Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 16

Người  Khách  Lạ...

    Chiều hôm Chúa sống lại, có hai môn đệ của Ngài trở về Emmau, một làng nhỏ ở phía tây cách Jêrusalem 160 dặm.  Hai môn đệ này đã nghe ông Phêrô và Gioan kể lại những việc xảy ra lúc buổi sớm, nhưng không tin Ngài đã sống lại. Tâm hồn chán nản, nét mặt buồn rầu, hai ông chậm rãi kéo lê những bước nặng trên con đường xa. Hai ông nói với nhau cho vui chân về những việc đã xảy đến và trao đổi với nhau những cảm tưởng cùng những ý kiến lúc hợp lúc không. Ðột nhiên hai ông quay lại gặp một bộ hành theo sau đang chăm chú vào chuyện của hai ông. Hai ông đứng lại chào, và mời khác lạ cùng đi.

  Người khách lạ này là chính Chúa đã sống lại, nhưng hai ông không nhận biết Ngài. Con mắt của hai ông như bị một tấm màn che khuất. Và Ngài, lúc nhập bọn với hai ông Ngài cũng không tỏ mình ra vội. Ngài chỉ khai mào hỏi hai ông như một người ngoại cuộc :

   --Các ông chuyện vãn gì với nhau dọc đường mà buồn bã thế ?

  Một người trong hai ông tên là Cleopas thưa lại :

    --Sao ông hỏi lạ thế ? Chắc hẳn chỉ có ông là lữ  khách ngoại quốc ở Jêrusalem, nên ông mới không rõ những việc đã xảy ra từ mấy hôm nay ?

    --A !  Việc gì vậy ?

    --Việc Giêsu Nazareth chứ việc chi !..Ngài quả là một người rất lạ, một sứ giả của Chúa Trời, một tiên tri đã làm trước mặt dân những việc phi thường và đã tuyên bố những lời bất hủ. Thế mà các Thượng tế  đã cùng với Hội đồng Cộng tọa kết án tử hình và đóng đinh Ngài vào khổ giá. Chúng tôi là một đệ của Ngài, chúng tôi những hy vọng Ngài là vị giải phóng dân tộc Israel. Nhưng hôm nay đã là ngày thứ ba sau ngày Ngài tử nạn rồi mà chưa thấy gì lạ hết. Quả thực sáng hôm nay mấy thiếu phụ đã làm chúng tôi bỡ ngỡ. Họ đến thăm mồ Ngài lúc còn tinh sương và không thấy xác Ngài, lại đã trở về nói quả quyết rằng họ đã thấy Thiên Thần hiển hiện và chính Thiên Chúa đã bảo : Ngài sống lại rồi. Lập tức bấy giờ có hai người trong bọn chúng tôi chạy đến mồ quan sát. Trở về họ nói cũng thấy mọi sự như mấy thiếu phụ kia, nhưng chính mắt họ không thấy Ngài đâu cả !..Như thế chúng tôi tin làm sao ?

   Chúa trách các ông :

    --Ôi những người ít hiểu và chậm tin những điều các tiên tri đã nói ! Nào Thánh Kinh đã chẳng dạy trước, cần Chúa KiTô phải chịu khổ nhục để rồi khởi hoàn vinh quang ư ?


  Rồi Ngài nhắc hết mọi lời tiên tri chỉ về Chúa Cứu Thế, từ Môi Sen cho đến các ông Isaia và Daniel  v..v.. Ngài giải thích những lời tiên tri ấy một cách rõ rệt khéo léo và hùng hồn lắm, khiến các ông cảm thấy lý thú, thán phục và say mê. Các ông cảm thấy lý trí của các ông được khai quang một cách lạ và trong tâm hồn của các ông nảy nở một niềm tin khá vững. Nên càng nghe, các ông càng quý mến người bạn đồng hành và muốn nghe thêm.

  Nhưng kìa đã đến đầu làng Emmau, nơi các ông định tới. Chúa Giêsu giả bộ muốn đi xa hơn. Các ông liền khẩn khoản nói với Ngài :

    --Mời ông ở lại với chúng tôi, vì đã chiều muộn, ngày đã xế bóng. Hẳn ông cũng mệt và cần lấy lại sức. Vừa nói xong các ông cầm lấy tay Ngài, dắt vào con đường nhỏ đi vào làng Emmau. Ngài cũng vui lòng ưng thuận.

  Tối đến, lúc ngồi bàn, Ngài được mời ngồi giữa.

