Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 14

Anna  Ðỏ  Mặt,  Luống  Cuống....

   Bắt được Chúa, quân dữ mừng như người bắt được trộm, như sói rừng bắt được chiên và như sư tử bắt được mồi. Chúng hành hạ Ngài đủ cách, chúng trói chặt tay Ngài đến nỗi nứt máu ra, chúng lấy dây thừng buộc cổ Ngài và lôi đi giữa tiếng mắng chửi tục tĩu. Có đứa lấy cán gươm thúc vào lưng Ngài, có đứa giơ chân đạp bên hông Ngài, và có đứa ác độc châm đuốc vào Ngài cho tắt đi ! Quả thực, Con Thiên Chúa phải uống chén đắng đầy đau thương khổ nhục !

  Ðêm đa về khuya, gió lạnh hắt hiu. Tiếng lá cây Dầu xào xạc như nức nở than van. Trên cao mảnh trăng lơ lửng buồn  đã khuất nửa mình trong mây tối. Lối qua thung lũng Cédron, quân dữ đem Chúa về phủ Thượng tế ở trong thành gần sát nhà tiệc ly.

  Caipha bấy giờ là vị Thượng tế đương chức. Nghe tin Chúa Giêsu bị bắt ông hể hả mừng, và cho chiêu tập Hội đồng Cộng tọa để xử việc ngay kẻo dân kịp nổi dậy và Tổng trấn Philatô có giờ suy nghĩ. Trong lúc chờ đợi các hội viên, quân lính giải Chúa đến phủ Anna là nhạc phụ Caipha. Anna cũng có tên là Hanan. Trước kia ông đã ngồi ở ghế Thượng tế bảy năm, nhưng bây giờ ông đã bị ông Valerio Gratô truất chức. Tuy nhiên, là bậc lão thành giàu có, lại thông minh và xảo quyệt, ông vẫn có thế lực lớn trong dân. Hơn nữa con gái ông lại kết bạn với Thượng tế Caipha. Nên trong mọi vấn đề tôn giáo lẫn chính trị. Caipha đều phải hỏi ý kiến ông rồi mới dám thi hành, do vậy trong khi chờ đợi Hội đồng Cộng tọa họp, quân lính đã đem Chúa đến phủ Thượng tế Anna.

   Anna là người thâm độc. Ngồi trên ghế ông cố làm một bộ mặt oai nghi trước dung nhan một nhà tiên tri áo vải mà ông biết đã nhiều lần dám chỉ trích chính người thân cận của ông..Ông muốn diệt tan ảnh hưởng nhà tiên tri Nazareth và muốn chứng tỏ Ngài chỉ là một người phản đạo, phản dân. Nên chửi phủ đầu Ngài một chập, ông điều tra về môn đệ và đạo lý của Ngài một cách ngạo nghễ :

    --Ngươi đã giảng gì ? Và bí mật tuyên truyền những chuyện chi ?

  Nhưng Ngài hiên ngang đáp lại làm ông tưng hửng :

    --Tôi đã công khai giảng trước mặt mọi người, Tôi đã giảng dạy trong các hội đường, trong Ðền thánh và những nơi có người Do Thái hội họp. Tôi không nói gì trong chỗ bí mật cả. Vậy ông hỏi tôi làm chi ? Ông hãy hỏi những người đã nghe tôi giảng. Những người đó đều biết tôi đã nói gì ?

  Anna đỏ mặt luống cuống, trán ông nhăn lên trước lời thưa bất ngờ và ngầm tỏ phiên tòa bất chính. Nhưng một tên hầu ở đó đã chữa thẹn cho ông. Y đến gần Chúa vã mặt Ngài và buông một câu khả ố :

    --Ngươi dám trả lời với Thượng tế như vậy ư ?

  Chúa đáp lại :

    --Nếu Ta nói sai, ngươi vạch rõ điều sai ở chỗ nào. Bằng Ta nói phải, sao ngươi lại đánh Ta ?

  Tên lính cũng cụt hứng nốt, không biết chữa lỗi thế nào.....Anna hiểu nhà tiên tri xứ Galilêa không phải tay tầm thường. Muốn thoát khỏi bế tắc, ông đứng dậy, ra hiệu cho quân lính trả nộp Ngài cho Thượng tế Caipha.

Gà  Gáy...Phêrô  Chối  Thầy!....

    Trong lúc Thầy bị bắt, mười một tông đồ cùng trốn chạy mặc dầu trong lòng vẫn quyến luyến Thầy như xưa. Các ông vốn chỉ khiếp sợ. Nhưng ra khỏi vườn đã hối hận ngay. Và hai ông Phêrô và Gioan cố đánh bạo trở bước đi theo Thầy từ xa xa qua bóng tối những gốc cây và những bức tường đổ nát.

  Ông Gioan quen biết đám thuộc hạ của Thượng tế Anna, nên được vào nội phủ cùng một trật với Chúa. Còn ông Phêrô vẫn run run đứng nép ở ngoài. Thấy thế, ông Gioan đến nói với một nữ tỳ canh cổng để ông bạn cũng được vào. Nhưng dáng điệu và cử chỉ của ông Phêrô ít tự nhiên, nên vừa vào cổng, ông bị một nữ tỳ đến hỏi :

    --Hẳn ông này cùng ở với người bị bắt kia ?

  Làm ra vẻ bất mãn ông đáp :

    --Không ! Tôi không biết. Tôi không hiểu cô muốn nói gì ?

  Vào trong sân phủ Thượng tế, ông đến ngồi bên ông Gioan và cùng sưởi với bọn gia bộc để chờ xem công việc xảy ra làm sao. Ông cố giữ cho khỏi lộ chuyện, nhưng đứa nữ tỳ đã hỏi ông lúc nãy, vẫn còn nghi hoặc, cứ trừng trừng nhìn ông, và lại gần đống củi vừa hỏi :

    --Ông này thú nhận đi. Chắc chắn ông cũng ở với Giêsu thành Nazareth ?

  Ông Phêrô đâm cuống, vừa giơ tay vừa chối vừa thề :

    --Ai ? Người ấy ? Không ! Quả thực tôi không biết !

  Ðứa nữ tỳ lắc đầu đi ra cổng. Ở đàng xa, qua bầu khí lạnh dưới trăng mờ bạc, một tiếng gà gáy vọng lại. Ông Phêrô run người lên, vì đã hai lần bị hỏi. Ông cố bắt chuyện với bọn gia bộc làm ra vẻ quen thân. Nhưng giọng nói trọ trẹ của ông cũng khiến họ hồ  nghi và đoán ông là đồ đệ của người đang bị xét hỏi. Họ chòng chọc nhìn ông và dò xét

    --Ðúng ông là người trong bọn đó, vì tiếng nói của ông tố giác ông là người Galilêa.

  Ðồng thời một tên đầy tớ có họ với Mancô, người đã bị ông chém đứt tai ở Vườn Cây Dầu, vừa chỉ tay vào ông và nói :

    --Ðích thực rồi. Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn với người đó lúc nãy ư ?

  Ông Phêrô tái mét mặt, sợ hãi rồi thề, rủa mình và chối Thầy lần nữa :


    --Tôi thề, tôi có biết người các ông nói là ai đâu ?

  Cũng trong lúc đó quân lính điệu Chúa Giêsu đi qua sân để đến phòng Hội đồng Cộng tọa, nơi các Tư tế, Luật sĩ và Kỳ lão hội họp do lệnh khẩn cấp của Caipha.

  Hai tay còn bị trói chặt, mặt rướm máu, Chúa thất thểu bước xuống sân. Mọi người đều im lặng. Mọi con mắt chăm chú nhìn người bị cáo. Giữa đêm khuya và tịch mịch, một tiếng nhọ sắc, uy hùng vang lên. Ðó là tiếng gà gáy thứ hai của con gà ở ngoài phố. Và Chúa Giêsu, nét mặt hiền từ liếc nhìn ông Phêrô, cái nhìn đầy yêu thương và trách móc, khiến ông cảm thấy như bao mũi gươm nhọ thâu suốt trái tim ông ! Ông giật mình nhớ lại Ngài đã nói buổi tối : “Trước khi gà chưa gáy hai lần. Con đã chối Thầy ba lần.”

