Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 4

Ðau  Khổ:  Mũi  Gươm  Sắc  Bén  !

Lịch sử Do Thái loang lỗ những vết đen, và cuộc bị đày làm nô lệ bên Ai Cập là vết đau thương hơn hết !  Hồi ấy vua cai trị Ai Cập là Pha-ra-ông ( Pharaoh ) ác độc hơn sư tử. Ðể chu diệt giống nòi Do Thái, ông hạ lệnh sát hại các hài nhi Do Thái mới sinh ra bằng cách dìm chết dưới sông Nilô ( Nile ) Với ác kế đó, Pha-ra-ông nghĩ không bao lâu Do Thái sẽ tuyệt chủng.  Nhưng số Do Thái hãy còn may, nhờ Thiên Chúa mà hài nhi Môi Sen ( Mose) đã được cứu thoát.

Môi Sen lớn lên, thông minh xuất sắc, được Chúa ủy nhiệm làm tướng dẫn dân Do Thái về quê cha đất tổ. Cuộc vận động đem dân đi gặp nhiều trắc trở gay go.... Mãi cho đến  khi Chúa phạt chết trưởng nam Ai Cập, Pha-ra-ông mới chịu buông tha Do Thái.

Ðể kỷ niệm cứu thoát ấy, ông Môi Sen truyền để một điều luật: Từ nay trở đi, các con trai đầu lòng sẽ coi là người đã tiến dâng cho Chúa. Nghĩa là suốt đời phải chuyên lo việc tế tự.

Nhưng dần dần số trưởng nam thêm ra nhiều, người Do Thái liền nghĩ cách cử nguyên một đại tộc Lêvi làm việc tế lễ, mỗi nam tử Lêvi thay thế một trưởng nam Do Thái. Nhưng trong lúc áp dụng, số nam tử Lêvi không cân với số trưởng nam của toàn dân. Nên họ lại lập ra luật “ dâng chuộc “ nghĩa là phải dâng trưởng nam trong Ðền Thánh rồi chuộc lại bằng một số tiền cúng vào Ðền Thờ. Số tiền này họ Lêvi có quyền xử dụng

Tục lệ “dâng con, chuộc con” bắt đầu từ đó và ăn sâu vào phong tục. Mỗi trưởng nam phải là người đã được tiến dâng. Và phụ huynh nào muốn giữ con ở lại gia đình, đều phải đem tiền chuộc.

Ði đôi với luật “dâng con” các sản phụ sau ngày 40 ( Nếu sinh con gái, thì qua 80 ngày mới vào

Ðền Thờ chịu lễ “Thanh tẩy:” ) cũng phải dâng mình trong Ðền Thánh. Lễ “dâng mình” này còn gọi là lễ “Thanh tẩy”, vì theo ý hẹp của luật cũ, người sản phụ bị coi là người nhiễm uế. Khoản lệ thanh tẩy là dâng một con chiên được một năm, hay nếu nhà nghèo không mua chiên được, thì dâng một đôi chim bồ câu (xem Levi 7: 8 )

  Vậy theo tinh thần Luật, đến ngày Thanh tẩy, Bà Maria từ giã Bê Lem, ẵm Hài Nhi Giêsu vào dâng trong Ðền Thánh.

Con đường lên Jêrusalem, là đường cái quan rộng rãi thênh thang, đắp theo kiểu La Mã, lúc sáng hơi văng vắng, nhưng đến trưa lại rất náo nhiệt tấp nập kẻ đi người lại. Vừa ở một khúc quặt ra, hai ông bà được chiêm chiêm Ðền Thánh. Ðó là một núi cẩm thạch muôn màu, hiên ngang vươn mình lên trời thẳm. Xem thấy Ðền thờ, hai ông bà kính cẩn đọc thiên thánh vịnh của những người đi hội Ðền thánh:

 Jêrusalem !  Jêrusalem !

