Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 3

Hang  Bê  Lem

 Thời tiết sang Ðông, từng cơn gió thổi mạnh, trời rét tựa cắt da.

Nhưng ngược với cảnh ngoài, gia đình Giuse vẫn êm đềm ấm áp, những bóng tối lo âu xưa đã nhường chỗ cho những hào quang vui vẻ. Tính ra ngày “ở cữ” đã gần rồi, Maria sung sướng, Bà năng hồi tưởng quang cảnh ngày thiên thần hiển hiện trong khi tay bà để mũi kim chạy mau trên chiếc tã. Bây giờ cái gì cũng đã sẵn, lại thêm cả một cái nôi và một chiếc khăn lớn trên mặt thêu những bông hoa nho nhỏ, Giuse tự tay làm cái nôi đó, làm rất công phu. Thế nhưng ông còn ngắm nghía mãi, có lúc gặp mắt người bạn hiền cũng đang chăm chú nhìn theo, cả hai cùng sung sướng mỉm cười trước cái hy vọng sẽ nhìn một hài nhi anh linh nằm trong nôi đó. Hai ông bà thầm nghĩ:

 Ngày đó, ngày Thánh Tử sẽ sinh ra và sẽ vui biết mấy ! Cái phòng này sẽ thêm vinh hiển... cái cửa sổ kia sẽ mở rộng ra, ánh mặt trời lọt qua đó sẽ được vinh dự đậu trên bàn tay mĩ miều của Thánh Tử. Dăm bảy ngày nữa, Thánh Tử sẽ ngự đến...Ôi Giesu !

Con là hạnh phúc của chúng ta ! Giêsu, con hãy ngự đến trong tình yêu của chúng ta.

                                                                 ***

Có tiếng huyên náo ngoài đường... Người ta đưa tin đích xác: Ðó là chiếu chỉ nhà vua dán ở các cổng làng truyền cho mọi người phải cấp tốc khai tính danh ở nơi bản quán.

Việc biên khai đã bắt đầu, chiếu chỉ này do Hoàng đế Xêgiarê Âugút (Cesar Auguste) ban ra.

 Xêgiarê Âugút là vua nước thượng vị La Mã, bá chủ các đất đai nằm bên bờ Ðịa Trung Hải. Ngày truyền lệnh làm sổ nhân danh trong nước để một đàng được tự hào với con số dân đinh khổng lồ ở dưới quyền và đàng khác hàng thuộc quan có đủ tài liệu khai khẩn một nguồn thuế vô song. Và đó cũng là gián kế chiếm đoạt xứ Balêtin và sát nhập vào đế quốc La Mã, một khi quốc vương xứ đó là Hêrôđê qua đời.

Ðể làm sổ được dễ dàng minh bạch, ban phụ trách đã chia nhau đi từng thành từng làng tra cứu kỹ lưỡng sổ sách công tư người Do Thái lưu truyền trong các thế hệ. Do vậy, nên có chỉ thị buộc ai nấy phải trở về nguyên quán để kê khai. Việc kiểm sổ này xảy ra đang lúc ông Kyrinhu ( Quirinius ) làm toàn quyền xứ Syri ( Syrie )

Theo chỉ thị, ông Giuse và bà Maria đã phải tạm biệt thành Nazareth trong xứ Galilêa, để về Bê Lem là bản quán, một thành nhỏ trong xứ Giuđêa, vì ông thuộc về hoàng tộc Ðavít. Việc biên khai đã bắt đầu, nên việc lên đường phải cấp tốc ! Ðang lúc sửa soạn lên đường, bà băn khoăn hỏi ông:

-   Từ đây đến Bê Lem mấy ngày ?

Ông Giuse thưa:

 -  Chừng 4, 5 ngày, chúng ta sẽ đến đó trong tháng này (tháng 12 dương lịch) vào quãng 24  hay 25.

Bà âm thầm nghĩ: 25 ! Ôi cái ngày tươi đẹp ! Hỡi Gabiên thiên thần của ánh sáng ! Trước đây chín tháng, Người đã hiện đến cùng tôi...Lạy Chúa ! Này tôi dâng mình cho Chúa, tôi vâng ý Chúa, Chúa hãy làm trong tôi những điều Chúa muốn. Tôi cúi đầu tuân phục...Tôi chúc tụng Chúa trong hết mọi sự Chúa định liệu trong đời tôi.....

                                                           ***

 

Trên đường Nazareth đi Bê Lem, lững thững hai bộ hành như hai bóng đen trên quãng đường giá lạnh. Giuse và Maria âm thầm lần bước về phương Nam, lòng trí mỗi người gợn lên những kỷ niệm của ngàn xưa.