Và ông liền ra ngoài cổng, đấm ngực, ăn năn, khóc lóc ! Ông cực khổ quá ; Cái nhìn của Thầy đầy yêu thương, nhưng cũng đầy trách mắng, khiến quả tim ông đập mạnh, đầu óc ông rối tung, lương tâm ông cắn rứt, và da thịt ông lúc nóng ran, lúc lạnh như đồng.

Ông khổ sở quá, chỉ còn biết hối hận khóc lóc thôi, và từ nay đến suốt đời ông, ông vẫn nức nở khóc, mỗi khi nhớ lại đôi mắt của Thầy mở rộng, nhưng buồn man mác và hiền từ vô biên.

Phiên  Tòa  Ban  Ðêm

TẤN  KỊCH  ÐỘC  ÁC!...

    Khoảng ba giờ sáng ngày thứ sáu, quân lính giải Chúa đến phủ Thượng tế Caipha để Hội đồng Cộng tọa xét xử. Hội đồng này đã được chiêu tập ngay lúc ban đêm, do lệnh khẩn cấp của Caipha.

  Hội đồng gồm 23 Tư tế, 23 Luật sĩ, 23 Kỳ lão và hai vị chánh phó chủ tịch, cộng cả là 71 hội viên. Nhưng đếm hôm ấy Hội đồng vắng mặt nhiều người ; một số hội viên không đến, vì ngại lúc đêm hôm, một số nữa không đến vì có thiện cảm với vị tiên tri thành Nazareth, như các ông Nicôđêmô, và Giuse ở Arimathêa. Tuy nhiên theo pháp lý chỉ cần 23 hội viên có mặt là cũng đủ quyền để biểu quyết. Ðêm hôm ấy các hội viên không đến đủ cả 71 người, nhưng cũng đủ mặt đại diện các giới tư tế, luật sĩ và kỳ lão, dưới quyền chủ tịch của ông Caipha và Anna.

  Nơi Hội đồng là một phòng rộng lớn, thảm hoa rực rỡ, phía trong là ghế ngồi của các hội viên khoác áo trắng, hai bên là bàn giấy bí thư, phía ngoài là chỗ đứng của vệ binh và gia bộc, người cầm roi, người cầm giáo. Hôm ấy Hội đồng họp ban đêm, nên có cả người cầm đèn và cầm đuốc.

  Quân lính điệu Chúa vào giữa phòng hội đứng trước mặt vị chủ tịch, dưới ánh lửa của mấy bó đuốc nhựa thông. Ánh lửa lập lòe tỏa trên các mặt hội viên một ánh sáng hung hung đỏ lợt và in trên tường những bóng đen trông ghê sợ tựa bóng ma. Bầu không khí trong phòng hội nặng nề khó thở. Mọi người nhìn Chúa với cặp mắt hung tàn giận ghét.


Chúa đứng thẳng người, hai tay bị trói, tóc râu phờ phạc, mặt hốc hác, mắt nhìn về xa, chiếc áo khoác ngoài nhiều chỗ thủng, và nhiều chỗ có vết máu. Ngài có vẻ như bị một lủ hung đồ đánh đập, và hành hạ trong một cơn giận điên cuồng quái ác.

  Các hội viên đã dịnh trước với nhau một bản án tử cho Ngài, nhưng mặt ngoài, họ còn muốn giữ mấy thể thức. Trước hết, họ đưa nhiều người vào làm chứng, vu cho Chúa những tội đáng chết, nhưng các chứng đó đều là chứng gian, nên các lời cung khai của họ mâu thuẫn và bất hợp. Thế mà theo Luật, phải có hai chứng tá hợp nhau mới được kết án tội nhân. Thành ra cả hội đồng cùng lúng túng.

   Giữa lúc đó, có hai chứng nhân lợi hại do Thượng tế Anna mua chuộc, đứng dậy vu cáo Ngài tội đe phá Ðền Thờ rằng :

    --Chung tôi đã nghe thấy nó nói : Ta sẽ phá đổ Ðền thờ do tay người ta kiến tạo và trong vòng ba ngày, Ta sẽ xây Ðền thờ khác không phải bởi tay người ta làm ra.

  Lời tố cáo trên đây đối với quan niệm của hội đồng trong lúc này, có một tính cách rất hệ trọng. Nó có ý nghĩa tố giác một tội lộng ngôn và phạm thánh, vì đối với dân Do Thái, Ðền Thờ Jêrusalem là cung điện cực thánh của Ðấng Tối Cao, Chúa Tể của toàn dân. Nên đe phá Ðền thờ  tức là đe chính Ðấng Tối Cao, tức là khinh miệt cả một dân tộc của Chúa. Bởi vậy theo Luật, ai mưu phá Ðền thờ sẽ bị tử án.

  Nhưng sự thực Chúa có đe phá Ðền thờ đâu. Một ngày kia đang khi nghe giảng, nhiều người Do Thái đòi xem điều lạ, Chúa phán bảo : “Hãy phá Ðền thờ này đi và trong ba ngày Ta sẽ làm lại” Song theo điệu bộ và cách nói, thì phải hiểu Ngài chỉ về thân thể Ngài, một đền thờ sống động của Chúa, chứ không phải đền thờ bằng cẩm thạch ở Jêrusalem. Phải ! Thân thể Ngài sẽ chết đi và ngày thứ ba sẽ Phục Sinh, đó là chính ý nghĩa của Ngài khi nói “Phá đi và xây lại” Cái đó rất đích thực và rõ rệt, tới nỗi hai người chứng nhân vừa vu oan xong, lúc phải giải thích liền đâm ra nghi hoặc, không dám cả quyết, rồi dần dần nói bất hợp nhau và quay ra cãi nhau inh ỏi.

  Trong lúc chúng bất hợp nhau như vậy, Chúa chỉ cần nói một câu cũng đủ làm chúng hổ thẹn và ngã lẽ. Nhưng Ngài vẫn đứng nhìn im lặng. Cử chỉ im lặng của Ngài làm các hội viên nhăn mặt tức giận. Thượng tế Caipha đứng phắt lên, nhìn thẳng vào Ngài và nói gắt như người bị giật gân :

    --Ông không đáp lại những điều người này tố cáo ông ư ?

  Nhưng Ngài càng thản nhiên và im lặng, không nói một tiếng. Sự im lặng của Ngài có ý nghĩa rất hùng hồn và hiên ngang, khiến phiên tòa lộ vẻ một vở kịch sắp biến thành một trò cười. Không khí trong phòng hội bế tắc. Các quan tòa ngượng nghịu quay nhìn nhau rồi nhìn Thượng tế. Nhưng Caipha đã chợt nghĩ ra một kế buộc lòng người bị cáo phải nói. Ông đổi cử chỉ lại và trang nghiêm nói dằn từng tiếng một :

    --Nhân danh Thiên Chúa, Ðấng Hằng Hữu, ta buộc ông phải nói cho ta hay, ông có phải là KiTô Con Ðức Chúa Trời không ?

  Nghe câu hỏi có ý nghĩa, cả hội đồng mừng và nín thở chờ Ngài đáp. Họ hiểu lầm : Nếu tự xưng là Con Thiên Chúa, Ngài sẽ bị buộc vào tội lộng ngôn. Nếu chối, Ngài sẽ bị khép vào tội mê hoặc dân chúng. Cả hai tội cùng bị tử án...Nhưng đối với Ngài, đó là cơ hội rất tốt để công khai tuyên bố tước vị và uy quyền cao đại của Ngài, tuy biết đối phương sẽ lạm dụng lời tuyên bố đó để kết an Ngài cách bất công. Từ trước đến giờ Ngài im lặng để phản kháng cử chỉ gian ngoa và ác độc của họ, cũng như để ngầm tỏ mưu gian của họ đều thất cách. Nghĩa là Ngài không thèm thưa lại và họ không thể buộc cho Ngài những trạng tội mà họ tưởng sẽ buộc được. Nhưng bây giờ cảm thấy bất lực, họ phải nại đến thánh danh Thiên Chúa một cách kính cẩn trang nghiêm để biết sự thật. Mà thánh danh đó dầu phát xuất bởi miệng một kẻ bất xứng cũng vẫn đáng tôn vinh. Ðàng khác nữa, Ngài xuống thế là sở dĩ để làm vinh danh Thiên Chúa, hy sinh tính mạng vì Thiên Chúa, Ngài không sợ chết như Tông đồ Phêrô đâu. Nên bây giờ Ngài cũng muốn dựa vào danh Thiên Chúa, chứng thực sứ mạng và quyền lực của Ngài, tuy biết địch thù sẽ hoa mắt trước ánh mạc khải chói lọi của Ngài, và đi vào con đường tối tăm tội lỗi. Tuy nhiên lòng từ bi quảng độ của Ngài còn ở một lối thoát cho họ bằng câu sau đây :

    --Tôi nói với các ông, các ông cũng chẳng tin tôi, và tôi hỏi các ông, các ông cũng không thưa lại.

