Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 2

Chị Em Gặp Gỡ

SAU LỜI CHÀO, MỘT THAI NHI NHẢY MỪNG TRONG BỤNG

Ngày truyền tin đã lùi vào dĩ vãng nhưng dư hương còn thoảng lại. Linh hồn cô Maria vẫn tràn ngập trong đại dương vui sướng, không lúc nào quên được Thánh Tử ngự trong lòng, và cái hỷ tín vài tháng nữa bà chị họ có quý tử. Tin sau xét kỹ ra, cũng chỉ là tin vui thôi. Nhưng với tầm mắt đạo hạnh, cô lại hiểu đó là thiên ý muốn cô đi thăm bà chị họ, để trước là chung vui, sau là đỡ đần người chị trong những ngày thai nghén nặng nhọc.

Nên một buổi sớm mai, rạng động còn trộn ánh hồng trong sương mờ trên con đường ngàn dặm, đồi núi chập chùng cô đã mau lẹ tiến bước. Mình khoác chiếc áo màu đỏ lợt, đầu đội lúp xanh lam như thời trang của nhóm thiếu phụ đồng trạc tuổi, mắt cô hướng về phía thành Jêrusalem, lần bước theo ngã đường Anhkarim nơi ông Da-ca-ri-a ở .

Anhkarim là một làng nhỏ đẹp xinh, nằm gọn như bụi cây xanh giữa rặng núi đá đồ sộ và phẳng nhẵn, nên người ta tặng nó cái tên hoa lệ “Anhlarim” nghĩa là "suối nước chảy”

Làng này ở về phía Tây thành Jêrusalem cách xa Nazareth hơn 100 cây số ( một người đi nhanh trung bình phải đi mất 4 ngày ) Ðó là quãng đường ghập ghềnh lên xuống, chạy quanh như rắn uốn khúc giữa những núi đồi. Ðối với một thiếu phụ như cô Maria, cuốc bộ cả một quãng đường như thế, không phải là ít khó nhọc và vất vả. Nhưng chẳng hệ gì, cô không sợ nỗi đường xa dặm thẳng. Cô chỉ vui sướng triền miên, được mang Thánh Tử trong lòng và đi mau để đưa Thánh Tử đến thăm bà chị họ.

                                                                  ***

Kìa từ xa hiện hình một cái làng nhỏ, cái làng xinh đẹp đầy thân ái, quê hương của người thân yêu. Sung sướng bước vào nhà ông Da-ca-ria, cô bắt gặp bà chị Ysave ngoài ngưỡng cửa. Cô nghiêng mình kính cẩn chào. Nhưng một cảm khái vô song đã trùm lấy người chị và cô, khiến cả hai cùng nắm chặt tay nhau và cảm động, tiếp theo đó là một kỳ trạng xảy ra:

     Vừa nghe lời cô chào, bà Ysave cảm thấy con trong lòng nhảy động.

Lúc ấy bà mới hiểu rõ. Trước kia ông chồng đã từng làm hiệu cho bà biết con trẻ lạ trong lòng bà sẽ được thánh hóa ngay từ trong lòng mẹ. Bà vẫn tin như thế, vì bà biết thiên thần đã hiện ra với chồng bà trong Ðền Thờ. Tuy nhiên bà cũng mong được xác nhận một dấu cụ thể của ơn lạ lùng kia. Thì bây giờ đây, tất cả mọi sự đã phơi bày ra ánh sáng ; con trong lòng bà đã nhảy mừng, đó quả là dấu cụ thể nó sẽ sinh ra với một sứ mạng đặc biệt.