  Ngài cầm bánh, chúc lành trên bánh rồi bẻ bánh và đưa cho các ông mỗi người một miếng. Thoát chốc các ông ngạc nhiên mở mắt to và nhận biết Ngài. Các ông giơ tay toan ôm Ngài, nhưng Ngài đã biến mất. Không như trước nữa, bây giờ Ngài đã sống lại, xác Ngài khinh diệu, thoát luật lệ của trái đất, của trọng lực không gian và thời gian.

  Các ông tỉnh lại nhìn nhau và nói với nhau :

    --Ðúng là Ngài rồi. Quả Ngài đã sống lại. Ôi thực là vinh hiển ! Chúng ta còn hồ nghi thế nào được nữa. Nào chúng ta chẳng thấy lòng chúng ta phấn chấn nóng nảy ở dọc đường khi nghe Ngài trưng dẫn và giải thích những đoạn Thánh Kinh ư ? Ôi mà sao lúc ấy chúng ta chẳng nhận được Ngài ?!..  Rồi mừng quá quên hết mệt nhọc, các ông bỏ bàn ăn, lao mình vào đêm tối, vội trở về Jêrusalem báo tin cho các bạn.

  Về tới lúc đó, các ông thấy mười một tông đồ đang hội với các môn đệ khác. Chưa kịp chào, các ông đã thấy nhiều người giơ tay và la lớn tiếng :

    --Chúa đã sống lại rồi ! Quả thực Chúa đã sống lại. Ngài hiện ra với ông Simon.

  Các ông xen vào :

    --Ngài cũng hiện ra với chúng tôi nữa.

  Rồi các ông kể lại đầu đuôi những việc đã xảy ra lúc các ông đi đường, nhất là lúc Ngài bẻ bánh, do đó các ông đã nhận được Ngài....

  Các ông kể lại một cách thành thật và quả quyết, làm phần lớn các Tông đồ và môn đệ cùng tin. Nhưng cũng có một số người chưa tin hẳn. Tuy nhiên, họ giữ thái độ dè dặt, không dám công khai phi bác. Ngày hôm ấy, mọi người cảm xúc quá chẳng nghĩ đến ăn. Nhưng mấy thiếu phụ đã dọn cơm và mọi người cùng ngồi bàn bên những ngọn bạch lạp nóng ấm. Lúc cầm miếng bánh, ông Phêrô nhớ lại lời Thầy dặn bữa tiệc hôm xưa rằng :

    --Các con hãy làm sự này để nhớ đến Thầy.

   Và một dòng lệ nóng từ hai khóe mắt chảy trên đôi má lũng của ông.

Lạy  Chúa  Tôi,  Lạy  Chúa  Trời  Tôi...

  Nhưng rồi dòng lệ ông Phêrô đã cạn. Ðêm đã về khuya, Các Tông đồ và môn đệ cũng tập hợp với nhau trong tình thân thiện và tưởng niệm Thầy. Các ông ngồi bàn ăn, nhưng bao nhiêu tâm trí hướng cả về Thầy Chí Thánh để gợi lại gương mặt đáng kính của Ngài đã mờ xa. Cửa đóng rất kín, vì các ông còn sợ con mắt dòm ngó của người Do Thái, những kẻ đã đóng đinh Thầy, và đang tìm cách hại những ai theo Ngài nữa.

  Thoát chốc một tiếng lạ ngọt ngào từ đâu vang lên :

    --Bình  an  cho  các  con !

  Và tiếp đến một thân hình lờ mờ hiển hiện ở giữa các ông. Các ông sợ hãi quá, hoảng hồn, mặt tái ngắt. Cả những ông bạo nhất xưa nay cũng tưởng mình thấy một loài thiêng ở thế giới khác.

  Nhưng hình đó chính là Chúa Giêsu, Ngài đã sống lại và hiện đến. Ngài ôn tồn trách nhẹ các ông :

    --Sao các con lại bối rối và tưởng lầm như thế ? Ðây chính là Thầy, chứ có phải ai đâu. Này các con hãy xem chân tay và cạnh sườn Thầy. Hãy nhìn kỹ và hãy rờ mó nữa. Loài thiêng đâu có xương và có thịt như các con thấy ở nơi Thầy đây.

  Và vừa nói, Ngài đưa chân tay và cạnh sườn cho các ông xem. Các ông vui mừng lắm, nhưng vẫn còn hơi do dự chưa dám tin, vì đang ở trước một thực trạng phi thường quá. Thấy thế, như muốn ban thêm một bằng chứng cụ thể nữa, Ngài hỏi các ông giọng ôn tồn và thân ái :

    --Ở đây các con có gì ăn không ?

  Các ông lẳng lặng đưa cho Ngài một lát cá nướng.

  Ngài liền cầm lấy và ăn trước mặt các ông. Bấy giờ các ông mới chắn chắn mười mươi là Ngài. Các ông tin tưởng và vui mừng quá. Nét mặt các ông sáng ngời, biểu hiệu một niềm an vui sau những ngày lo sợ bối rối.