  Nhưng hoï cố chấp và mù quáng, không những Caipha mà nhiều hội viên khác cũng đứng dậy giơ tay và  giận dữ nói với Ngài :

    --Thế ông là KiTô Con Ðức Chúa Trời ư ?

  Ngài hiên ngang tuyên bố :

    --Phải. Ðúng như các ông nói. Và một ngày kia các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Ðấng Toàn Năng Hằng Hữu, cùng uy nghi hiện đến trên những đám mây.

  Lời tuyên bố của Ngài ứng hợp với hai câu tiên tri trong Cựu Ước. Một câu của Ðavít

“Chúa Cứu Thế ngự bên hữu Ðức Chúa Cha” một câu của Daniel “ Con Người sẽ đến trên những đám mây và sẽ thống trị muôn dân với một quyền lực không giới hạn.” Nhắc lại lời tiên tri đó, Chúa muốn chứng tỏ Ngài là vị Cứu Thế các tiên tri đã nói xưa.

  Ðáng lẽ ra , Nghe Ngài tuyên bố như thế, Caipha và các hội viên rùng mình khiếp sợ và thôi làm ác mới phải. Nhưng ngược hẳn lại, tội ghét Chúa đã làm quáng mắt linh hồn của họ, nên nghe Ngài tuyên bố, Thượng tế Caipha giả bộ tởm gớm, xé áo ngoài ra và kêu lên :

    --Nó phạm thượng ! Nó phạm thượng ! Chúng ta còn cần gì chứng tá nữa. Chúng ta đã nghe chính miện nó nói phạm thượng ! Vậy các ông  nghĩ phải xử sao cho đúng ?

  Theo tục Do Thái, khí nghe ai nói phạm thượng, người ta quen xé áo ngoài ra từ cổ đến bụng, để chỉ nỗi đau lòng, phẫn nộ và tởm gớm. Trong trường hợp trên đây, Caipha đã xé áo ngoài để giả bộ đau lòng và tởm gớm. Thấy Caipha cử động như thế, một cử động đã dự tính, các hội viên liền rầm rộ, dậm chân giơ tay, và rập tiếng rống như người hốt hoảng :

    --Nó đáng chết ! Nó đáng chết !

  Tiếng rống của họ nghe rùng rợn, như kết tinh bao nỗi thù hằn tức bực và uất hận. Sau đó họ chồm vào Chúa như lũ sói nhảy chồm vào con chiên. Họ đấm, họ đánh, họ tát, họ vả, họ nhổ. Tóm lại họ làm cho Chúa hết mọi khổ hình bấy giờ họ có thể nghĩ ra. Họ muốn diệt tan Ngài dưới cơn bão đánh đập, và muốn dìm Ngài xuống vực thẳm khổ nhục chua cay. Theo tinh thần Luật, Hội đồng phải họp ban ngày, và các hội viên phải bỏ phiếu riêng mới có giá trị. Nhưng đêm hôm nay, Lề Luật chỉ còn là chữ chết. Họ khống đếm xỉa đến nữa. Giờ đây lòng họ ghét Chúa đã lấn át cả tinh thần Luật, cả mọi e dè và ngượng nghịu. Nên họ thả lỏng cho ngũ quan tha hồ hành ác để “Con Ðức Chúa Trời” được hả dạ trong nhục nhã đau thương !

  Hành hung thỏa mãn, họ lui về phòng bên cạnh để tìm kế vận động với quan Tổng trấn xử Ngài cho chóng. Thượng tế Caipha hãnh diện về mưu mô của mình đã kết quả. Nét mặt hân hoan, ông mỉm cười nhìn hai cái giải áo đã xé phớt phới theo nhịp bước như lá cờ của người chiến thắng. Nhưng ông có ngờ đâu ngày hôm ấy một chiếc áo khác quý hơn, đó là chiếc màn lớn của Thánh đường sẽ bị xé như chiếc áo của ông, để chỉ giáo hội mà ông làm thủ lãnh, sẽ bị phế bãi, và những kẻ nối quyền ông, chỉ còn là những người Tư tế bất hợp pháp, thiếu hẳn xứ mạng thiêng liêng của Ðấng Tối Cao. Ông càng không ngờ rằng bốn mươi năm nữa, chính chiếc áo cẩm thạch muôn màu của Thánh đường Jêrusalem cũng sẽ bị những bàn tay hung tàn của quan La Mã xé rách.

      Lúc trở bước lui về, Caipha trao Chua cho đám gia bộc và vệ binh canh giữ. Quân hạ đẳng này, theo gương của Hội đồng và biết ý Caipha, giở hết trò hành khổ Chúa. Chúng thi nhau và đổi lượt nhau hành hạ Ngài quả một tội nhân vô phương chống cưỡng. Thú tính ác độc của chúng như bị kìm hãm từ lâu, nay bùng nổi dậy như cơn lốc.

Chúng trợn mắt, nghiến răng và nhăn mặt một cách thô bỉ đến rợn người ! Miệng chúng quát tháo kêu la như thú dữ. Chúng say máu hơn say ruợu. Chúng đập, chúng đánh, chúng vả, chúng tát Ngài. Hai măr Ngài hoa lên, mặt Ngài sưng và bầm tím. Toàn thân Ngài rũ rượi dưới trận mưa roi. Hai tay Ngài run giật giữa những nút thừng xiết chặt bên cạnh cột đá. Nhưng đêm giá lạnh còn dài. Chúng muốn sưởi mình bằng cách vận động chân tay và những tâm tính quái ác, cũng như chúng muốn rút ngắn thời giờ bằng những trò chơi man rợ của chúng, bằng những khổ hình chúng được dịp tặng cho thân thể  một nhà tiên tri. Chúng đổi lượt nhau đánh Ngài ở sau lưng, ở trên vai, ở đỉnh đầu, ở trước ngực. Chúng giật tóc và râu Chúa. Chúng xỉ mạ Ngài những câu rất thô hèn và chua chát. Chúng nghĩ được cách nào sỉ nhục Ngài, chúng liền thi hành cách ấy. Mấy đứa trong bọn chúng vừa nhổ nước bọt vào mặt Ngài vừa chế diễu. Mấy đứa khác nghĩ một cách lạ hơn ; chúng lấy miếng giẻ rách dơ bẩn bịt mắt Ngài, vừa đánh vừa hỏi nhạo:

“Hãy bói xem ai đánh ngươi ?” Hay là “Nào KiTô, nhà tiên tri thấu hết mọi sự, hãy nói cho chúng ta hay ai đánh ngươi đó ?” Tóm lại chúng đánh đập và sĩ nhục Ngài đủ mọi cách theo đà ác tính của chúng, để thân thể yếu mềm của Ngài ta nát dưới sức nặng cực hình và tâm hồn Ngài no thỏa trong sầu tủi uất ức.

  Ðánh đập chán chúng mới để Chúa ngồi yên bên cột đá. Và Ngài đã đổi ra khác ! Toàn thân Ngài đầy những vết thương ; chân tay thâm tím, lưng loang lổ vết máu lẫn với vết roi, từng giọt máu ở tai, ở mắt, ở mũi. Mặt Ngài sưng lên. Mấy mớ tóc do nước bọt hay do máu và mồ hôi dính bết lại. Mấy mớ tóc khác rũ xuống vô trật tự về phía trước, che khuất một phần hai bên má rồi nằm lẫn với đám râu thưa xờ xạc. Trước kia tôn nhan Ngài uy nghi cao cả, rạng ánh khiết tịnh lẫn mĩ miều của nhân tính và thần tính, song bây giờ ánh vinh quang ấy đã tắt mất. Nhưng thôi, vì muốn hiển vinh Ðức Chúa Cha và yêu nhân loại. Ngài vui lòng chịu đựng cả, và còn ước mong cho chén đắng càng đầy thêm !

Giuđa  Tự  Vận....