 Này chúng ta đang tiến lên cùng Ngươi. Chúng ta tiến lên cùng Ngươi.

 Tiền đình Ngươi là chốn hẹn hò. Dáng điệu ngươi là châu thành hoa lệ.

 Người muôn dân, Người muôn nước.

 Hướng về Ngươi, hướng về Ngươi.

 Thân Ngươi là ái tình vô biên. Tháp Ngươi là kho tàng vô tận.

 Ai yêu Ngươi, ai trọng Ngươi. Sẽ vinh quang phú túc.

Hai ông bà đã vào Ðền thánh ở gian Tiền đình, nơi bán chiên bò, chim câu và đổi tiền bạc. Bước qua cái thềm mười năm cấp nữa, hai ông bà tiến thẳng lên trước một cửa lớn gọi là “Nicanor” chờ đợi....

   Mặt trời đã lên cao.... Một thầy chủ tế lụng thụng bước ra nơi hành lễ. Các sản phụ bế con lần lượt tiến lại.... Thầy chủ tế theo thứ tự đọc kinh hành lễ trên từng con trẻ, không ngờ trong số đó có ẩn một hài nhi dị thường. Ðó là con của bà Maria, vị Cứu Tinh nhân

loại, Chúa của muôn dân. Nhưng thầy không quên nhận mấy con chiên non, mấy đôi chim câu và một số tiền chuộc do các sản phụ dâng cúng.. Thế là một ngày muôn đời trông đợi, một ngày Chúa Cứu Thế và thân mẫu Ngài dâng mình trong Ðền thánh, đã âm thầm trôi qua như nước dưới cầu, trước con mắt mù quáng của thế gian và vẽ lãnh đạm của giới Giảng Hội (Sinagognes: chỉ dân Do Thái)

Thực ra, Chúa Giêsu không sinh ra theo luật thường, nên thân mẫu Ngài cũng không buộc phải thanh tẩy trong Ðền thánh. Tuy nhiên, bà Maria cũng vâng lời Lề Luật, bà muốn xử xự như một thường nhân trước mắt thế gian để che dấu một kho tàng quý giá là đức trinh khiết.

Hài Nhi Giêsu đã được trao lại cho bà Maria, bà ẵm chặt lấy và hôn yêu nồng nàn như muốn bù lại vẽ lãnh đạm của người đời đối với con mình là Chúa Cứu Thế.

Nhưng rồi một sự lạ xảy ra !

 Hồi ấy ở Jêrusalem có một ông già, quí hiệu là Si-mê-on (Simeon) Ông nổi danh về đường đạo đức, ông vẫn tuyên bố rằng ông chờ đợi Ðấng Cứu Thế. Vì Chúa Thánh Thần đã mạc khải cho ông: Ông sẽ không về già trước khi được xem thấy Ðấng chịu xức dầu (chỉ Chúa Cứu Thế) của Thiên Chúa.

 Hôm ấy tự nhiên một thiên lực thúc đẩy ông lên Ðền thánh vào lúc thân phụ Giêsu ẵm Ngài đến đó để thụ lễ theo Lề Luật. Ở đó, do ơn thiên ứng, ông khám phá ra Ðấng ông trông đợi. Ông xin ẵm Hài Nhi Giêsu vào cánh tay và ca bài tán tạ Thiên Chúa:

  Lạy Chúa !  Chúa có thê cho tôi tá Chúa đi

 Ði về chỗ an nghỉ của ngàn thu của tuổi già !

 Hôm nay mắt tôi được xem thấy Chúa Cứu Thế

 Ðấng mà Chúa đã tiền định cho muôn dân

Người quả là Ánh Sáng của mọi chủng tộc..

 Và là vinh danh dân Isreal dân riêng Chúa.