  Ngài liền nhân dịp đó, ủy cho các ông sứ mạng tiếp tục công việc vĩ đại của Ngài. Ngài âu yếm nhìn và thân mật nói :

    --Cha Thầy đã sai Thầy thế nào, Thầy sẽ sai các con thế ấy.

  Ý Ngài muốn nói : Cha Thầy đã ủy thác cho Thầy việc cứu chuộc nhân loại cho khỏi tội lỗi, nay Thầy cũng ủy cho các con tiếp tục công việc vĩ đại ấy. Rồi như muốn đưa vào tâm hồn các ông một nguồn sống mới và trao cho các ông một quyền siêu nhiên để giải phóng thế gian khỏi tội lỗi. Ngài thở nhẹ trên các ông và phán bảo :

    --Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, người ấy sẽ được tha. Và các con cầm buộc ai, người ấy sẽ bị cầm buộc.

   Hơn bao giờ hết, cuộc hiển hiện của Chúa trong đêm nay, đã làm các ông vui mừng và tin tưởng rất vững. Các ông cảm thấy Chúa Trời đã không bỏ các ông và chắc chắn không bao giờ bỏ nữa. Các ông cảm thấy địch thù hoàn toàn thất bại và sự thật đã thắng. Sự thật hiện thân trong Ngài. Ngài đã sống lại và ở giữa các ông..

  Ngài biến đi, nhưng các ông tin thật nước Ngài đã thiết lập rất vững vàng và giáo lý của Ngài sẽ tồn tại mãi mãi, cũng như chính giáo lý ấy đêm nay đã bừng sáng trong trí óc các ông, khiến các ông vui say và mạnh bạo, khiến các ông yêu nhau và tận tình đoàn kết với nhau, không bao giờ phải rời xa nhau nữa.

  Tuy nhiên các ông cũng tiếc một điều là trong đêm hồng phúc này, một bạn chí tình đã vắng mặt nơi xa, không được chung hưởng những phút cảm động đầy vui sướng. Người bạn đó là Tôma Ðidimô rất được Ngài yêu và chính Ngài đã chọn vào số 12 Tông Ðồ. Bởi vậy ngày hôm sau lúc Tôma về, các ông mừng rỡ hết sức và vội báo tin :

    --Thầy đã sống lại. Thầy đã sống lại. Chính Thầy đã hiện đến với chúng tôi, và chính con mắt chúng tôi đã được thấy Thầy.

  Nhưng ngán quá, ông Tôma không tin ! Và các ông càng quyết, Tôma càng tỏ thái độ hồ nghi, cho là các bạn của ông bị giật gân và loạn óc. Các ông dẫn chứng một cách quyết liệt : Nhưng chính chúng tôi đã thấy các vết thương nơi mình Thầy, thấy rõ ràng lỗ đinh ở chân tay, thấy cả cạnh sườn bị mũi giáo đâm thủng nữa. Ông Tôma đáp lại :

    --Thế nhưng các bạn đã sờ vào những thương tích ấy chưa ? Ô, sờ vào là vấn đề tối hệ...phải sờ vào mới nhận định được và khỏi bị lừa chứ...Con mắt có thể lầm, nhưng sờ là bằng chứng rất chắc...Riêng đối với tôi, nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, và không được thọc ngón tay tôi vào chỗ đóng đinh và vào chính cạnh sườn Ngài, không bao giờ tôi tin.

  Câu trả lời ông Tôma là các Tông đồ tức lắm. Nó là lối trả lời của những kẻ mắc một chứng bệnh tinh thần ; Bệnh cứng lòng tin. Người mắc chứng bệnh đó không nhận nổi ánh sáng của lý trí là phần trọng nhất của linh hồn, và không nhận nổi ánh sáng của con mắt, là cơ quan quý nhất của thể xác. Họ chỉ có thể nhận được một thứ bằng chứng hạ cấp nhất là xúc giác, là sờ mó bằng tay thôi. Bởi vậy các Tông đồ vừa bực vừa thương hại cho Tôma, người bạn đã vắng mặt trong đêm hồng phúc ấy. Các ông cũng cầu mong Chúa lại hiện đến nữa, hiện đến chính lúc ông Tôma có mặt để ông được tỉnh ngộ và tin theo.

