài thọ chừng khoảng năm mươi lăm tuổi.

Ngài đeo đuổi một đời sống hoàn toàn công chính và thánh thiện, kết bằng một chuỗi hoa hy sinh nồng thắm. Ngài là vị tiên phong đã sống thác vì một lý tưởng:

“Phụng sự Chúa Giêsu” mấy năm sau, ông Gioan Tẩy Giả cũng theo một lý tưởng tương tự. Nhưng Thánh Giuse đã là vị tiên khởi trong đoàn binh Chúa Cứu Thế. Ðời hy sinh và thánh thiện của Ngài hình như phát huy do khẩu hiệu:

   "Chúa cần phải lớn lên. Và tôi cần phải bé xuống “

 (Opoertet eum crescere ; me autem minui. Jo 3: 31 )

Ðể thực hành khẩu hiệu, Thánh Giuse có một chương trình. Chương trình đó Ngài phác họa chính ngày Thiên thần truyền lệnh “Hỡi Giuse ! Chớ ngại lấy Mraria làm bạn.”

Lời Thiên thần là ánh sáng, Thánh Giuse đọc thấy trong đó là một chương trình “Vâng theo” vâng một cách anh dũng, vâng theo trong hết mọi sự.

Không phải là cha đẻ của Hài Nhi, nhưng Ngài hiểu mình có bổn phận trông coi nuôi nấng, nên Ngài vui dạ vâng theo. Ngài sung sướng được đổ mồ hôi, cặm cụi suốt đời trong xưởng mộc, được hao mòn vì công việc, để Hài Nhi thêm mạnh thêm lớn. Hài Nhi cần có cơm ăn áo mặc, Ngài cần phải làm việc, làm việc luôn tay. Hài Nhi cần được an toàn, Ngài cần phải xông pha mạo hiểm, lúc trốn đi phương xa, khi trở về xứ sở, trọn đời Ngài đóng vai một bức tường kín, che giấu hoa Trinh tiết của Thánh Mẫu, và chức vụ Cứu Thế của Hài Nhi.

Ông Bossuet, đã ghi chép đời sống khiêm nhường và phục tùng của Thánh Giuse bằng những câu bất hủ  “Trong giáo hội có hai ngành ơn thiên triệu chính: Ơn thiên triệu của các môn đệ và ơn thiên triệu của Thánh Giuse. Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ cũng như tỏ mình ra cho Thánh Giuse, nhưng với những điều kiện khác nhau.....

Người tỏ mình ra cho các môn đệ để các ngài rao truyền trong khắp thế giới. Người tỏ mình ra cho Thánh Giuse để Ngài dìm đi và che giấu... Các môn đệ là ánh sáng giới thiệu Chúa Cứu Thế, còn Thánh Giuse là bức màn che khuất, thành ra cũng một Chúa Giêsu KiTô, mà các môn đệ có bổn phận tuyên giảng, còn Thánh Giuse có bổn phận ẩn nặc đi. ( Bossuet. Panegyrique de saint Joseph. ) .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

  Nhưng không bao lâu bức màn kia đã hết bổn phận, Chúa Giêsu đã lớn lên. Người đã là một hào quang cần phải đặt lên cao để soi sáng cho thế giới. Nên bức màn kia không cần nữa ; Thánh Giuse lui về. . . .
  Ðúng với lý tưởng khiêm nhường, tuân phục của đời Ngài, Ngài sẽ không được xem thấy phép lạ của Chúa Cứu Thế, cũng như sẽ không được nghe dân Do Thái hoan hô 

“Vạn tuế con vua Ðavít”

  Nhưng ngày nay, trên chốn trời cao, Ngài đang chứng kiến cuộc truyền bá Phúc Âm của Chúa Cứu Thế khắp năm châu bốn biển, và đạo Phúc Âm càng lan rộng, thì loài người càng nhớ công đức của Ngài. Toàn thể Hội Thánh đã nhận Ngài là Quan Thầy, và tôn kính Ngài một cách đặc biệt.

Ðó là phần thưởng xứng đáng để đền bù cuộc đời khiêm nhượng và hy sinh của Ngài một phần nào vậy.