Nghe lời ông già, thân phụ Hài Nhi lấy làm lạ lùng hết sức ? Sao ông lại biết Hài Nhi là Chúa Cứu Thế của muôn dân ? Nhưng diện mạo ông già đang tươi sáng, bỗng tối sầm lại...  Mắt đăm chiêu vào cõi xa xăm. Ðứng trên bờ hiện tại ông nhìn vào tương lai với hai luồng tư tưởng phản nghịch nhau. Ông vừa trả lại Hài Nhi cho Mẹ Ngài, vừa chậm rãi nhấn mạnh từng tiếng một:

  “ Bà hãy chiêm nghiệm Hài Nhi đây.

 Người sẽ trở nên con đường “Sinh” cho một số lớn..

 Nhưng cũng trở nên con đường “Tử” cho nhiều người

 Người sẽ là giới trụ phân chia thế giới.

 Ðể phát lộ thanh tâm ẩn ý của mọi người “

 Rồi ông quay sang nói với bà Maria:

 “ Riêng phần Bà, một lưỡi gươm đau khổ sẽ thâu qua trái tim Bà ! “

Nói xong, ông già Si-mê-on trở bước. Bóng ông khuất sau những rặng cột đồ sộ của Ðền thờ. Cảnh vật trong đó vẫn y nguyên, vô tình, lãnh đạm, trong khi đàn lòng một người mẹ nổi khúc bi ai. Những lời tiên tri của ông già đã đào sâu trong trái tim bà Maria một hố lo lắng. Một sự gì cao cả tươi sáng ấm áp như ánh xuân đã vụt tắt trong lòng Bà, để nhường chỗ cho một sự gì tối tăm, u sầu và giá lạnh ! Phải ! Mặt trời hạnh phúc trong cõi lòng bà Maria đã bị lời tiên đoán của ông già Si-mê-on giăng mây sầu che khuất !!

Giờ đây trái tim bà tan nát. Bà đứng sững mãi một nơi đưa mắt nhìn Hài Nhi đang ngủ mà tâm trí vẫn lởn vởn hình một thanh gươm sắc nhọn phân Hài Nhi ra trăm mảnh. Bà thương Hài Nhi quá, càng thương, trái tim bà càng se lại, bứt rứt... Mũi gươm kia là gì ?

Sao người ta lại muốn giết Hài Nhi ? Giết cách nào ? Hài Nhi có tội gì mà giết ? Một trăm dấu hỏi như thế khuấy rộn tâm hồn Bà ! Bà đau đớn, vì không có một câu trả lời nào rõ rệt cả. Bà cảm thấy khổ sở, muốn khóc lên trong khi trái tim Bà như nhỏ từng giọt máu !

Sau ông Si-mê-on, lại có bà quả phụ tên Anna Phanuel thuộc dòng tộc Aser. Số phận bà này hẩm hiu, đời kết bằng tang tóc, Bà phiền sầu vì kết bạn mới được bảy năm, chồng đã về kiếp khác. Cảm thấy cô đơn lẻ bóng, bà đã xa trần lụy nương mình nơi Cửa Thánh, để tìm cho cảnh đời một ý nghĩa. Bây giờ bà đã tiến xa trên đường thánh thiện. Cả ngày chuyên chủ việc hãm mình đánh tội và cầu nguyện trong Ðền Thờ, Bà được ơn biết cả việc tương lai.  Hôm ấy, sau ông Si-mê-on, Bà được vinh dự gặp Chúa Hài Nhi Giêsu.

Và do ơn trên soi sáng, bà cũng biết Hài Nhi đó là Chúa Cứu Thế. Bà vui sướng quá và công khai tán tạ Chúa một cách vô cùng cảm động... Từ đấy trở đi, bà không bỏ mất dịp nào mà không nói về Hài Nhi Giêsu cho mọi người ở Jêrusalem biết. Và những người nghe đều vui mừng hy vọng vào cuộc “cứu rỗi” sắp đến.