  Thì quả nhiên cầu được ước thấy. Tám ngày sau giữa lúc các Tông đồ và ông Tôma đang hội họp, đột nhiên Chúa lại hiện ra. Hôm ấy cửa cũng đóng kín, Chúa hiện ra chào các Tông đồ : “Bình an cho các con.” Rồi Ngài đến đứng ngay trước mặt ông Tôma, nhìn ông, đưa cho ông xem các vết ở tay, ở cạnh sườn, và nói dằn từng tiếng một rằng :

    --Hỡi Tôma, hãy nhìn kỹ những vết thương ở tay và ở cạnh sườn Thầy. Hãy thọc ngón tay vào vết thương ở tay Thầy và vào vết thương ở cạnh sườn Thầy nữa. Hãy thọc vào, hãy tin và đừng hoài nghi nữa !..

  Nhưng ông Tôma đã cảm thấy khổ sở và sợ quá ; Ông có ngờ đâu điều mình nói với các bạn bữa trước. Ngài cũng biết và còn làm theo !..Ôi !..Và một cảm xúc chạy loạn trong thân thể, bất giác ông đã quỳ xuống ú ớ :

    --Lạy Chúa tôi. Lạy Chúa Trời tôi !

  Giọng nói run run của ông chứng tỏ ông đã thật tình hối lỗi. Ý ông muốn trình bày lại rằng : Lạy Chúa, Lạy Chúa, thôi Chúa tha cho con. Con đã quá dại dám chối Chúa ! Con đã chối Chúa sống lại, mặc dù các bạn con đã bảo con ! Lạy Chúa bây giờ con tin, con tin lắm.

  Chúa Giêsu phán :

    --Hỡi Tôma, Thầy tha cho con. Con đã tin vì mắt con đã thấy. Ðiều đó không có gì lạ. Nhưng phúc cho những kẻ không xem thấy mà tin.

  Phán xong Chúa lại biến đi...Các Tông đồ luyến tiếc, nhìn ông Tôma với cặp mắt thân tình, tâm hồn vô cùng cảm động và sung sướng...

Cá  Nướng  Trên  Than  Hồng

 THẦY  HIỆN  TRÊN  BÃI  BIỂN...

  Sau lần Chúa hiện ra bảo ông Tôma xỏ ngón tay vào cạnh sườn Ngài, các môn đệ đều vững tin Ngài sống lại, và nhớ lời Thiên thần dặn “Ở Galilêa sẽ được gặp Ngài” các ông đã bỏ Jêrusalem, trở về mạn bắc thuộc xứ Galilêa, ở thành Caphanaum bên bờ hồ Tibêrát, nơi có những gia đình thân mến và chất chứa những kỷ niệm êm đềm của các ông.

  Một ngày kia, trời đẹp, bãi biển Caphanaum trải rộng dưới ánh vàng rực rỡ, từ dãy phố đồ sộ, giữa đám cây um tùm, tới làn nước biển trong xanh, lăn tăn những đợt sóng nhỏ như thi đua nhau với gió nhẹ, mơn trớn mấy con thuyền đánh cá cánh buồm nâu. Ðôi lúc từng đàn chim bay về nhịp nhàng và phóng khoáng.

  Ông Phêrô và mấy bạn  (đó là các ông Tôma Ðdimô, Nataniên, Giacôbê, Gioan và hai Tông đồ khác.)  đứng ngắm cảnh một cách say sưa. Các ông mãi nhìn đàn chim bay trên không và những cánh buồm chậm rãi lướt trên mặt biển. Biển hồ coi bộ nhiều cá. Tiếng sóng nhỏ đều đều nghe êm ru và hứa hẹn. Một cơn gió nhẹ lướt qua, Ông Phêrô khoan khoái hít một hơi dài, rồi quay nhìn các bạn với giọng thân mật rủ rề :

    --Tôi  đi  đánh  cá....

  Như cảm thông cùng một ước nguyện, mấy ông kia họa lại :

    --Chúng tôi cũng cùng đi.

Các ông xuống thuyền.. Con thuyền ăn gió, chẳng mấy chốc đã ra xa. Các ông chọn một nơi có nhiều hy vọng và hăm hở thả lưới. Các ông có những cử chỉ của một người đang giầu tin tưởng và say sưa.

  Ðêm về. Khắp mặt hồ Tibêrát phẳng lặng dưới những tia sáng êm đềm mầu sữa của Hằng nga..Ðêm về thật là lộng lẫy. Nhưng đối với các ông những phút cảm khoái đầu tiên đã biến mất. Ðã biết bao lần hì hục kéo lưới, nhưng lưới vẫn trống rỗng, một con cá nhỏ cũng không ! Thế mà biển lại coi ra chiều lắm cá ! Giờ này qua giờ nọ, ánh trăng đã mờ dần, nhưng các ông chẳng bắt được gì. Ðổi bao nhiêu chỗ thả lưới cũng thế, thâu đêm các ông chẳng được một con.