Bà hồi tưởng đến Bê Lem thuở trước, cánh đồng lịch sử mà một buổi chiều, hai mẹ con bà Rút ( Ruth ) đã mót lúa lúc hoàng hôn. Ông thì nhớ tới minh hoàng Ðavít một tổ phụ đại danh, đã từng chăn chiên trong cánh đồng tốt cỏ ở đó. Và cách đây mấy tháng, thiên thần đã nói với ông: Giuse con vua Ðavít, đừng ngại nhận lấy Maria làm bạn. Ôi !

Ý nghĩa biết bao ! Hai người tiếp tục đi, bao luồng tư tưởng chung riêng thay đổi nhau làm cả hai tâm hồn cùng nao nức !

Kỳ thật, đó là hai vị đại thánh dạo gót ngọc trên trần gian, các thiên thần chiêm ngưỡng đều phải thì thầm khen ngợi:

 "Vị nữ trinh kia là áng mây hồng, mà có tiên tri đã gọi là “Rạng đông đến trước Thái Dương” ( chỉ Chúa Cứu Thế ) và “Người công chính kia là một vĩ nhân siêu việt trong Thiên quốc” ( chỉ Thánh Giuse )

Ðường thiên lý đã qua. Ðêm về ! Trời mỗi lúc mỗi tối đen, trên tầng cao muôn sao lấp lánh, hẹn hò một giấc nghỉ yên. Hai ông bà vào Bê Lem giữa bộ đón chào của những ngọn đèn mấp máy. Bỗng một luồng gió lạnh vút qua mặt và một câu hỏi hiện lên:

 Chúng ta trọ ở đâu ? Chúng ta cần một phòng ấm áp vì...Ôi ! mà khách trọ nhiều quá !

Ông Giuse đi gõ cửa nhiều nhà... ông cố tìm ra một nơi ấm cúng hẳn hoi vì ngày Trinh Nữ hạ sinh đã gần. Nhưng tìm không ra ! Các nhà trọ thường chật ních cả, và số tiền ít ỏi của ông bà lại không cho phép hỏi thuê những nơi sang trọng.

Kỳ thật, trong những ngày như thế, số người tuôn đến Bê Lem rất nhiều, lại còn thêm nào ngựa nào lừa và hàng trăm thứ khác. Giữa chỗ đông đúc hỗn độn như vậy, còn hay có những chuyện tầm phào vương mùi tục tĩu. Nên đối với ông bà thánh thiện này, tìm được một nơi yên tĩnh tiện nghi quả là rất khó.

Tìm nhà trọ không ra, ông Giuse cảm thấy khổ tâm, bộ tịch ngơ ngác. Ông đứng lặng một hồi lâu... suy nghĩ... Con lừa dường như phân ưu, cũng đứng lặng nhìn ông với cặp mắt tròn xoe.  Nhưng ông đổi cử chỉ... ông dắt con lừa bước qua cửa thành ra ngoại ô...

 

Không tìm được nơi vừa ý, ông đành tạm trú cho qua đêm trong một hang tự nhiên ở sườn núi đá cách xa thành. Có lẽ là nơi một trạch chủ nào đã sửa chữa qua loa để chứa bò lừa trong những ngày chật khách. Ở Balêtin ( Palestine ) có nhiều hang như thế lắm và trạch chủ hay xây một tường sơ sài che trước cửa để tạm dùng khi có việc. Nói theo nghĩa rộng, những hang đó cũng có thể làm nơi tạm trú.

Ðứng bên hang, hai ông bà cảm thấy ngậm ngùi, ân hận vì ngày Thánh Tử sinh ra đã đến. Bà nhìn ông. Ông nhìn bà, bốn con mắt đều long lanh, hai tấm lòng cùng se lại !

Nhưng biết làm sao được ? Thôi cũng xin vâng... Vâng theo ý nhiệm mầu của Chúa .

Những cung điện nguy nga, những tòa nhà lịch sự, những nơi ấm áp, đã khước từ Thiên Chúa, đã xua đuổi Ngài, nên quả thực, Ngài đã ban cho hang Be Lem khó hèn được danh dự đón Ngài trong giờ Ngài ngự đến.

                                                           ***

Thốt nhiên, giữa đêm giá lạnh, không một dấu hiệu báo trước, không một quặn đau, Trinh nữ đã sinh hạ một hài nhi tuấn tú.

  Ðó là Chúa Cứu Thế thiên hạ đợi trông.

Ánh sáng thâu qua thủy tinh không làm cho thủy tinh tan vỡ, trái lại cần làm cho thủy tinh huy hoàng rực rỡ. Cũng giống thế, Ngôi Hai Thiên Chúa từ lòng hiền mẫu nhô ra ánh sáng dương gian, không làm cho Mẹ Ngài mất trinh và đau đớn, trái lại càng làm cho Người thêm vinh.