Cùng lúc ấy Thiên Chúa soi dẫn nữa, bà cũng biết người chị họ rất thánh thiện của mình mang Chúa Cứu Thế trong lòng, nên bà níu chặt lấy tay cô Maria và cảm động:

  "Maria chị phúc đức hơn mọi người nữ, và con trong lòng chị vạn vạn phúc! “

  "Ôi ! Bởi đâu mà tôi được đặc ân này là Mẹ Chúa đến thăm tôi “

  "Thoạt nghe lời chị, con trong lòng tôi đã mừng vui nhảy múa “

Suy nghĩ một lúc, hình như so sánh đức tin của người chị họ với đức tin của chồng mình, bà lại nói tiếp “

  "Và chị thật là phúc đức, vì chị đã tin những lời Chúa phán với chị. “

Với câu trên đây, hẳn bà ám chỉ ông chồng của bà. Ông bị câm điếc vì đã không tin lời thiên sứ và lúc đó đang ngồi trong nhà, không được hạnh phúc chứng kiến vở kịch gặp gỡ rất cảm động diễn ra.

Nghe bà Ysave chúc mừng, lời lẽ giống hệt như lời thiên sứ, cả quang cảnh “truyền tin” lại gợi ra, làm cô Maria cảm thấy dạt dào sung sướng. Ðôi mắt ánh ngời, gương mặt tỏa sáng, tâm trí bay theo những tư tưởng cao siêu, cô ca khúc một bài tạ ơn Thiên Chúa:

  •   "Linh hồn tôi chúc tụng Thiên Chúa.
  •     Và tâm trí tôi reo mừng trong Ðấng Cứu Chuộc tôi.
  •     Người đã đoái hoài đến tôi tá hèn này,
  •    Nên từ đây muôn đời sẽ khen tôi có phúc,
  •    Ðấng Toàn Năng đã làm trong tôi nhiều điều cao cả
  •   Quả thánh thiện là tước hiệu Người
  •   Lòng lân tuất Người vươn mình từ đời nọ sang đời kia
  •    Ðể ngả bóng trên những kẻ kính sợ Người
  •    Người vận dụng sức mạnh của cánh tay
  •    Ðã hủy diệt những kẻ chứa lòng kiêu hãnh.
  •    Ai lộng quyền, Người truất xuống
  •    Ai khiêm nhường, Người cất lên
  •    Ai đói khát, Người cho no đầy ơn phúc
  •    Ai phú quý, Người sẽ thải về tay không.
  •    Người nhó lại lượng từ bi của Người
  •    Và đón chịu lấy Israel là đầy tớ của Người.
  •    Như Người đã phán cùng tổ phụ chúng tôi
  •   Cùng Abraham và dòng dõi ông cho đến muôn đời.

Bài cảm tán này quen gọi là bài “Magnificat” vì bản văn Latinh bắt đầu bằng chữ Magnificat, nghĩa là "Chúc tụng hoan hô “

Theo các nhà thông hiểu Thánh Kinh, Magnificat là bài tán tụng tuyệt diệu, cấu kết bởi những lời trâ châu trong Cựu Ước và phảng phất tâm tình cao cả của một linh hồn cực kỳ đạo hạnh.  Nội dung về bài này:

 Ba câu đầu mô tả hai cực đoan ; Một bên là sự thấp kém của loài người, tượng hình bằng những tiếng “tôi tá hèn mọn” một bên là ân huệ vô biên của Thiên Chúa, ân huệ làm cho “các dân muôn đời phải tán tụng Trinh Nữ” Do vậy, Trinh Nữ vô cùng cảm động, và mừng vui trào ra lời cảm tán.

 Năm câu sau biểu lộ tâm hồn Trinh Nữ mênh mông như biển cả, gợn sóng lên vì nguồn cảm hoài quá khứ. Quá khứ ! Ôi cái quá khứ vĩ đại ; biết bao lần Thiên Chúa đã từng làm lệch then chốt của vật thụ tạo, là tôn người khiêm nhường lên và hạ kẻ kiêu căng xuống ! Trong lịch sử của ơn cứu rỗi, Thiên Chúa cũng hành động như vậy.

 Hai câu cuối, Trinh Nữ nhắc lại vinh dự của Do Thái và thánh tổ phụ Abraham được chọn làm hạt giống sinh ra Chúa Cứu Thế. Thiên Chúa thật là quảng đại, muôn đời Người đáng ngợi khen.