  Hai ông bà Giuse Maria đã ra khỏi Ðền thờ, trà trộn vào đám đông, đám những người đi dâng con cho Chúa. Hai ông bà là thường nhân, y phục khó nghèo, nên không ai ở Jêrusalem để ý đến. Hai ông bà lại theo đường cũ trở về Bê Lem, vì ông Giuse muốn hoãn lại dăm ba tuần nữa mới đi Nazareth. Ông nghĩ: Hiện giờ Hài Nhi và thân mẫu Ngài còn mệt nhọc, chưa nên đi đường xa. Trong khi chờ đợi, ông tạm tìm việc để chàng đục ( thợ mộc ) để có thể đem lại ít lương thực cần dùng.

Ở Jêrusalem tất cũng có nhiều người được nghe ông Simêon và bà Anna thuật chuyện Hài Nhi. Nhưng bây giờ gia đình vô danh đó biết ở đâu mà tìm nữa, vã lại cũng chẳng mấy ai tin lời của hai nhà đạo đức kia.

Chúng  Tôi  Ðã  Thấy ...

SAO  LẠ  CỦA  NGÀI....

   Trong khi bà Maria còn nặng mối lo âu, tưởng tượng thanh gươm ác độc ông già Simêon mới cho biết. Thì từ chân trời phía Ðông, một đoàn người quyền quý đang vượt rừng xanh núi đỏ tiến về Bê Lem để thờ lạy Thánh Tử. Ðó là những nhà chiêm tinh của Ðông phương, tục gọi là “Ba Vua” ( Theo lời cổ truyền, Ba Vua thuộc dòng quý tộc ở nước Ba Tư, Babylon, hay Á Rập. Quí hiệu của Ba Vua là Gaspard, Melchior và Balthazar. )

 Sở dĩ tôn xưng như vậy, là vì một đàng không phải là hạng phù thủy bói khoa thường trơ mặt ở các vỉa đường trong thành phố, và một đàng khác, các nhà chiêm tinh đó có quyền cao chức trọng trong xã hội, và là bậc thông thái hay là danh y biệt tài, đang làm hay đã làm Tiểu vương một xứ...

   Ở Ðông phương, trời ban đêm nhiều hôm đẹp lạ thường và lấp lánh sao hơn ở Tây phương. Những buổi đẹp trời như thế, các nhà chiêm tinh thích vui cái thú ngắm sao với chén rượu nồng, để đoán biết tương lai và số mệnh. Ba Vua trong truyện này cũng là những kiệt tướng trong thuật chiêm nghiêm ấy. Nhờ cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc gần nhau. Ba Vua biết rõ đạo Do Thái và ý họ mong đợi Chúa Cứu Thế đến để khai sáng một hoàng kim thời đại. ( Người Do Thái tin tưởng rất mạnh và hy vọng rất nồng nàn Chúa Cứu Thế sẽ đến. Lòng tin tưởng đó đã tràn lan qua các nước lân cận, và sang tận Tây phương, khiến Ciceron và Virgile cũng phải nói về vị Cứu Tinh Do Thái mong đợi. Ciceron viết: Sẽ có một tướng tối cao, vừa là thầy vừa là vua muôn dân sinh ra, Ngài sẽ tuyên bố một Luật bất di bất dịch (De Divinatate L.II – 134)

 


Ba Vua cũng biết câu tiên tri của Baalam (Baalam): “Một ngôi sao sẽ mọc trong nhà Giacóp (Jacob) Ngôi sao đó là dấu hiệu một Ðại vương”

Một đêm kia Ba Vua đang ngắm sao, xét một biến chuyển thế giới theo những nét mờ của vòm trời, bỗng hiện ra ở xứ Giuđêa một tia sáng lạ, có hình sao chổi đuôi dài. Ðó là một ngôi sao chưa từng thấy. Một cảm giác mạnh chạy ran trong thân thể của Ba Vua, đồng thời những luồng tư tưởng khác nhau đột nhập lý trí. Ba Vua suy nghĩ mãi....  Sau cùng do nguồn ơn thiên ứng, Ba Vua mới đi đến một kết luận là Vua Do Thái đã giáng sinh.  Không do dự nữa, Ba Vua quyết định lên đường tìm cho đến tận Jêrusalem là Thành Thánh của Do Thái để thờ lạy Ðấng Cứu Thế mới sinh ra.