   Bóng đêm vừa lui về, để nhường chỗ cho ánh sáng nhợt nhạt của ban mai, tin Chúa bị bắt đã đồn ra khắp cả thành Thánh. Ðược tin, có kẻ thích chí, có kẻ ngạc nhiên ; có kẻ lo âu có người sợ hãi và có người trước đã tin Ngài, bây giờ thất vọng chán nản. Nhiều khách thập phương đến dự lễ ở Jêrusalem và chưa được biết Chúa, đua nhau đi dò tin tức. Nên kinh thành náo động càng náo động thêm.

  Tông đồ Giuđa cũng chăm chú theo dõi câu chuyện và được biết đích xác Ngài đã bị đối phương lên án chết. Y chứ tưởng Ngài sẽ làm phép lạ để thoát thân, như đã từng thoát thân kiểu đó trong các lần trước, chứ có ngờ đâu sự thể xảy đến thế này. Bây giờ Giuđa mới cảm thấy bán máu người lành không phải là tội nhỏ. Lương tâm bắt đầu hối hận và la lên những lời mắng nhiếc khiến y quay cuồng kinh sơ. Trước kia Giuđa coi tiền là trọng nhất, sắc đồng tiền là đẹp nhất và tiếng kêu vang của đồng tiền là hay nhất. Nhưng bây giờ chính tiền bạc lại làm cho y khổ nhất. Nhìn vào 30 đồng bạc, Giuđa cảm thấy như  nhìn vào tang chứng tội lỗi và tờ ghi án phạt. Lương tâm y mỗi lúc mỗi cắn rứt thêm. Giuđa khổ sở quá và điên lên. Y phóng bước về phía Ðền thờ để trả cho các Trưởng tế và Kỳ lão đang hội ở đó món tiền đã bán Thầy vô tội. Giuđa nhăn nhó đưa tiền cho họ và nói :

    --Tôi làm không phải. Tôi có tội, vì đã nộp người vô tội !

  Nhưng sau khi bắt được Chúa, các Trưởng tế và Kỳ lão đã coi Giuđa là người vô ích, không cần đếm xỉa đến nữa. Nên Giuđa hết sức phân trần, nhưng họ cũng không nghe và tỏ mặt khinh thị, đáp lại y một câu chua chát :

    --Mặc kệ mày, việc đó chẳng hệ đến chúng ta.

  Nghe vậy Giuđa tức ứ cổ. Y bực tức vô cùng với cách “trở mặt” của những kẻ mới tâng bốc mình chiều hôm qua. Y ném 30 đồng bạc vào tận cung thánh của Ðền thờ và hậm hực ra đi, bộ điệu như người điên hoảng. Y bực quá, bực với mình, bực với hội đồng Trưởng tế và Kỳ lão. Cơn chán nản càng dâng lên mạnh. Sau cùng hồ nghi và thất vọng về lòng nhân hậu của Chúa. Y lấy dây thừng đi thắt cổ ở ngoài thành trên một cây cao. Nhưng cành cây yếu, xác y quá nặng, một giờ sau cành cây rơi xuống, bụng y nứt rách, ruột đổ ra.

  Phần các Trương tế, họ nhặt lấy số tiền Giuđa đã ném lại. Họ không ngại lên án tử cho người vô tội là Chúa, nhưng bây giờ họ lại nhìn nhau, ra bộ bối rối ! ( Vì Luật cấm sung quỹ những món tiền phi nghĩa. Deut. 3,18 )  và họ bàn với nhau :

    --Chúng ta không có quyền bỏ số tiền này vào kho của Ðền thờ, vì đó là giá máu.

  Sau cùng họ thỏa thuận với nhau lấy số tiền đã nhặt được, tậu thửa ruộng của một người thợ gốm, gần thung lũng Hinnon, để chôn xác những người cư trú. Do vậy thửa ruộng ấy gọi là “Haceldama : Ruộng giá máu.” Cũng do vậy đã ứng nghiệm lời ông Jêrêmia nói tiên tri xưa : Này lời Chúa truyền cho tôi : “Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là giá Ðấng đã chịu một số con dân Israel đặt giá, để mua thửa ruộng của thợ gốm !”

Vua  Sự  Thật  Bị  Tố  Cáo....

    Caipha và các ủy viên Hội đồng Do Thái muốn giết Chúa trước ngày lễ Vượt Qua. Nhưng thời ấy, đã bị La Mã rút quyền lên án xử tử. Nên vừa tảng sáng ngày thứ sáu, Caipha đã họp Hội đồng để quyết định hẳn một chương trình vận động với vị Tổng trấn

phê chuẩn án tử cho người mới bị bắt ban đêm.

  Quan Tổng trấn La Mã bấy giờ hiệu là Philatô, thuộc quí tộc Phonxiô. Ông được hoàng đế Tibêriô đặt làm Tổng trấn xứ Giuđêa từ năm 26 đến năm 36. Ông thường đóng tại Xêxanêa bên bờ Ðịa Trung Hải. Trong những dịp đại lễ, ông đem quân về thành Jêrusalem chừng mười năm hay hai mươi ngày để giữ trật tự. Năm nay, dịp lễ Vượt Qua, dịp Chúa chịu chết, ông cũng đem quân về đóng ở giáo đô Jêrusalem trong một đồn kiên cố có 4 tháp cao, gọi là đồn Antônia. Ðối với thượng vị Tibêriô và Thượng nghị viện La Mã, ông hết sức phục tùng. Nhưng đối với người Do Thái, ông tỏ thái độ kiêu căng khinh miệt, và giở những món ác mỗi khi hồ nghi Do Thái muốn lật đổ quyền bính ông. Ông không đếm xỉa đến tục lệ và lễ nghi tôn giáo của họ, vì thế đã hơn một lần ông đi sai đường lối chính trị đối với dân, làm bọn sĩ phu Do Thái oán hận.

  Một ngày kia ông lấy tiền trong ngân khố của Thánh đường để xây cất một ống dẫn nước. Cử chỉ đó làm các Trưởng tế vô cùng tức bực. Ðể dàn hòa, ông truyền cho quân lính lấy những thuẫn bằng vàng bắt được của các dân đem vào để ở Thánh đường. Ông tưởng thế là đẹp lòng dân. Nhưng trái lại, những thuẫn đó có khắc hình những tượng thần ngoại giáo, nên Do Thái cho là ông muốn vũ nhục Ðấng Giavê. Các Trưởng tế và Kỳ lão liền mượn dịp này, sai người sang La Mã để phản đối, khiến La Mã lệnh cho ông phải thu hồi những thuẫn đó. Từ đó, sau cuộc thất bại này, ông đâm ra nhu nhược và do dự, ít dám đi ngược ý dân, nhất là trong những vấn đề tôn giáo.

  Vậy sáng ngày thứ sáu, ấn định xong chương trình, các Trưởng tế, Luật sĩ và Kỳ lão đem Chúa đến xử ở dinh quan Philatô. Chương trình của họ là biến vấn đề tôn giáo thành vấn đề chính trị, nghĩa là : Hẳn Chúa có tội với dân tộc và tôn giáo, nhưng nhất là có tội với thượng vị Rôma. Hôm ấy ngày áp lễ Vượt Qua, nên thủ đô Jêrusalem chật ních người, các đường phố tấp nập kẻ đi người lại. Khi quân lính điệu Chúa đến dinh ông Philatô, dân chúng nhìn xem và bàn tán mỗi người một cách. Người này nói : Kìa Giêsu, nhà tiên tri đã bị bắt và bị trói cả hai tay ! Người kia nói : Mà tất cả các Trưởng tế Luật sĩ và Kỳ lão đã kết án Giêsu, chắc Giêsu là một người dối trá mới bị thế. Người khác nữa : Nhưng này những phép lạ của hắn ở đâu, những phù pháp của hắn đã biến đi đàng nào ? Thôi đích rồi, xưa kia hắn chỉ huyền hoặc dân đen. Bàn tán thế, rồi họ bên phe kẻ mạnh và quay ra phản đối Chúa. Họ bước theo bọn đối phương của Chúa đến tận dinh ông Philatô.

   Nhưng đến dinh ông Tổng trấn, họ đứng ngoài sân, chứ không vào trong nhà, vì theo tục lệ của họ, vào nhà người ngoại là mắc nhơ, không còn được mừng lễ Vượt Qua nữa.