Khảo cứu luận điệu bài trên đây, nhiều học giả Thánh Kinh còn quả quyết, Magnificat là phản ảnh bài nhã vịnh của nữ tiên tri Anna từ mẫu ông Samuel và nhiều đoạn văn khác trong Cựu Ước. Do vậy, một giả thuyết nữa chổi dậy giữa những nhà chuyên học Kinh Thánh: Trinh Nữ đã từng ca khúc Magnificat nhiều lần trong ngày “Truyền tin” và còn lập lại nhiều lần nữa trong đời sống.......

Nhưng tiếng cảm tạ đã ngừng, cảnh hai chị em gặp nhau đã kết liễu. Mọi sự lại lùi vào chỗ bình thường và im lặng trong nhà ông Da-ca-ri-a.

Cô Maria còn ở lại với bà chị họ ba tháng nữa mới trở về Nazareth. Quãng thời gian đó trong nhà ông Da-ca-ria, một câu chuyện hay được nhắc đến là chuyện hai kỳ đồng sẽ sinh ra.

Gioan  Chào   Ðời

Thời gian thấm thoát trôi mau như dòng nước chảy. Không bao lâu, bà Ysave đã tới kỳ mãn nguyệt khai hoa trong một ngày đẹp trời, bà đã góp thêm vào thế giới một người con anh tuấn. Ngày cậu cất tiếng khóc chào đời... Bà vui, Ông vui... Cả nhà cùng vui.. Trong đó có cả người chị họ thành Nazareth. Tin mừng được tung ra, gây nhiều cảm giác.

Ysave nguyên là một lão phụ muộn mằn, thiên hạ thường đàm tiếu, vẫn coi bà như là người bị trời phạt ! Nên hỷ tín phát ra, thân thuộc nội ngoại của bà đều bỡ ngỡ, họ rủ nhau tới tấp đến chúc mừng.

Tám ngày sau họ hàng thân thích được mời đến dự lễ Khai sinh cho cậu mới, theo một nghi lễ gọi là lễ “Cắt bì”

Vì những lý do bảo vệ giống nòi, vệ sinh và an hảo, tại miền cận đông khan hiếm nước hay sinh bệnh truyền nhiễm, người Ai Cập, Ả Rập và Do Thái, có tục cắt bì cho trẻ em nam mới sinh vào ngày thứ tám. Riêng với Do Thái, lễ cắt bì còn nhuốm thêm một ý nghĩa tôn giáo rất xa xôi. Họ tin rằng là dân riêng của Chúa, có đặc quyền thừa tự những lời hứa “cứu rỗi” họ cần phải áp dụng lễ cắt bì cách long trọng để kỷ niệm bằng máu đào của nam nhi bản thỏa hiệp “Trung Nghĩa” đã ký với Chúa ngày bỏ nước Ai Cập. Nghi lễ này có thể làm hai nơi, một là nhà Giảng Hội, hai là ở tư thất.

                                                             ***

Vậy bà Ysave sinh con được tám ngày, ông Da-ca-ria đã cho mời mươi người ( theo tục lệ phải mời ít nhất 10 người ) đến nhà dự lễ cắt bì cho cháu mới.

Cắt bì xong mọi người im lặng và cung kính, nghe vị chủ tế đọc mấy lời lễ nhạc sau:

  "Lạy Chúa Tể của tổ phụ chúng tôi !

  "Xin hãy tăng cường và bảo vệ trẻ nhỏ.

  "Xin hãy làm cho thanh danh nó thơm nức trong dân. “

Tiếp đến là việc chọn tên cho con trẻ. Ai ai cũng có vẻ nhiệt thành và mau mắn đưa ra một quý danh để làm vui lòng gia chủ. Người chủ lễ đề nghị một tên được mọi người chú ý:

   "Xin gọi cháu là Giacaria ! “

   Nhưng Bà Ysave cương quyết chối từ !

    "Không, không ! tên cháu là Gioan .”

Mọi người phản kháng:

  “Không vậy được ! bà dị quá ! Có ai trong tông tộc là Gioan đâu ? Thôi thế để chúng tôi hỏi ông cho chắc việc vậy.