  Tảng sáng, các ông vừa mệt vừa buồn, uể oải đưa thuyền vào bãi. Trên bãi, Chúa đã hiện ra đứng đợi. Ngài lên tiếng hỏi các ông :

    --Có bắt được gì không ?

  Nhưng không nhận biết là Ngài, các ông thưa cộc lốc :

    --Chẳng được gì cả !

  Không phật lòng, Chúa giả bộ như người sành nghệ, chỉ tay bảo các ông :

    --Phải thả lưới bên kia, bên tay phải mới có cá chứ ...

  Quay nhìn về phía đó, các ông quả thấy mặt nước có bọt và tăm cá thực, các ông lại xở lưới ra và thả về phía bên tay Chúa đã chỉ.

   Một lát sau, phao lưới nhúc nhích rồi lưới giật mạnh. Các ông mừng rỡ kéo lên thì lưới đã nặng, cá nhiều tới nỗi hầu không thể kéo lên được nữa.

  Lúc đó nhớ lại mẻ lưới lạ năm xưa, ông Gioan biết ngay người đứng trên bãi chính là Chúa, ông ghé tai khẽ bảo ông Phêrô :

    --Thầy đó. Người đứng kia chính là Thầy chứ ai đâu.

  Nghe nói thế, Phêrô vội quấn áo vào lưng...vì ông đang mình trần...và nhảy xuống biển lội vào bờ. Lúc đó thuyền còn cách bờ gần hai trăm thước. Các Tông đồ khác cũng theo ông Phêrô, chèo vội vào bờ.

  Ðến bờ, các ông thấy Ngài đứng bên đống lửa hồng, trên có cá nướng, bên cạnh đống lửa có cả mấy mẫu bánh rất ngon. Các ông đã hiểu Ngài là chính Chúa, nên không ai dám hỏi Ngài là ai. Các ông chỉ cung kính nhìn Ngài, Ngài nhìn lại và phán bảo :

    --Các con hãy đem cá vừa bắt được đến đây. Các con hãy chọn lấy những con cá tốt nhất.

  Ông Phêrô nhảy xuống thuyền và kéo lên đất một tấm lưới đầy cá đến nỗi nguyên thứ cá to đã đến một trăm năm mươi ba con, thế mà lưới tuy đã cũ cũng không bùng rách.

  Mấy con cá đặt trên đống lửa đã xông mùi thơm. Chúa bảo các môn đệ :

    --Hãy lại mà ăn.


  Các ông cùng quây quần bên Ngài. Ngài cầm bánh bẻ ra, trao cho các ông, trao cả cá nữa. Ngài có cử chỉ thân mật đơn sơ khiến các ông vô cùng cảm động.

  Ăn xong, Chúa quay nhìn ông Phêrô, cái nhìn làm ông lo sợ xám mặt. Rồi tay Ngài làm hiệu và Ngài nói :

    --Simôn con Gioan, con có mến Thầy hơn những người này không ?

  Ðó là câu hỏi đầy âu yếm, nhưng lúc này khiến ông Phêrô bối rối sợ sệt. Ông hồi tưởng lại một ngày kia trong một phòng rộng cũng gần đống lửa hồng, đã có những câu hỏi quyết liệt và những lời thưa rất cứng cáp. Nhưng rồi ông đã chối Ngài !..Ôi thực là bỉ ổi quá !..Bởi vậy ông cúi mặt và thưa nhỏ tiếng :

    --Lạy Thầy. Có, Thầy biết con thực mến Thầy.

  Rồi Ngài lại hỏi lần thứ hai :

    --Simôn con Gioan, con có mến Thầy không ?

  Ông Phêrô lúng túng :

    --Lạy Thầy, con thực mến Thầy.

  Chúa phán :

    --Con hãy chăn các chiên của Thầy

  Ngài còn hỏi thêm lần nữa :

    --Simôn con Gioan, con có thực mến Thầy không ?

  Ông Phêrô cảm thấy khổ sở quá, vì Ngài đã hỏi tới lần thứ ba “Con có mến Thầy không” Nên nét mặt buồn rầu như muốn khóc, ông thưa lại :

    --Lạy Chúa, lạy Thầy, Thầy biết con thực mến Thầy.

  Bây giờ Chúa vui mặt và âu yếm bảo ông :

    --Con hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy.