  Ðã được báo trước, ông Philatô ung dung bước ra ngoài hiên để xử án. Ðồng thời, hai tên lính áp điệu Chúa lên thềm cao và bắt Ngài đứng về phía tay phải. Philatô bệ vệ ngồi trên một chiếc ghế khắc chạm rất khéo, và không để mất thì giờ, ông quay nhìn xuống bọn nộp Chúa, đi thẳng vào vấn đề và lãnh đạm hỏi :

    --Người này có tội gì mà các ngươi truy tố ?

  Câu hỏi của Philatô như gián tiếp bênh người bị cáo, làm các ủy viên Do Thái bực tức,

tất cả Hội đồng Cộng tọa và dân phải khó nhọc trong ngày áp lễ đến để xin ông xử cho một việc hệ trọng mà ông lại hỏi thế ư ? Hay ông hồ nghi về thái độ đoan trang của Ngài ? Cả bọn liền lên giọng bất mãn :

    Nếu không có tội, chúng tôi nộp nó cho quan làm gì ?

  Ðể ủng hộ câu nói trên, nhiều Trưởng tế, Luật sĩ và Kỳ lão cùng nhao nhao lên tố cáo, mỗi người nói một câu :

   --Nó đã sỉ nhục tôn giáo !

   --Nó dám hăm đe sẽ phá Thánh đường !

   --Nó mạo xưng là Chúa Cứu Thế !

   --Nó dám tự nhận là Con Ðức Chúa Trời !

   --Nó dùng tà thuật để lừa dối dân đen ! Và nó đáng chết !

  Thái độ của họ làm ông Philatô tức khí, ông nói dịu mát lại :

    --Thế các ngươi hay đem người này đi và xử theo lậut của các ngươi.

  Bọn đàn anh Do Thái cảm thấy trong lời nói đó một điều chua chát vì họ mất quyền lên án tử hình. Nhưng lúc hữu sự cũng phải nhún nhường, họ đáp lại :

    --Nhưng quan biết, chúng tôi không có quyền xử tử ai.

  Hai tiếng “xử tử” vang bên cạnh người bị trói có vẻ hiền lành đứng trước mặt ông Philatô, làm đầu óc ông nổi lên ý nghĩ về một việc tối hệ. Hai mắt ông ánh lên một tia nghi hoặc. Ông biết lắm, nhiều cái đối với Do Thái là trọng tội, nhưng đối luật Rôma, chỉ là vô tội hay là một tội thường không đáng kể.

  Nhưng bọn cáo già của Ðền thờ hiểu biết : tố cáo Giêsu về vấn đề tôn giáo sẽ không được việc, song chỉ làm trò cười cho viên Tổng trấn. Họ chuyển sang địa hạt khác, truy tố phạm nhân về tội chính trị. Họ đồng thanh cáo buộc :

    Tội nó rất lớn, Chúng tôi bắt được nó tuyên truyền, xúi dân làm loạn, cấm dân nộp thuế, và muốn được tôn làm Cứu Thế, làm vua.

  Ðó là những lời tố cáo khá rõ rệt và chi tiết. Tuy nhiên, những lời tố cáo đó hoàn toàn là vu oan. Chúa có giảng dạy thật. Nhưng không bao giờ Ngài xúi dân làm loạn cả. Ngài chỉ dạy người dân khổ sở lầm than biết cách tìm hạnh phúc đích thực, cũng như Ngài dạy “Của Xêgia trả cho Xêgia” chứ không bao giờ Ngài đả động đến người La Mã. Còn vấn đề “Cứu Thế” Ngài đã nêu rõ ý nghĩa siêu nhiên của danh từ đó, chứ không bao giờ Ngài tuyên bố theo ý nghĩa chính trị và phàm tục như họ gán cho Ngài. Sau cùng, lời tố cáo “làm vua” thật là vô lý quá, vì Ngài chẳng có quân binh khí giới và không màng chi đến của cải ; trái lại có lần dân chúng muốn tôn Ngài làm vua, Ngài phải trốn tránh, và Ngài hằng sống với kẻ nghèo khó, chứ không lui tới lớp người giàu sang. Và quả thực, nếu những lời tố cáo trên đây có nền tảng chắc chắn, hẳn ông Philatô phải coi là trọng hệ. Nhưng càng tố cáo ông càng sinh nghi. Ông nghĩ người khôn ngoan và hiền lành đứng trước mặt ông không thể phạm những tội như thế được.

Chắc hẳn đó chỉ là chuyện bịa đặt do lòng ác của dân chúng. Phải, ông lập luận : giới Ðạo trưởng, Luật sĩ và Kỳ lão, lũ rắn độc của Ðền thờ, rất ghét La Mã và ghét ông, hằng tìm cách lật đổ ông và quét sạch ảnh hưởng của người thống trị, không lẽ đã hóa dại, cùng nhau đến tố cáo ở tòa ông một người đồng bào có óc cách mạng đứng lên đả phá người La Mã. Bởi vậy, ông nghĩ đây chỉ là chuyện thù hằn, và muốn biết rõ chuyện hỏi người bị cáo là tốt hơn. Nên ông đứng dậy, lui vào nhà trong và truyền cho quân lính đem Chúa Giêsu vào. Ông bỏ qua những điểm phụ, đi vào điểm chính ngay, thân mật hỏi Chúa :

    --Ông có phải là Vua Do Thái không ?

  Nhưng Chúa không thưa, Ngài im lặng, vì quả thực rất khó làm cho một người La Mã,

hơn nữa một người vô thần theo chủ nghĩa Pyrô, vẫn mù tịt về những lời hứa “Cứu thoát” của Ðức Chúa Trời, hiểu ngay được cái ý nghĩa vĩ đại của một vì vương trong Nước Siêu Nhiên, Ngài sẽ lập, một nước muôn đời tồn tại, vượt trên mọi nước thế gian.

Nhưng vẻ khẩn khoản như muốn chóng được nghe một tiếng “không” bởi miệng Ngài để tha ngay, ông Philatô hỏi lại nữa :

    --Ông là Vua Do Thái phải không ?

  Bây giờ im lặng nữa, tức là gián tiếp phản lại mình và chối là nói dối, Ngài cũng không muốn nói dối để thoát thân, Ngài liền đáp lại ông Philatô, nhưng với một câu ngầm phân biệt ý nghĩa tiếng “Vua” mà Ngài sẽ nhận :

    --Quan tự ý nói ra điều đó, hay có ai đã nói với quan về tôi ?

  Câu đó có nghĩa là  : Quan hiểu tiếng “Vua” theo ý nghĩa nào ? Nếu quan tự ý nói tiếng “Vua” có nghĩa chính trị và người xưng mình là vua người là phản loạn. Nhưng nếu chính người Do Thái nói cho quan, tiếng “Vua” lại có nghĩa tôn giáo, chỉ chức vụ một nhà tiên tri hay một vị cứu thế, khác hẳn với người phản loạn.

  Nghe lời Chúa, ông Philatô đâm hoang mang, nhưng biết đích xác quan niệm người Do Thái về tiếng “Vua” và tiếng “Cứu Thế” Ông nhún vai trả lời Chúa giọng kiêu kiêu:

    --Ta đây đâu phải là người Do Thái ? Ta chỉ biết dân tộc của ông và các Trương tế đã nộp ông cho ta. Thế ông đã hành động gì ?

  Nhưng không để ý đến câu thoái thác của Philatô. Chúa Giêsu trở lại vấn đề đã nêu ra, giải thích chức vụ của Ngài :

    --Nước của tôi không giống nước của thế trần này. Bằng chứng là, nếu tôi làm vua theo nghĩa thế tục hiểu, hẳn quân đội của tôi đã đánh tháo để tôi khỏi bị nộp cho người Do Thái. Nhưng công việc đã xảy ra, vì quả thực vương tước của tôi không phải bởi thế gian.

  Nghe Ngài nói, Philatô cho là kỳ khôi quá : Thế ra lại có hai thứ quốc gia, một ở thế trần một ở trên trời ư ? Phải ! Người ta nói ở trên trời có thần minh và thánh chúa. Nhưng đó là chuyện hoang đường, còn nước ở thế trần này mới là cái gì có thực chứ ? Ông ngạc nhiên, tròn hai mắt nhìn Chúa và hỏi lại :

    --Thế ông thật là vua ?

  Chúa đáp lại :

    --Phải ! Tôi là vua theo ý nghĩa đã nói. Tôi sinh ra và xuống trần vì một nhiệm vụ : Làm chứng về sự thật...Tất cả những ai tìm sự thật, sẽ nghe lời tôi.