Người ta quay về phía ông Da-ca-ria, trổ tài làm hiệu, xin ông tỏ ý đặt tên gì cho cậu ấm, rồi một bảng viết bằng đá đen bôi sáp với cây viết sắt được đưa ra.....

Nhưng trước con mắt ngỡ ngàng của mọi người, ông viết lên những nét rõ ràng chính tên bà Ysave vừa đề nghị:

   "Tên cháu là Gioan “

Thật là minh bạch... Không còn ai dám cãi về danh hiệu phải đặt tên cho con trẻ nữa. Họ chỉ lấy làm lạ cái danh hiệu tân kỳ này thôi, vì họ không biết những bí mật đã xảy ra trong Cung Thánh từ chín tháng trước. Thế rồi hết bỡ ngỡ, họ lại đổi sang kinh ngạc, vì thoát chốc, Da-ca-ria, ông già bị câm điếc từ chín tháng vừa viết xong chữ “Gioan”

 đã bắt đầu nói, và trong niềm vui say sưa lại lồng thêm ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, ông đã ca xướng một bài tán tạ rất cảm động dệt lên bởi những lời tiên tri:

  •   "Hoan hô Thiên Chúa !
  •  "Chúc tụng Chúa Tể dân Israel !
  •  "Lạy Chúa ! quả thực, Chúa đã ngự đến giữa dân Chúa.
  •  "Ðể mang ơn Cứu rỗi lại.
  •  "Chúa đã làm chổi dậy trong gia đình Ðavít là tôi tá Chúa.
  •  "Một vị cứu tinh uy hùng
  •  "Như xưa Chúa đã phán cùng các tiên tri:
  •  "Chính người sẽ cứu chúng tôi thoát khỏi tay thù địch.
  •  "Và thoát khỏi quyền lực những kẽ mưu hại chúng tôi !
  •  "Chúa đã yêu đương tổ phụ chúng tôi
  •  "Chúa đã nhớ lại lời Thánh ước Chúa.
  •  "Và lời minh thệ cùng Abraham là tổ phụ chúng tôi,
  •  "Ðể ban cho chúng tôi, sau khi thoát khỏi tay thù địch,
  •  "Ðược hiên ngang phụng sự Chúa trước tôn nhan Người, trong đàng thánh thiện và lẽ
  •    công chính trọn đời của chúng tôi.
  •  Rồi ông quay vào cậu con trai nói tiếp:
  •   "Còn phần con, hỡi con nhỏ của Cha !
  •   "Một ngày kia con sẽ trở nên tiên tri của Chúa tối cao.
  •   "Con sẽ đi trước nhan Người, để dọn đường cho Người ngự đến,
  •   "Con sẽ mang lại cho dân Chúa, Tin Mừng cứu rỗi và ơn tha tội.
  •   "Vì với lượng hải hà, Thiên Chúa sẽ ngự đến thăm viếng chúng ta,
  •   "Chúng ta phải ngồi trong bóng mờ của sự chết
  •   "Nhưng Người đã hiện lên sáng tựa mặt Trời, để đánh xua bóng đêm tăm tối
  •   "Và hướng dẫn bước đi của chúng ta trong nẻo hòa bình, công chính.

Nghi lễ đã xong, tiếng ca ngợi của ông già Da-ca-ria im bặt, thân bằng cố hữu đều giải tán. Nhưng ai nấy hồi hộp. Hiện tượng ly kỳ của buổi lễ còn luôn luôn phảng phất. Nó đã trở nên đầu đề của những câu chuyện hằng ngày và lừng tiếng đi trong cả miền sơn dã xứ Giuđêa. Một niềm kính sợ lan tỏa trên khắp những nơi tiếp cận nhà Da-ca-ria. Và từ nhà nọ sang nhà kia, xì xầm lời bàn tán:

   " Theo ý ông, trẻ kỳ đồng này sẽ ra sao ? “

Trong gia đình yên tĩnh của ông Da-ca-ria, cậu Gioan ngày ngày càng thêm lớn và phát triển, cậu là một nam nhi chí khí.