  Với ba câu hỏi trên đây, hẳn Chúa đã muốn gián tiếp xóa nhòa việc ông Phêrô đã chối Ngài ba lần, và nhân tiện tuyên bố ý Ngài muốn đặt ông Phêrô làm thủ lãnh Giáo Hội, cai quản các đoàn chiên mẹ và chiên con. Bởi thế Ngài nói tiếp luôn đến người thủ lãnh phải có tinh thần hy sinh, nếu cần, hy sinh cả tính mạng. Ngài phán :

    --Hỡi Simôn ! Quả thực Thầy bảo con, khi còn trẻ, con tự thắt lưng cho mình và đi đến nơi con muốn. Nhưng đến tuổi già, con sẽ giang tay ra để người khác thắt lưng cho con và đưa con tới chỗ con không muốn !

  Người Do Thái có lối mặc áo phải thắt ngang lưng. Nhưng có những người già không thể thắt lưng cho mình được nữa, nên phải giang hai tay để nhờ người khác thắt hộ. Cử chỉ đó cũng trùng với cử chỉ của những người bị đóng đinh. Họ phải giang tay để chịu lý hình buộc lưng vào khổ giá và đóng đinh hai tay vào cánh khổ giá. Nên Chúa đã mượn “hình ảnh trên đây để ám chỉ lối ông Phêrô phải hy sinh tánh mạng vì chức vụ thủ lãnh của ông, đó là lối tử hình, đóng đinh dựng ngược” mà sau mấy chục năm, ông phải chịu ở thành La Mã. Tuy nhiên bấy giờ ông Phêrô chưa hiểu hết ý nghĩa lời Chúa phán. Ông chỉ mừng vì thấy Ngài không còn hỏi như ba lần trước nữa, và Ngài đã tin ông thành thật mến Ngài. Nên ông rất sẵn sàng hy hinh, dù với giá nào đi nữa.

  Cũng lúc ấy Chúa lại phán :

    --Simôn, con hãy theo Ta.

  Ông liền theo ngay. Quay lại, thấy người môn đệ đã nghiêng đầu trên ngực Ngài trong bữa tiệc ly hôm nọ cũng theo ông, ông hỏi Chúa :

    --Thế, thưa Thầy, còn người này thì sao ?

  Chúa nói :

    --Nếu Thầy muốn người ấy cứ ở mãi vậy cho đến khi Thầy đến thì điều đó có hệ gì đến con ? Phần con theo Thầy là đủ.

  Chúa phán câu trên đây mà không giả thích. Nên từ đó mới nảy ra tiếng đồn trong các Tông đồ và những người theo Chúa rằng “Môn đệ Gioan không chết” Nhưng sự thực Chúa có nói như vậy đâu. Ngài chỉ có ý đưa câu chuyện đi hướng khác bằng một giả định : Nếu Thầy muốn người đó cứ sống cho đến ngày Thầy trở lại, thì điều đó có hệ gì đến con...

Ủy  Nhiệm  Lạ  Lùng...Giảng  Và  Rửa  Tội  Muôn  Dân...

  Sau ngày gặp gỡ các Tông đồ ở biển hồ Tibêrát, ngày khải hoàn về thiên quốc đã gần rồi. Muốn nêu cao sứ mạng Ngài đã trao cho các Tông đồ thực là quan hệ vĩ đại, một lần kia Ngài đã chọn một đỉnh đồi để hiện ra với các ông.


  Hôm ấy mười một ông cùng hớn hở họp nhau trên một đỉnh đồi. Mười một khối óc cùng chung một tinh thần đoàn thể, mười một trái tim cùng đập một nhịp yêu thương. Các ông sung sướng kể cho nhau nghe những chuyện mình biết về Thầy. Vài ông vừa hỏi hôm nay Thầy có đến không ? thì đột nhiên Ngài đã đến. Các ông liền sụp lạy. Các ông sợ, vì hôm nay thái độ Thầy uy nghi quá. Ngài dõng dạc phán :

    --Mọi quyền phép trên Trời và dưới Ðất đã ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi khắp thế giới truyền đạo cho muôn dân. Ai tin và chịu rửa, sẽ được cứu. Ai không tin sẽ bị phạt. Các con hạy giảng dạy muôn dân. Hãy rửa họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Hãy bảo họ giữ hết mọi điều Thầy đã dạy.


  Rồi Ngài cam đoan sẽ phù hộ và bảo đảm sứ mạng của các ông :

    --Và Thầy đây, Thầy sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế. Thầy hứa sẽ có những phép lạ đi theo những người tin. Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, nói được tiếng lạ mà không phải học. Họ có thể bắt rắn trong tay hay uống chất độc mà không bị hại. Hơn thế nữa, họ có thể đặt tay trên bệnh nhân và bệnh nhân được khỏi.

  Nói xong lời căn dặn các Tông đồ rồi Ngài biến mất....

Về  Trời  Ngự  Bên  Hữu  Ðức  Chúa  Cha...