  Nói thế, Chúa đã giảng rõ nước của Ngài là Nước Trời, một nước thiêng liêng ở trong lòng mỗi người. Ai phục thiện, ai yêu chân lý, người ấy là công dân của Nước Trời. Sự thật là sự thật. Theo sự thật người ta phải lương thiện, công chính, bác ái, từ bi và khoan dung quảng độ, không tham lam, không ích kỷ đê hèn. Chức vụ của Ngài là tuyên giảng sự thật đó. Ngài giảng để cải hóa các linh hồn, và để đạt mục đích, Ngài không cần tiền bạc và quân đội như các vua chúa thế gian. Nhưng Ngài cần những lương tâm thiện hảo biết nghe lời Ngài, để Ngài đem lại cho ánh sáng sự thật, ngõ hầu kiến tạo nơi các linh hồn một nước Yêu Thương và Hòa Bình, vượt trên giới hạn thời gian và không gian.

  Nhưng Philatô là con người võ tướng kiêm chính trị, suốt đời quen dùng bạo lực và mưu mô, không thèm biết đến sự thật. Hay đối với ông, sự thật là sức mạnh, là cường quyền, là chính khoái lạc của đời sống. Nên nghe qua những danh từ “vua của sự thật”

ông chỉ tỏ vẻ ngạc nhiên và lãnh đạm. Rồi nghĩ bụng, hay người bị cáo đây là một triết gia muốn kéo ông vào một khu vực rắc rối đầy những huyền hoặc bí nhiệm, vượt khu vực ông không quen. Ông tỳ vào thành ghế, vừa đứng dậy vừa lãnh đạm hỏi :

    --Sự thật là gì ?

  Hỏi thế là để trốn thoát, và không cần đợi Chúa đáp lại, ông vội trở ra ngoài hiên. Sự hiện diện của ông làm cả công đình náo động. Ông chưa kịp nói, tứ các góc, nhất là phía các Trưởng tế và Kỳ lão, đã rầm rầm nổi dậy những lời khiếu nại, đòi ông lên án cho Chúa Giêsu mà quân lính vừa điệu ra đứng ở chỗ cũ. Ông bực mình quay nhìn Chúa nói :

    --Ông có nghe thấy bao nhiêu chứng cớ buộc tội ông không ? Ông không thưa lại điều gì à ?

  Trước những lời truy tố, người bị cáo thường hay kêu lên hoặc múa may để chữa tội, minh chứng là mình oan. Nhưng ở đây, Chúa vẫn bình tĩnh thản nhiên, không thưa lại một lời nào, khiến ông bỡ ngỡ và thán phục. Ông có cảm tưởng nhà triết học này là đồ đệ của Platon : “Hễ bị cáo gian là giở lối lặng thinh, không thèm thưa lại.” Sau cùng ông nghĩ người bị cáo đây quả là vô tội và bọn sĩ phu Do Thái tố cáo Ngài chỉ để thỏa lòng oán giận hơn là vì công tâm công lý. Ông muốn tha Ngài. Ông giơ tay truyền mọi người yên lặng, tuyên bố với các Trưởng tế và toàn dân :

    --Ta không thấy người này có tội hay điều gì đáng phải kết án.

  Nhưng lời tuyên bố của ông bị phản đối kịch liệt, những tiếng huyên náo rầm rộ vang lên cả một góc trời. Cảm tưởng của họ như mồi ngon sắp chạy thoát. Những người truy tố Chúa nhao nhao lên tiếng : Sao ?.....Sao thế nào ? Quan định tha một kẻ giả mạo ư ?

    --Một kẻ xui nhân nổi loạn, một kẻ chuyên nói dối để kiến ăn, một kẻ làm náo động khắp miền Galilêa đến Giuđêa ư ?!......

  Nghe nói đến “Galilêa: ông Philatô mừng, vì những người ở xứ đó không thuộc quyền ông, nhưng thuộc quyền vua Hêrôđê và vua này hiện đang ở Jêrusalem. Ông liền điều tra xem Ngài có phải là người xứ Galilêa không để tìm một lối thoát. Mấy phút sau, biết rõ Ngài thực là người xứ Galilêa, ông liền sai giải Ngài đến tòa vua Hêrôđê để vua này xét xử.

Chiếc  Áo  Trắng ....

      Ðược lệnh quan Philatô, quân lính điệu Chúa đến trước toàn vua Hêrôđê. Vua này là con ông vua Hêrôđê đại đế, quen gọi là Hêrôđê Antipa.

  Nhà vua là người dâm đãng, chiếm đoạt vợ của người em, tên nàng là Hêrôđiađê, và lần kia trong bữa tiệc vui, trước điệu nhảy mê hồn của Salômê, đã thuận ý người tình, cho hạ đầu ông Gioan Tẩy Giả. Cùng với tội loạn luân và tội giết tiên tri Gioan, nhà vua còn làm nhiều điều ác nữa, nên toàn dân đều oán giận như oán giận quan Philatô.

  Tuy nhiên là một tay chính trị rất sành nghề, trong những dịp đại lễ, nhất là lễ Vượt Qua, nhà vua thường lên Jêrusalem dự lễ như một người Do Thái tốt đạo, để thu phục lòng dân và che lấp những tội ác. Nhà vua lại có tính cách dị đoan, tin rằng Chúa Giêsu mà thiên hạ vẫn đồn đãi tán dương, đó chính là ông Gioan Tẩy Giả đã sống lại. Ðã sống lại thế, nên theo nhà vua, hẳn ông có phép vạn năng làm được nhiều pháp thuật và nhiều việc lạ, như chữa được những chứng bệnh mà các lang y đều phải bó tay. Do vậy đã từ lâu, nhà vua ước ao được gặp Chúa để xem những phép lạ Ngài làm. Và hôm ấy vừa hay tin quân lính điệu Chúa đến dinh của mình, nhà vua tỏ bộ mừng rỡ lắm, liền cho tập họp đình thần như để mừng một đại hỷ chưa có từ trước tới nay.

 Ðứng trước tòa án của Hêrôđê, Chúa lại bị các Trưởng tế, và Luật sĩ tố cáo nhiều điều. Nhưng Ngài không thưa lại. Chính nhà vua hỏi nhiều câu. Ngài cũng không trả lời gì hết.

  Ngài chỉ nhìn nhà vua một cách thản nhiên bình tĩnh và hiên ngang. Ngài cũng không làm phép lạ nào như nhà vua và quần thần mong đợi.

  Sau cùng nhà vua phát cáu, tổ thái độ khinh chê, rồi cùng với đình thần nặng lời phỉ báng chế nhạo, cho Ngài là người điên, người ngu dại, truyền mặc áo trắng cho Ngài, và ra lệnh cho quân lính đem trả Ngài lại cho quan Tổng trấn Philatô.

  Do vậy từ ngày hôn đó, Hêrôđê và Philatô trở nên nghĩa thiết, vì trước kia hai người thù địch nhau...

Không  Phải   Nó!  Nhưng  Mà  Baraba....

     Truyền giả Chúa đến tòa vua Hêrôđê, ông Philatô tưởng mình đã thoát một việc rầy rà. Ngời đâu hai giờ sau, quân lính lại đưa Chúa trở lại, và dân càng đông hơn, làm náo động cả dinh Tổng trấn. Chúa mặc chiếc áo thụng như kiểu những người điên, hai tay vấy máu và bị trói chặt, mặt mũi hốc hác coi rất đáng thương.

  Nhận thấy vua Hêrôđê không xét xử, nhận thấy những lời tố cáo của các Thượng tế rất vu vơ và điệu bộ hiền từ hiên ngang của Chúa, ông Philatô nghĩ nếu quả thực Giêsu là một cách mạng gia, muốn mưu đồ lật đổ ông và La Mã, hẳn các Trưởng tế, Luật sĩ và dân phải theo ủng hộ Ngài, chứ sao lại muốn Ngài phải chết. Ông đâm nghi ngờ, cho rằng đây chỉ là trường hợp kẻ độc ác ghen tị người lương thiện, và biết đâu bọn sĩ phu Do Thái chẳng có thể lợi dụng cái chết của người lành để mưu một việc chính trị khác. Nên ông càng muốn tha Chúa Giêsu hơn. Ông hội riêng các Trưởng tế, Luật sĩ và đại biểu của dân và giải thích ý định ông cho họ :

    --Các người đã nộp người đó cho ta vì tội xui dân nổi loạn. Nhưng ta đã tra xét việc trước mặt các ngươi mà không thấy người đó can tội nào trong những tội ác các người đã tố cáo. Chính vua Hêrôđê cũng nghĩ như vậy, vì ta đã sai giải nộp cho ngài, nhưng ngài cũng không kết tội người đó, chỉ cho là người ngu thôi. Vậy người đó đã là vô tội, tất nhiên phải tha. Tuy nhiên, để đẹp ý các người, ta sẽ truyền đánh đòn rồi mới tha.