Trước cử chỉ yêu thương của Thiên Chúa tượng hình bằng Hài Nhi đó, Trinh nữ vô cùng cảm động để mấy giọt lệ chảy trên má.... Người sấp mình xuống thờ lạy, rồi hai tay run run ẵm Hài Nhi lên ngực hôn hồi lâu... hôn nồng nàn tha thiết, và lấy chiếc khăn nhỏ bọc Hài Nhi rồi đặt xuống máng cỏ, nơi ông Giuse đã hết sức dọn dẹp cho hẳn hoi hơn.

Hai ông bà gối quì tay chắp thờ lạy Ðấng mà cả hai biết rõ là Thiên Chúa, cám ơn Thiên Chúa thay cho nhân loại và cầu khẩn thở than những điều chỉ một Thiên Chúa thấu hiểu... Ra như hiệp ý tâm đầu, bọn chiên lừa ở đây mạnh bạo thở hơi ấm và đăm đăm nhìn Thánh Tử hiện xuống trần gian.

Thế là hang Bê Lem, chỗ trú trọ của bò lừa đã hóa nên cung điện của Ðấng Tối Cao, Chúa muốn gởi thân trong hang bò lừa nơi thấp hèn, chật hẹp và hôi tanh để lên án tính kiêu xa, phóng túng và tham thanh chuộng lạ của thế giới.

Chúa sinh ra lúc đêm khuya đang khi nhân loại vùi dưới giấc ngủ nặng nề, để thức tỉnh những tấm lòng say đắm.

Chúa xuống trần gian giữa trời rét lạnh, tối om để sưởi ấm đem vui cho những linh hồn sầu khổ, và soi sáng những trí óc ngu si.

Chúa muốn ra đời chốn Bê Lem, nơi hoang vu coi như vô chủ, nơi thanh vắng không một bóng người, để Ngài trở nên báu vật của mọi người, và nên bạn hữu luôn luôn bên cạnh muôn triệu linh hồn khắp bốn phương.

Bước  Tới  Bê  Lem

Mấy giờ sau rét lạnh dịu dần.

Chung quanh Bê Lem, có tiếng động, rõ là tiếng chân người bước xen lẫn với tiếng chiên kêu... Trước con mắt bỡ ngỡ của hai ông bà, một tốp người bế chiên đã tiến đến.

Nguyên ở phía Ðông Bê Lem mỗi đêm có những người chăn chiên thức giữ chiên. Họ là một trong những nhóm dn du mục, quê hương vô định, nay chỗ này mai chỗ khác tùy theo sức lôi cuốn của cánh đồng ruộng cỏ bao la và sự an ninh của sứ sở. Họ thích tung tăng giữa cảnh tịch mịch thiên nhiên, và gởi mình vào giấc ngủ êm đềm dưới ánh trăng, mặc cho mưa sa gió lộng.

Ðêm ấy đang trò chuyện vui vẻ chung quang một ngọn lửa đầm ấm, bỗng họ thấy lóe ra một tia sáng lạ ở không trung. Họ chưa hết sợ hãi thì đã bị một vùng quang tuyến huy hoàng bao phủ. Trong vùng quang tuyến đó hiện rõ bóng một Thiên thần. Cả bọn đều hoảng sợ. Họ tưởng chừng sẽ chết chìm trong ánh sánh, vì họ nghĩ rằng chẳng ai giáp mặt được Ðức Yavê ( Ðức Chúa Trời ) mà không bị chết. Nhưng giọng điệu êm đềm, sứ thần Thiên Chúa đã đưa tin:

  Các ông đừng sợ, Tôi đến đây để báo tin mừng, là ở Bê Lem quê hương vua Ðavít, đã sinh ra chính Ðấng muôn dân trông đợi. Ðó là Chúa Cứu Thế.

Tiếng Thiên thần dội xuống dịu ngọt và êm vui ! Bọn chăn chiên cảm thấy thế họ lại mừng, tâm hồn bình tĩnh. Ánh sáng huy hoàng kia đã xuyên qua làn áo lông cừu của họ và thấm tới tâm hồn họ. Nhưng từ không trung lại vọng ra một lời khiến họ bỡ ngỡ:

  Và đây là dấu các ông sẽ nhận biết Chúa Cứu Thế, các ông sẽ thấy một hài nhi bọc trong chiếc khăn, nằm trên máng cỏ.

Những người chăn chiên chưa kịp trấn tỉnh. Hai tiếng “máng cỏ” vẫn vọng dư âm...

Thoát chốc tầng trời rộng mở, nhả từng đoạn hình tượng sáng láng tung hào quang xua đêm tối. Ðó không phải là một Thiên thần nữa nhưng là số đông thiên thần hiện ra ca hát...