  Theo lời Ngài dặn, các Tông đồ đã trở về Jêrusalem. Và một ngày kia các ông đang hợp nhau trong căn phòng rộng, bỗng Ngài lại hiện đến. Ngài khai quang cho trí óc các ông hiểu rõ những đoạn Thánh Kinh nói về Chúa KiTô phải chịu khổ nhục trước khi vào vinh quang, và chỉ rõ bổn phận các Tông đồ phải nhân danh Ðức KiTô giảng ơn cứu chuộc cho mọi dân mọi nước, bắt đầu từ Jêrusalem. Rồi Ngài đưa các ông tới miền bên ngoài xóm Bêtania lên đỉnh núi Cây Dầu, nơi Ngài đã nói trước cuộc hủy diệt thành Jêrusalem và những dấu hiệu ngày Ngài sẽ tái hiện.

  Hôm ấy là ngày thứ 40, sau ngày Ngài sống lại. Hôm ấy cũng là một ngày cuối tháng năm, trời rực rỡ, những đám mây trắng lan tỏa trên nền trời xanh. Thánh thể Chúa mỗi lúc một hóa nhẹ nhàng và vinh hiển, Ngài nhìn các Tông đồ như muốn ủy thác một điều hệ trọng. Rồi Ngài phán :

    --Các con đã được chứng kiến mọi việc đã xảy ra. Vậy các con hãy làm chứng về Thầy ở mọi nơi, mọi chỗ. Sắp đến ngày Thầy sẽ sai đến với các con Ðấng Cha Thầy đã hứa. Vậy các con phải ở lại Jêrusalem và chờ đợi. Các con ghi nhớ điều này : Gioan Tẩy Giả đã làm phép rửa bằng nước, nhưng một ngày gần đây, chính các con sẽ được rửa trong Chúa Thánh Thần. Bấy giờ một sức mạnh siêu phàm sẽ từ trời đổ xuống trên toàn thân thể các con.

  Mấy Tông đồ nghĩ ngay đến nước Do Thái sẽ được giải phóng về mặt chính trị và bá chủ hoàn cầu, quay hỏi Chúa :

    --Lạy Thầy, vậy bấy giờ Thầy sẽ tái lập vương quyền trong dân Do Thái ?...

  Ngài phán :


    --Bây giờ các con hãy tạm bỏ ý nghĩ đó, vì đấy là việc của Chúa Cha. Ðiều quan hệ các con phải ghi nhớ lúc này là Chúa Thánh Thần sắp ngự xuống trên các con. Ngài sẽ ban cho các con một khí tiết và một sức mạnh phi thường. Nhờ vậy mà các con sẽ là những chứng tá của Thầy ở Jêrusalem, ở khắp xứ Galilêa, xứ Samaria và mọi miền trên thế giới.

  Phán xong, Ngài giơ tay lên Chúa lành cho các Tông đồ, rồi trước con mắt ngạc nhiên của các ông, từ từ và nhè nhẹ, Ngài nâng bổng mình lên không trung, rời xa khỏi các ông. Các ông nhìn theo Ngài không chớp mắt... Một lát đám mây che khuất Ngài...Ngài đã về nơi vinh quang vô tận và :

“NGỰ  BÊN  HỮU  ÐỨC  CHÚA  CHA”

 Các Tông đồ sấp mình xuống thờ lạy Chúa tại chỗ Ngài đã đặt chân lần sau hết. Các ông lại ngẩng lên trời nhìn theo đám mây đã đem Ngài đi. Các ông nhìn mãi đờ người như pho tượng, bao nhiêu tinh lực chạy hút theo đám mây...

  Bấy giờ có hai Thiên Thần lấy hình người mặc áo trắng hiện đến gọi :

    --Hỡi những người xứ Galilêa, tại sao các ông cứ đứng nhìn trời như vậy ?..Các ông đã thấy Chúa Giêsu lên trời vinh hiển thế nào, ngày sau Ngài cũng sẽ tái hiện thế ấy...

  Thiên thần đã biến rồi, các Tông đồ còn âm thầm phủ phục, giờ lâu mới bỏ núi trở về Jêrusalem.

  Hằng ngày các ông tập họp trong một phòng rộng, thỉnh thoảng các ông cùng theo Ðức Mẹ đi viếng Thánh đường. Các ông rất sốt sắng cầu khẩn và chúc tụng Ðức Chúa Cha, tâm thần phơi phới những hy vọng vào lời Thầy đã hứa.

   Và quả thực, mười hôm sau, chính ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã mượn hình lưỡi Lửa ngự xuống trên đầu các ông, ban cho các ông những đặc ân phi thường, biến hóa các ông thành những con người mới, và làm cho lời giảng của các ông được chứng minh bằng những phép lạ vĩ đại. Nhờ vậy mà Giáo Hội đã được thiết lập và tồn tại mãi mãi.