Không bao lâu, cậu đã biến đi. Thân phụ cậu về già, khuất núi ! Tuổi chừng 15 hay 16 Thân hình phơi phới sắc xuân xanh, cậu lánh mình vào rừng xa núi vắng, cậu muốn hòa lời kinh và tiếng roi đánh tội vào điệu đàn muôn thuở của suối rừng, để tập đời sống thanh cao theo những nét hồn nhiên vĩ đại nơi rừng núi. Ngoài ra nữa, không ai biết được đời sống của cậu ra sao, mãi cho đến ngày cậu ra mắt trước dân chúng Israel với đoàn môn đệ và Phép Rửa.              

 Tiến  Thoái  Lưỡng  Nan

 BUỒN  VUI  ÐẮP  ÐỒI

  Cậu Gioan sinh ra. Trinh Nữ coi thời hạn viếng thăm đã hết. Người xin từ biệt bà chị họ, cả hai cùng sầu, mấy hàng lệ rơi lã chã....... Một làn áo đỏ lợt lại bay về Nazareth, Trinh Nữ trở về quê hương, tâm hồn ngây ngất, thánh ân dào dạt, lúc lúc lại thầm ca bài Magnificat. Trinh Nữ về nhà, ông Giuse đến chào thăm săn đón với những nụ cười tươi thân ái. Hai Thánh nhân lại gặp nhau. Hai ngọn nến sáng lại sóng đôi nhau tỏa hào quang và nhiệt khí trên bàn thờ kính ái.

                                                               ***

Ông Giuse sẽ nghĩ đến việc thành hôn, vì trước đây mới có lễ đính hôn !

Thành hôn ! Cái danh từ tươi sáng gồm biết bao sửa soạn êm đềm !

Nhưng giữa trời quang mây tạnh, thình lình nổi lên cơn giông, mưa sa gió táp. Ngày vui chưa kịp hưởng, đêm sầu đã lại ! Trong họ ngoài làng có tiếng thì thào tới tai ông Giuse

  "Maria, bạn ông có thai! “

Thoạt tiên không tin, ông hết sức bỏ đi như cơn cám dỗ. Nhưng dần dần bụng dạ cũng phải tin theo hiện trạng trước mắt: Maria quả đã có thai. Tâm trí ông liền bối rối lại, trở nên đích cho những nhát rìu lo âu băm bổ. Sự thực là Maria vắng mặt 3 tháng và đã có thai. Có thai không phải vì đã ăn ở với ông Giuse hay vì có tình ngang ý trái với người nào khác ! Nhưng vì phép lạ của Chúa Thánh Thần. Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thai như lời thiên thần đã báo trước.

Maria biết rõ như vậy, nhưng ông Giuse hiểu sao ra ! Thành thử ông buồn phiền bối rối, nỗi niềm sầu khổ này mỗi ngày một tăng lên, lộ ra với những nét răn khác thường trên khuôn mặt vốn bình tĩnh.

Thấy người thân mến phải đau khổ vì mình, Maria cũng mất hết vui ! Bể sầu càng nổi sóng, bão chua cay càng thổi mạnh, Người thấy không biết làm cách nào tháo gỡ, Người thấy mình chét chẹt giữa hai điều cùng không có thể: Một đàng không thể công khai tuyên bố  việc bí mật của Thiên Chúa. Một đàng khác cũng không thể tự tiện ngỏ với Giuse:

-  "Này Giuse thân ái ! Tôi tốt phúc lắm, thai ở trong tôi là do Chúa Thánh Thần đã   làm nên. “

Không ! Không ! Nói thế làm sao được ? Ai tin ? Tự mình chứng minh cho mình thì còn nghĩa lý gì ! Do thế Trinh Nữ chỉ biết lặng thinh, gởi tâm khổ vào lời cầu nguyện, phó muôn sự mặc ý Chúa.

                                                              ***

Tàn nhẫn thay ! Vết đau mỗi ngày một loang rộng. Mây nghi hoặc mỗi ngày một đen đặc và bao trùm lấy Giuse. Dấu “Có thai” càng rõ rệt, ông càng phiền muộn. Da dẻ xanh nhợt, mặt mày hốc hác, cặp mắt lim dim lờ đờ mơ mộng, suốt ngày đăm chiêu vào chỗ vô định xa xắm....