Có lẽ đó là những thiên thần thuộc nhiều cấp, đêm nay xuống hát mừng Chúa mới sinh ra.  Không có đêm nào đẹp như đêm Giáng Sinh, một đêm đầy ánh sáng, tầng không yên tĩnh rộn tiếng thiên thần ca vui ! Tiếng hát du dương cứ vọng đi vọng đi xa và lên cao mãi, khiến bọn chăn chiên mừng vui ngây ngất... Trong bao lời ca ấy, họ còn nhớ rõ được mấy câu:

  “Vinh danh Thiên Chúa trên trời,  Bình an dưới thế cho người thiện tâm “

Ðêm tối trở lại . Nhưng tâm linh của những người chăn chiên đã sáng ngời lên. Họ tin lời thiên thần và quyết định đi thờ lạy Chúa Cứu Thế. Họ bàn định nhau:

 Chúng ta hãy chạy mau tới Bê Lem, để chứng kiến điều Thiên Chúa thương mạc khải.

nhanh chân, họ đã tới Bê Lem, họ tiến vào hang đá.

 

 

Hang đó không giống cái trụ quán nhỏ xinh xinh và nhẹ nhàng mà các họa sĩ thường vẽ trong dịp Giáng Sinh. Nó cũng không giống cái máng cỏ bằng thạch cao của người bán ảnh tượng bày ở cửa phố. Nghĩa là nó không sạch sẽ sáng sủa và thứ tự, một bên có bò lừa thở ấm, một bên có 3 Vua áo mũ uy vệ quì chầu, trên có số đông thiên thần bay lượn, xướng ca, giăng dài một biểu ngữ với những câu cao ý. Không !  Hang đá kiểu như thế là hang đá tưởng tượng, chỉ để mơn trớn những tâm tình hiếu cảm.

 

Hang đá ở đây, là một chuồng chứa súc vật. Nó thiếu cả cột kèo và hiên mái, nó không được hào nhoáng như những tàu ngựa ngày nay. Nó là một hang đá theo đúng nghĩa, tối tăm khó thở và nặc mùi hôi tanh !  Tuy nhiên người chăn chiên chất phác đã không ngần ngại bước thẳng vào, vì trong trí họ vẫn văng vẳng tiếng thiên thần chỉ bảo.

  Họ thấy ông nhà quê ( Thánh Giuse ) mắt đăm đăm ra chiều ngây ngất, một hài nhi bọc trong khăn nằm trên máng cỏ và một thiếu phụ mặt cúi sát xuống Hài Nhi, đang mỉm cười sung sướng....

Lòng họ hồi hộp tan chảy như sáp ong gần lửa. Nhờ ơn trên soi sáng, họ nhận biết Hài Nhi đó, bề ngoài yếu ớt rét run và giống hệt trăm nghìn kẻ khác, nhưng bên trong là chính vị Cứu tinh của muôn dân. Họ thụp xuống thờ lạy hồi lâu...Họ yêu mến kính tôn Ngài và dòng lệ từ từ chảy....Họ thương Ngài vô cùng, vừa trìu mến vô biên...

Theo lệ đi thăm người “sản phụ” họ mở bao đem dâng ít sữa, dăm ba quả trứng, và một nắm lông chiên. Bà Maria vui vẻ nhận, tỏ bộ cám ơn.... Họ thi nhau thuật lại tỉ mỉ quang cảnh lạ mới gặp, và bà Maria sung sướng nghe họ kể.

Rồi đêm hết, hừng đông chổi dậy....

Cả bọn chăn chiên rút lui. Họ vào thành và trong các lữ quán, kể kại sự hiển linh ban đêm với mọi chi tiết tỉ mỉ họ đã xem thấy về Hài Nhi phi thường, khiến các người nghe phải bỡ ngỡ.

 Nhưng có tiếng bình phẩm: Chuyện ấy làm gì có, Chúa Cứu Thế mà lại sinh trong hang bò lừa ở dọc đường do một thiếu phụ vô danh ư ? Chả nhẽ có thể thế được ?

Riêng về phần Maria, bà khắc cốt minh tâm mọi điều đã nghe biết và ngày ngày suy đi gẫm lại.

Các người chăn chiên đã được chứng kiến việc ly kỳ, họ cũng hết sức tin tưởng cuộc hiển linh kia có thật. Họ an tâm trở về với đoàn chiên, và ca tụng Thiên Chúa về cái đêm phúc đức ấy....

Tám ngày sau, Hài nhi chịu phép cắt bì. Trong dịp đó ông Giuse theo sứ thần đã dặn, đặt tên cho Thánh Tử là Giêsu nghĩa là “Chúa cứu chữa chúng tôi”

Ðó là một thánh danh ý nghĩa cao sâu, bao hàm cái chương trình “cứu thế” Nhưng đến lúc khai trình để biên vào sổ, người ta lại cười hai ông bà là ngớ ngẩn:

-   Làm sao một hài nhi đẻ bên vên vỉa đường trong một đêm giá lạnh, lại đặt tên là “Chúa cứu chữa chúng tôi “.