  Giả thích cũng không xuôi, Philatô lại lập kế khác. Theo quốc lệ, trong tuần lễ vượt qua. Quan Tổng trấn thường tha bổng một phạm nhân tùy ý dân lựa chọn.

  Tục lệ đó cũng là một mánh lới chính trị để chứng tỏ nhà cầm quyền vẫn khoan hồng đối với dân.

  Lúc bấy giờ trung ngục có một tướng cướp tên là Baraba. Y đã bị tống ngục về tội giết người. Ông Philatô nghĩ bụng : đem tên côn đồ này sánh với Giêsu, người vẫn được dân kính trọng như một vị cứu thế, hẳn họ sẽ xin tha Ngài. Ông liền truyền điệu Baraba, chỉ y cũng đứng một thềm với Chúa, rồi làm hiệu cho dân im lặng, lộ vẻ suy nghĩ và nói với họ :

    --Ta nhớ hàng năm về dịp lễ Vượt Qua này, có lệ tha một phạm nhân tùy ý dân lựa chọn. Năm nay và hiện giờ trong nhà lao có tên Baraba can án giết người. Vậy bây giờ các ngươi muốn tha ai ? Baraba hay là Giêsu cũng gọi là KiTô ?

  Nghe câu hỏi bất ngờ của quan Tổng trấn, toàn dân im lặng do dự một chút. Từ lúc đến giờ, người ta chỉ để ý đến một người bị cáo. Nhưng bây giờ, đột nhiên quan Tổng trấn lại nêu thêm một phạm nhân nữa, và phạm nhân này quả thực là một tên đã dấy loạn và sát hại nhiều người, nên dân do dự ồn ào chưa dám biểu quyết.

  Nhưng các Trưởng tế, Luật sĩ và Kỳ lão cùng những tay vận động của họ rải rác khắp sân đã xui dân xin tha Baraba và đòi giết Giêsu. Bởi vậy, lúc Philatô hỏi lại : “trong hai người, các ngươi muốn tha ai ?” dân liền đồng thanh kêu lớn :

    --Tha Baraba ! Tha Baraba !

  Ông Philatô kinh ngạc và cau mày tức giận :

   --Thế ta sẽ làm gì cho Giêsu, vị cứu thế, vua của các ngươi ?

  Nhưng ông Philatô đã nói hớ. Danh từ “cứu thế” và “vua” của các ngươi lúc này càng có ý châm biếm và trêu chọc : Chà ! Một người bị Hêrôđê cho là điên khùng và hai tay bị trói chặt mà là cứu thế và là vua của họ sao ? Philatô muốn nhục mạ dân Do Thái chăng ? Dân chúng bừng bừng nổi giận và càng kêu to :

    --Ðóng đinh nó đi ! Ðóng đinh nó đi ! Ðóng đinh nó trên thập ác !

    --Nhưng người ấy là gì ác đã chứ ? Ta không không thể kết án người vô tội.Vậy ta truyền đánh đòn rồi tha.

  Dân chúng càng nổi giận, họ kêu gào đến khan cổ :

    --Ðóng đinh nó đi ! Ðóng đinh nó vào khổ giá !

  Thấy dân càng gào thét và huyên náo trong thủ phủ, Philatô nghĩ có lẽ những vết thương đầy máu của trận đòn nơi mình người bị cáo sẽ làm cho dân nguôi và bằng lòng tha cho người vô tội. Nên ông hạ lệnh tha cho Baraba, một tên phiến loạn giết người, và truyền quân lính đánh đòn Chúa Giêsu, rồi với bộ dạng bất bình, trở vào nội phủ.

Hài  Kịch   Phong  Vương

TÂU  VUA  DO  THÁI....

     Ðược lệnh của Philatô, một tên lính thúc mạnh vào lưng Chúa, một tên nữa thóa mạ Ngài và xô Ngài đi đến nơi chịu khổ. Chúa lảo đảo bước xuống những bực thềm cao và rộng. Thân hình của Ngài đã lộ vẻ thiểu não lắm, vì từ sau cơn hấp hối đến bây giờ, xác thịt non nớt của Ngài luôn luôn phải chịu cực khổ ; Ngài phải chịu nhịn uống nhịn ăn, không được nghỉ ngơi lấy một phút, lại phải chịu đấm đá quá phũ phàng, chịu những cái vả đến loạn óc, chịu những chiếc mồm dơ nhổ nước bọt vào mặt, và chịu mắng nhiếc thậm tệ. Bây giờ mắt Ngài hoa lên, toàn thân đau nhừ ; có những vết thương tím ngắt, có những vết thương đang phồng lên, có những khớp xương mỏi buốt và những sợi gân run giật. Nhưng sánh với những vết thương ngoài thể xác ấy, những vết trong linh hồn còn nặng nề hơn. Ngài tủi nhục vì mang thân xuống thế chuộc tội loài người, để loài người được hạnh phúc, nhưng lại bị chính loài người ức nhục và hành khổ ! Xưa kia, Ngài đã bị Hêrôđê đuổi giết trong đêm khuya, đã bị dân ném đá giữa ban ngày, đã bị các Trưởng tế, Luật sĩ và Biệt Phái vu oan và chỉ trích. Vừa đây lại bị một tông đồ mưu phản, khiến các tông đồ khác cùng trốn chạy, rồi bị chính Phêrô chối trước mặt một nữ tỳ, trong khi Ngài chịu đánh đập tàn nhẫn !....Ôi chao ! Mỉa mai biết mấy ! Suốt đời Ngài là một chuỗi hy sinh !

  Nhưng những hy sinh từ tảng sáng đến giờ càng đắng cay chua chát. Ngài là đấng vô cùng thánh thiện, nhưng đã bị giải nộp hết chỗ này đến chỗ nọ như một phạm nhân có những tội ác, và đâu đâu cùng là sỉ nhục ê chề. Anna và Caipha đua nhau ném vào mặt

Ngài những lời nhiếc mắng bỉ ổi. Hêrôđê chế diễu Ngài bằng chiếc áo biểu tượng một kẻ ngốc dại. Quân lính và dân chúng đổi lượt nhau biến thân Ngài làm chỗ đỡ đòn và làm bia chửi rủa ! Chao ôi ! Ngài yêu thương họ, nhưng họ trả nợ tình yêu bằng giận ghét ! Ngài đến để cứu sống họ, nhưng họ kết án Ngài “Nó đáng chết ! Ðáng phải đóng đinh vào thập ác !” Ấy những kẻ được Ngài yêu, hiếu thảo và ngoan hiền như vậy ! Mỉa mai thay ! Bây giờ duy có một người có thể cứu được Ngài, người ấy là Tổng trấn Philatô. Ông đã tỏ dấu muốn tha Ngài. Nhưng lòng tốt của ông lại yếu ớt quá. Biết chắc Ngài bị cáo gian và vô tội, nhưng ông vẫn truyền đánh đập Ngài để đẹp ý những kẻ giận ghét Ngài, và rồi đây vì sợ họ, ông sẽ trao Ngài cho họ giết nữa ! Lòng tốt của ông chỉ làm cho giờ hấp hối của Ngài kéo dài thêm, và chén đắng của Ngài càng đắng đót. Nhưng thôi, vì danh Ðức Chúa Cha và yêu nhân loại, Ngài sẽ gánh chịu cả, để toàn thân Ngài sau khi đã chất nặng vết máu được biến thành tang chứng rạng rỡ của Tình Yêu.