Ngày ngày ông vẫn luôn tay làm việc, cố gởi nỗi lòng vào mạch cưa tiếng búa, và những chiếc ghế nhỏ xinh. Nhưng lúc buông tay khỏi việc, tiếng chàng đục vừa im, vấn đề kia liền vụt trở lại .

Ông là người rất thánh thiện, và hiểu Lề Luật rõ ràng. Và theo Lề Luật có hai cách giải quyết:

Cách thứ nhất, là tố giác phạm nhân về tội gian dâm trước án tòa, với những tang chứng rõ rệt, tòa sẽ tuyên án tử hình, cho phép dân và khổ phu ném đá dâm phụ !

Cách thứ hai là giải phóng Maria cách êm đẹp trước mặt hai chứng tá, giao cho cô một tờ ly thư mà trong đó không nói rõ nguyên nhân chi cả.

Theo luật thì thê. Nhưng đời sống Maria lại rất thánh thiện, không thể nào bắt bẻ được. Lạ lùng thay ! Cô vẫn hồn nhiên, vẫn bình tĩnh, vẫn nồng nàn thành thực trong tình yêu thương, vẫn trong sáng và dè dặt trong dáng điệu.

Cũng có lúc hào quang trinh tiết của cô tựa như hiển hiện rạng ngời đến nỗi không thể nào hồ nghi được cô đã thất trinh. Phải ! Không thể nào tội lỗi lẻn vào được con người nhân đức ấy.

Tóm lại ông Giuse vẫn tin chắc như hai với năm là mười, rằng bạn mình vô tội. Nhưng trái lại Maria quả thật đã có thai !

-         Ôi Maria quả thật là một người trần gian không thể hiểu !

Nhưng Giuse một người công chính mang trong mình một linh hồn sáng suốt, thấm nhuần bằng dòng máu nhân từ của Tân Luật ( chỉ Luật Phúc Âm ) Không có bằng chứng rõ rệt là Maria đã phạm tội, ông không dám nghĩ đến chuyện đem ra sỉ nhục công khai người bạn ông vẫn kính yêu.

 Vậy ông định trao trả Maria một cách âm thầm cho nhạc phụ để cô được tự do. Âm thầm nghĩa là không viết ly thư chính thức với những nguyên nhân, ngày tháng và chữ ký, nhưng chỉ đưa tin cho nhạc phụ biết ý mình đã đổi thay. Cái ý định đó ông tính sẽ lọc lại một lần nữa bằng lời cầu nguyện, rồi tìm dịp ngỏ cho Maria biết. Tuy nhiên ông vẫn do dự phân vân.

Một đêm kia mệt lã sau chuỗi ngày lo nghĩ, Giuse đặt mình trên chiếc chõng tre, ngủ một giấc nặng nề hoảng hốt ! Tâm trí ông khuấy rối lung tung. Mỗi lúc chợt tỉnh, vấn đề gai góc kia lại tái diễn. Nhưng đột nhiên một thiên thần đã hiện đến và phán bảo:

  Giuse con vua Ðavít, chớ ngại nhận lấy Maria làm bạn. Bào thai trong lòng Người là do Chúa Thánh Thần. Người sẽ hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu nghĩa là “Cứu Thế "vì Người sẽ cứu chữa dân Người khỏi tội khiên.

 Tiếng thiên thần vừa vọng xuống, ông Giuse thấy cả một vũ trụ linh hồn đã biến đổi.