    Ba Vua lên đường, đoàn tùy tùng theo sau, ngựa lừa đông số. Mọi người vui vẻ bước mau dưới ngôi sao lạ dẫn đường. Ba Vua càng vui hơn, tâm hồn ấm áp vì mộng đẹp. Ðúng rồi ! “Ðại vương ông Ðaniên (Daniel) nói tiên tri đã hiện ra. Ta quyết đi, ta quyết tìm Ngài để suy tôn thờ lạy. Có sao sáng chỉ về Ngài, thì âu Ngài cũng là một Áng Sáng, hay là chủ tể của ánh sáng ! Ngài tốt đẹp và cao trọng biết bao !”

  Ba Vua tới thành Jêrusalem, nơi có cung điện vua Hêrôđê. Thoát chốc ánh sáng hình sao chổi đuôi dài biến mất... Ba Vua vào thành dò hỏi.

   Vua Do Thái mới sinh ra ở đâu ? Vì chúng tôi đã thấy sao lạ chỉ về Ngài mọc bên trời Ðông, và chúng tôi đến đây để bái yết Ngài.

  Bọn thám tử của vua Hêrôđê ở rải rác trong thành, thấy người quyền quý ở xa đến và đưa ra câu hỏi kỳ diệu, liền chạy vội về báo tin cho vua Hêrôđê và tường thuật mọi sự.

Vua này nghe tin như thế, lấy làm bối rối hoang mang. Và dân thành Jêrusalem cũng vậy.

  Thời ấy nói đến Hêrôđê, không ai mà không biết tiếng. Người ta gọi Hêrôđê là một bạo chúa khét tiếng, hay là một yêu quái ngồi trên ngai !

Sau khi phạm một chuỗi tội ác: giết chúa, giết anh, giết vợ, Hêrôđê đâm mê hoảng. Ông tìm cách tiêu sầu giải muộn bằng lối phô trương. Ông truyền xây ở Jêrusalem một điện lộng lẫy ngang với điện Ba-la-đinh  ( Palatin ) ở LaMã. Trong điện đó, nguyên phòng ngự ẩm, có tới một trăm giường bằng ngà, ấy là chưa kể chiếc long sàng bằng vàng khối.

Hêrôđê quả là ông vua xa xỉ. Lần kia sứ thần La Mã tới Jêrusalem, cũng phải kêu lên “Xứ Giuđêa quả là bé cho người vĩ đại này”

Nhìn chung quanh, Hêrôđê thấy mình đang ở giữa đường nguy khốn ; một mặt bị Do Thái ghét, một mặt bị La Mã rình mò. Nên muốn lấy lòng dân, ông truyền xây đền thờ Jêrusalem lại với vẻ cực kỳ rực rỡ. Sau việc kiến trúc này, dân tặng cho ông chữ “Magnus” nghĩa là “Ðại Nhân”. Ðồng thời để mua lòng vua thượng vị Âugút (Auguste)

Ông cũng truyền đặt ở giữa cửa Ðền thờ, một con Phượng Hoàng bằng vàng, là tiêu biểu đạo binh La Mã. Bốn mươi thanh niên Do Thái thấy vậy, tức khí trèo lên hạ con phượng hoàng La Mã xuống. Hêrôđê tức quá, lại lo thất thế với La mã, cùng bốc giận đùng đùng, hạ lệnh đốt sống đám thanh niên kia như bó đuốc sống trước những tượng thần La Mã.