  Quả thực, Chúa đã về trời, những vẫn còn ở lại với các ông.

Tổng  Kết.

   Tới đây chúng ta đã nhìn qua “CUỘC  ÐỜI  CHÚA  CỨU  THẾ” một cuộc đời trong như pha lê, rực rỡ như ánh sáng, ấm áp như nắng xuân, khi êm ru như tình yêu người mẹ, khi tưng bừng tựa khúc đồng ca. Cuộc đời Ngài làm cho lý trí chúng ta sáng chói, tâm hồn chúng ta xúc động, khi vui hớn hở, khi buồn mênh mang, và vui buồn xen lẫn với những cảm tình hoặc kính ái vô biên, hoặc xót thương vô tận.

  Chúng ta kính ái Ngài, vì đời Ngài là Sắc Ðẹp trộn lẫn với Yêu Thương, là Uy Nghi pha với Ánh Sáng, là Ðộ Lượng hòa với Khôn Ngoan. Chúng ta lại xót thương Ngài, vì Ngài đã đem từ cõi trời xa đem lại cho nhân loại một Bí Quyết Hạnh Phúc, một Căn Bản Hòa Bình, một Nhạc Ðiệu Yêu Thương, một Lâu Ðài Danh Dự. Nhưng than ôi !

Nhân loại đã nhắm mắt không nhìn Ngài, đã bịt tai không nghe Ngài ! Trái lại còn trả nợ cho lòng Quảng Ðộ của Ngài bằng những lời thóa mạ, bằng những cái vã lệch hàm, những ngọn đòn chí tử và những chiếc đinh lớn đóng thâu chân tay, để linh hồn Ngài được phỉ nguyền trong nhục nhã, và thân thể Ngài tan nát trong cáo chết đau thương !...

Ôi Ðấng Từ Bi Nhân Ái !...Và ôi, nhân loại dã man !...

  Ðời Ngài thực là một mầu nhiệm vĩ đại quá, nên từ hơn hai ngàn năm nay biết bao trí óc thông minh của những bậc kỳ tài đã từng khó nhọc để họa lại hết bức chân dung của đời Ngài, nhưng đều đã thất bại ! Chính Gioan, vị Tông đồ thiết ái của Ngài, đã phải thú nhận nỗi bất lực đó. Ông nói :

    --Tôi chỉ viết có thế, để chúng ta nhận chứng của Ngài là thật. Còn nếu phải viết để kể lại từng việc một của Ngài, thiết tưởng cả thế giới này cũng không đủ nơi để chứa sách”

  Nhưng toát lược lại, đời Ngài vĩ đại và mầu nhiệm, thế là vì từ nguyên thủy, nghĩa là từ trước lúc có thời gian, đã có Ngài. Ngài chính là Ðấng Thượng ngôn, Ngài vẫn ở trong Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa. Bởi Ngài mà có vạn vật, nghĩa là Ngài là Ðấng sáng tạo vạn vật và vạn vật đang có, nếu thiếu Ngài, sẽ hóa thành hư vô. Ngài cũng là Sự Sống, một sự sống linh động chiếu ánh sáng cho loài người.

  Ngài đã giáng trần để ban Sự Sống và Ánh Sáng cho loài người. Ngài đã sống giữa người Do Thái, nhưng người Do Thái chẳng tin phục Ngài, dầu cho Gioan Tẩy Giả đã được sai đến trước để chuẩn bị cho người ta tin theo. Tiếp đến, đối với Ngài, nhân loại hơn kém đã theo một thái độ vô ơn như người Do Thái. Quả thực, Ánh Sáng đã chiếu dọi trong tối tăm, nhưng tối tăm không hiểu Ánh Sáng. Nhưng hết thảy những ái đón nhận Ánh Sáng, tức là tin theo Ngài, Ngài sẽ cho quyền được trở lên con Thiên Chúa. Lòng tin đó không được tầm thường, nhưng phải vĩ đại, không được phát huy bởi máu, bởi ý xác thịt, bởi lý do phàm trần, nhưng phải bởi chính Chúa.

  Ai có lòng tin như vậy, sẽ thấy Ngài thực là  ÐƯỜNG  là SỰ  THẬT  và  SỰ  SỐNG.

Hơn nữa, một ngày kia không xa, người ấy sẽ được nhìn ngắm sự vinh hiển của Ngài, sự vinh hiển Cha ban cho Con, sự vinh hiển đầy chân thật và hạnh phúc, sự vinh hiển lung linh vô cùng tận../. 

 Linh Mục. Gioan  LÂM  QUANG  TRỌNG