Ông được soi sáng một cách rõ rệt hoàn toàn, trời tăm tối và u buồn lại hóa ra thanh quang sáng lạn, một làn vui sướng nổi dậy lâng lâng. Giờ đây ông lại hiểu mình có cả một địa vị đặc biệt trong việc giải cứu các sinh linh nữa. Ông sẽ là gia trưởng một gia đình mà trong đó người con là Chúa Cứu Thế, vị cứu tinh của muôn dân, và người vợ là một trinh nữ tuyệt vời thánh thiện. Trước kia bối rối bao nhiêu, bây giờ lại sung sướng bấy nhiêu. Ông hiểu hết ý nghĩa lời tiên tri Isaia trong Cựu Ước: “Một Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh nam nhi. Nam nhi đó sẽ được thiên hạ tôn xưng là Emmanuel, nghĩa là Chúa ở với chúng tôi. (Is. 7: 14 )

 Sáng hôm sau ông vội vã đi gặp Maria để tỏ bày và xin lỗi. Ông vui quá mà hai mắt long lanh giọt lệ. Cô Maria cũng chỉ biết vui thôi, cô đọc trong giọt lệ của bạn nhiều ý nghĩa, cô âm thầm ca lại bài Magnificat.

Mấy ngày hôm sau, thành Nazareth được chứng kiến một lễ thành hôn đáng ghi trong lịch sử. Ðó là lễ cưới cô Maria. Chiều về khí nóng dần bớt, gió hiu hiu thổi, mang theo mát mẻ ven trời. Một bọn thanh niên y phục lịch sự, ca hành theo điệu ống tiêu và nhịp tiểu cổ, từ nhà chú rể tới nhà cô dâu. Ðến cửa, cả bọn đều đứng đợi, chỉ một mình chú rể được hân hạnh bước vào. Cũng chính lúc ấy, cô dâu mặt ửng đỏ, từ biệt họ hàng và ra đi. Lần sau hết bọn phù dâu sửa lại cho cô cái lúp lớn thêu hoa che mình và đặt trên đầu cô một vòng hoa trắng kết lẫn với hoa nho nhỏ màu cam. Chuỗi người quần áo sặc sỡ đã dàn hàng, mặt mày hớn hở, họ bắt đầu tiến bước, các cô cầm đèn, còn các cậu thì cầm đuốc nhựa thông ; cứ thế tiến thẳng đến nhà chú rể. Mọi người vào nhà, cánh cửa khép lại, và tiệc bắt đầu giữa tiếng chúc tụng âu ca.

                                                                *** 

Giuse đón Maria về nhà. Cả hai đã nên vợ chồng chính thức. Maria sung sướng, Bà năng đếm ngón tay ngày Thánh Tử sẽ sinh ra. Bà sửa soạn ngày ấy bằng tất cả sự có thể, Bà mua vải, may tã, thêu khăn, nhất là siêng năng cầu khẩn.

Giuse cũng sung sướng hết sức, một đàng Ông yêu kính người bạn hiền vô song, một đàng khác ông không hề dám nghĩ đến việc vợ chồng ăn ở. Ông biết rõ lắm, cũng như ông, người bạn của ông đã khấn ở đồng trinh trọn đời và hiện là Mẹ Thiên Chúa.

Từ ngày được soi sáng, ông cũng siêng năng làm việc hơn để dành dụm chút ít, chờ ngày Thánh Tử sinh ra. Ông hiểu Chúa Cứu Thế không muốn luôn luôn sống bằng phép lạ, mà chính bằng việc làm của ông. Nên ông càng sung sướng thêm nghị lực làm việc.

Gia đình Giuse Maria là một gia đình gương mẫu, ban ngày thuận hòa an vui, chăm chỉ làm việc. Tối đến cầu kinh ; giọng trong trẻo của đôi bạn khiết trinh êm ái đưa lên trời thẳm như khói hương trên đàn hiến lễ. Và những câu hàn huyên buổi tối, thường xen vào một mẫu chuyện vô cùng thân mật đáng ghi:

-  Thiên thần truyền cho tôi gọi Thánh Tử sẽ sinh ra là Giêsu.

-  Vâng ! Chính thực mệnh lệnh trên là như thế.

-  Giêsu tức là vị cứu tinh !

-  Vâng ! Quả vậy, và người còn là vị cứu tinh vô cùng vinh hiển, Người sẽ thống trị muôn đời và muôn dân.

Câu chuyện đó cứ nồng nàn nối tiếp và thường tận kết bằng những tiếng chúc tụng ngợi khen Chúa Trời cao cả...