Lại nói về tin Ba Vua làm chấn động kinh thành, ở khắp phố dân chúng xôn xao, có tiếng thì thào hỏi nhau bàn tán: Thế nào ? Hay một danh tướng mới sinh ra ? Sinh ra để hạ Hêrôđê quân ngoại chủng xuống ?... Cũng có người nghĩ: Thôi đích rồi ! Hay đó là Chúa Cứu Thế dân ta mong đợi.

“Chúa Cứu Thế” Danh từ này thời ấy thường được nhắc tới luôn luôn, vì các lời tiên tri về Chúa Cứu Thế đã ứng nghiệm cả, và nó lại tượng trưng cho lòng dân một vấn đề có tính cách tôn giáo lẫn chính trị. Nó hình dung một cuộc giải phóng dân khỏi ách đế quốc La mã và hứa hẹn một kỷ nguyên mới vinh quang, nên nó mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng.  Do vậy, được tin khẩn báo, lại thấy dân chúng xôn xao. Hêrôđê liền truyền họp một hội đồng bất thường gồm các đạo trưởng và tiến sĩ luật của dân để dò hỏi cho biết Chúa Cứu Thế sinh ra đời.

    Câu hỏi của nhà vua không làm các nhà trí thức Do Thái bối rối, nó chỉ nhuốm một vẻ bí mật. Theo dư luận của dân, khi Chúa Cứu Thế đến, người ta không biết được đích xác chỗ phát tích của Ngài. Ngài sẽ sống ẩn dật lâu lâu, rồi một ngày đẹp trời, Ngài mới ra ánh sáng một cách tưng bừng náo nhiệt. Lúc ấy ông Elia thứ hai long trọng giới thiệu Ngài với dân và đổ dầu thánh trên đầu Ngài, thứ dầu quen dùng để phong vương.  Ðó là đại khái những điều dân chúng nghĩ tưởng về Chúa Cứu Thế.

   Ðối với giới trí thức Do Thái, họ còn biết rộng hơn. Họ biết rõ Chúa Cứu Thế sẽ sinh vào gia đình vua Ðavít. Thế mà Ðavít phát tích ở Jêrusalem, như lời ông tiên tri Mi-kha đã để lại. Nên Chúa Cứu Thế cũng phải sinh ra ở đó. Do vậy, sau một cuộc bàn luận không lâu, họ đã cử một đại biểu đứng lên, thưa thay hội đồng với nhà vua:

  “ Chắc chắn Chúa Cứu Thế sinh ra ở Bê Lem xứ Giuđêa. Vì có lời tiên tri chép rằng:

 Hỡi Jêrusalem trong đất Giuđêa người không phải là nơi bé nhỏ trong các đô thị xứ Giuđêa, vì do ngươi sẽ xuất hiện một danh tướng để thống trị dân ta, dân Israel. “

   Nghe câu trả lời Hêrôđê thỏa thích như cởi được tấm lòng, trút được gánh nặng, nhà vua cho hội đồng giải tán và ngẫm nghĩ:

  “Bê Lem cái thành nhỏ xíu, cách cung điện ta không có bao xa, có gia đình nào tô quý đâu ? Còn về dòng dõi Ðavít thì hiện giờ không có gì quan hệ nữa. Những mầm mống sau cùng của gia đình đó đã mất tăm từ lâu trong dân, vậy hẳn những chuyện chiêm tinh kia với lời tiên tri nọ cũng là trò hề cả. Tin là tự giảm giá trị mình và còn bị thiên hạ cười chê “

 Nghĩ vậy đấy, nhưng ông vua đa nghi cũng muốn gặp 3 nhà chiêm tinh một lần nữa để hớt sạch cái váng do dự còn lại. Vì thế, nên ông cho mời Ba Vua vào mật hội, điều tra kỹ lưỡng về thời giờ sao lạ đã hiện ra. Ðiều tra, Hêrôđê cũng chỉ thấy rằng đó là một phát hiện tối cận chung quanh một Hài Nhi mới sinh ra, chả cần đến nỗi phải cho thám tử theo gót mấy nhà tướng số xa lạ nữa. Nên ông vui vẻ và với giọng gần như mỉa mai nói với ba nhà chiêm tinh:

  “Kìa là phía Bê Lem, các ngài cứ lên đường. Các ngài chịu khó điều tra cho ra con trẻ đó. Khi nào các ngài thấy rồi, phiền các ngài trở lại đây báo tin cho ta hay, ta cùng đi gọi là để tiến cống”

 Cáo biệt Hêrôđê ba vua lại lên đường....

Bê Lem chỉ cách Jêrusalem có mấy dặm..... Trời vừa tối. Bỗng sao lạ đã chiếu sáng bên trời Ðông  (Nhiều nhà thiên văn cho sao đó là sao đài thiên văn, ở Jêrusalem đã xem thấy tháng 1 năm 1910 gọi là sao chổi Holley. Nó đi từ Ðông sang Tây. Nó tắt đi mấy hôm, rồi hiện ra lấp lánh rực rỡ.) lại hiện ra lấp lánh dẫn đường đi. Ba Vua mừng hớn hở, bước mau theo ánh sao lạ hướng về phương Nam. Ðột nhiên sao dừng, đứng sững trên một căn nhà nhỏ. Ba Vua bỡ ngỡ, nhưng vẫn tin theo, mạnh bạo bước vào nhà, gặp thấy ở đấy Hài Nhi Giêsu với Mẹ Ngài là Bà Maria.

 Lúc ấy ông Giuse và bà Maria không ở trong hang nữa, vì đã tìm được một nơi khác trú trọ. Nơi đó là một căn nhà nhỏ thuê với một giá hạ, để tạm trú cho qua ngày. Nhưng cảnh tiều tụy bé nhỏ không làm lung lạc đức tin của Ba Vua, một đức tin vững chải như bàn thạch và dẫy núi. Trái lại, với ơn trên soi sáng, Ba Vua hiểu biết Hài Nhi đó chính là Chúa Cứu Thế.

  Ba Vua liền kính cẩn phủ phục suy tôn...

Phần bà Maria, thoạt tiên bà cũng ngạc nhiên về việc ba người quyền quý vào nhà. Nhưng rồi định tâm được ngay. Bà để cho Ba Vua được tự do kính lạy, trong bụng chỉ thầm nhẩm lại lời của sứ thần xưa: “Chúa sẽ ban cho Thánh Tử ngai vàng vua Ðavít” và lời ông già Simêon “Hài nhi này sẽ trở nên ánh sáng soi cho muôn nước”

Theo tục lệ Ðông phương, người ta không đến thăm người vị vọng với hai bàn tay trắng. Nên thờ lạy rồi, Ba Vua mở bao lấy vàng, nhủ hương, mộc dược tiến dâng cho Chúa... Và Ba Vua cảm thấy hoan hỉ vô song, tâm hồn như bừng sáng, mọi ước nguyện đều thỏa mãn.....   Nhưng ngoài trời mỗi lúc mỗi tối thêm, mấy căn lều vải đã căng lên gọn gàng đón sẵn. Ba Vua và đoàn tùy tùng cùng đi ngủ, định sáng mai lúc còn sương mờ, sẽ trở lại Jêrusalem, thuật cho Hêrôđê biết việc khám phá đã thành công may mắn.

Nhưng chợt tỉnh dậy, ai nấy đều kể cho nhau nghe giấc mộng ban đêm, và nhận rằng trong lúc ngủ đã được ý trên cho biết không nên trở lại lối cũ, về với Hêrôđê nữa. Nên hừng đông vừa rạng, Ba Vua liền cấp tốc lên đường theo một lối khác trở về quê hương. Lối khác này có lẽ là con đường phía nam Biển Chết.