  Quân lính đã điệu Chúa vào sân trong, chúng tập hợp lại chung quanh Ngài ước độ một cơ binh, mặt mày hớn hở. Chúng lột hết áo Ngài ra, trói hai cổ tay vào cột đá cao chừng một thước, rồi thi nhau đánh đập Ngài. Dân chúng đứng xem chung quanh. Một trận mưa roi tới tấp đổ xuống trên mình Ngài. trên lưng, trên cổ, trên đầu, trên hai vai và trước ngực. Nhiều ngọn roi làm nứt máu. Nhiều ngọn roi làm bắn thịt và khoét sâu làm thành một lỗ lớn. Ôi ! Ngọn roi tàn nhẫn biết bao ! Thật là xây da máu chảy, thịt nát xương tan. Trong chốc lát, thánh thể Ngài loang lỗ như người bị hủi và đám đất chung quanh Ngài đã chan máu. Quân lính vừa đánh đập vừa cười la, tay chúng hung tàn, mặt chúng độc ác, nhất là những tên ăn tiền đút lót của Caipha và Anna. Chúng tưởng Chúa sẽ van nài lòng thương xót của chúng ; nhưng thấy Ngài một mực im lặng, chúng lại càng tức khí. Luật Do Thái cấm đánh phạm nhân quá 40 roi. Nhưng Chúa bị phạt theo Luật La Mã, nên chúng tha hồ mà đánh, đánh chán mới thôi.

    Ðánh đến mỏi tay chưa thỏa, chúng còn tìm cách chế diễu Ngài đến cực nhục mới chịu buông tha. Trước kia thiên hạ đồn thổi Ngài là vị cứu tinh và là vua Do Thái. Nhưng bây giờ Do Thái lại coi Ngài như một tên phiến loạn và bắt nộp Ngài cho Tổng trấn Philatô hành tội. Nên chúng muốn chế nhạo Ngài bằng lối diễn một hài kịch phong vương. Thay vì ngai vàng, chúng bắt Ngài ngồi trên một khúc gỗ dơ bẩn. Thay vì cẩm bào, chúng khoác cho Ngài chiếc áo đỏ rách của một tên lính. Thay vì vương miện, chúng lấy những gai nhọn và dài, kết thành vòng tròn đóng vào đầu Ngài. Thay vì vương trượng, chúng trao cho Ngài cầm một mảnh nứa. Coi là tạm ra một vị vương rồi, chúng sỉ lượt nhau quỳ xuống, lắc lư chế nhạo, mỗi lần dứt tiếng “hoan hô vua Do Thái” chúng cười ha hả...Ðồng thời nhiều tên khả ố nhổ nước bọt vào mặt Ngài, hay xỏ tay vào bao da vã tát mặt Ngài rất mạnh, làm máu ở mũi chảy trào ra...Kịch phong vương và chế nhạo kéo dài, khiến Ngài đau lòng và tủi nhục không thể tả !....

Áp  Lực  Tôn  Giáo  Lẫn  Chính  Trị.

VỪA  RỬA  TAY  VỪA  PHÂN  PHÔ....

  Thấy bóng quan Tổng trấn đi vào sân, quân lính liền kết liễu tấn kịch chế nhạo..Ông Philatô thấy hình dạng Chúa đã đổi khác quá. Ông nghĩ bụng những vết tử thương đó thế nào cũng làm cho đối phương nguôi giận và xin tha Ngài. Quân lính đã điệu Chúa lên một nơi cao trước tầm mắt của toàn dân, ông đưa tay chỉ vào thân hình Ngài tiều tụy dưới chiếc áo đỏ rách với mão gai đóng ngập đầu, cùng nét mặt đầy máu, và giọng nói cảm động của Philatô nói với dân đứng trước công đường :

    “Ðây là người ấy”

  Ông tưởng thấy Ngài, thế nào dân chúng cũng xin tha, vì toàn thân Ngài đã đáng thương hết sức. Nhưng trái hẳn với ý nghĩ của ông. Vừa thấy Chúa các Trưởng tế và những kẻ a tùng với họ ; cả đến cảnh binh của Thánh đường, đều không tỏ một dấu gì thương hại. Họ còn kêu ầm lên :

    --Ðóng đinh nó đi ! Ðóng đinh nó đi ! Ðóng đinh nó vào khổ giá !

  Tức bực Philatoâ nói dỗi :

    --Thế chính các ngươi đem đi mà đóng đinh...Phần ta, ta không thấy người có tội gì đáng kết án cả

   Nhưng dường như không sợ nữa, các Trưởng tế càng gào thét :

    --Chúng tôi đã có luật. Mà chiếu luật, người đó đáng bị tử hình, vì dám mạo xưng là Con Thiên Chúa.

  Ý họ muốn nói : Quả thực chúng tôi có pháp luật của chúng tôi. Theo pháp luật đó người này đáng bị tử hình. Nên quan Tổng trấn, người đại diện của La Mã phải giúp chúng tôi áp dụng luật đó, phải chuẩn nhận án chết người đó đáng chịu trước pháp luật của chúng tôi.

  Ông Philatô đâm lúng túng, và danh từ “Con Thiên Chúa” lúc này làm ông sợ sệt ; tụi Ðạo trưởng những con rắn của Ðền thờ, xảo quyệt và độc ác, không theo ý họ không xong. Nhưng người đứng trước mặt ông quả có một thái độ lạ ; Ngài chịu đòn chịu nhục mà không kêu ca, lại vẫn giữ vẻ hiên ngang của một vị thần. Mà động vào thần minh tức nhiên là ác báo, là giơ đầu chịu lấy tai nạn gớm ghê. Ông càng suy luận, tính dị đoan càng làm ông khổ tâm bối rối...Ðột nhiên ông trở gót, truyền đem Chúa vào trong.

  Philatô ngồi yên lặng nhìn Chúa như một vị thần trá hình nhân loại....Ông không hiểu sao Ngài lại có đủ nghị lực và can đảm chịu cực hình cách anh hùng như thế. Ông liên tưởng đến những chuyện thần thoại Hy Lạp : Có những vị thần bị kết án, thân phây ra trăm mảnh  và cuộc tử biến đã gây ra những ác họa tầy đình....Trong lúc ấy, dân chúng vẫn ồn ào ngoài sân, các Trưởng tế, Luật sĩ, Kỳ lão và những dân vẫn không ngớt tuyên truyền giết Chúa.

   Ông Philatô thân mật hỏi Ngài :

    --Này ! Ông bởi đâu mà đến ?

  Chúa lặng thinh không thưa lại, vì ích lợi gì thưa lại một người đang hồ nghi về cả sự thật, một người đầu óc chất nặng dị đoan, tâm hồn đầy dục vọng và đời sống loang lỗ những vết tội nhơ ? Philatô ngạc nhiên, tức giận buông lời kiêu hãnh :

    --Ông không đáp lại ư ? Ông không biết ta có quyền tha ông và có quyền đóng đinh ông vào khổ giá ư ?

  Chúa ung dung đáp và ngầm dạy ông một bài học về trách nhiệm :

    --Nếu Trời chẳng ban cho ông, ông chẳng có quyền gì đối với tôi hết. Bởi vậy, trong việc này, những kẻ nộp tôi cho ông, sẽ phải chịu trách nhiệm rất nặng, nặng hơn ông.

  Nghe Chúa đáp lại, Philatô lộ vẻ bất bình, nhưng vẫn còn do dự, hay nói đúng hơn, vẫn còn muốn tha Chúa. Nhưng đang khi ông tìm cách để tha, dân chúng ở ngoài gào thét như vũ bảo, vang dội cả một góc trời :

    --Nếu quan tha nó, quan không phải là người trung nghĩa với Xêgia, vì ai dám tự nhận mình là vua, người ấy chính là kẻ phản lại hoàng đế Xêgia.

  Philatô bước ra ngoài hiên, tiếng kêu la của dân càng nổi dậy mãnh liệt. Ông hoảng hốt, tưởng mình như sắp bị dân tố cáo với triều đình La Mã về tội thông đồng với kẻ phản lại hoàng đế Xêgia. Thần kinh giật mạnh, mất hết cả bình tĩnh, ông lại truyền đem Chúa Giêsu ra xử. Nhưng vừa ngồi xuống trên một ghế cao, ông đã gặp một người của bà phu nhân sai đến rỉ tai bảo :

    --Ðứng nhúng tay vào vụ đổ máu người đạo đức này, vì hôm trước trong giấc mộng, tôi đã phải khổ cực nhiều về Ngài.

  Nghe câu chuyện thần mộng của phu nhân, Philatô càng thêm lúng túng. Nhưng tha cho Ngài ư ? Dân chúng sẽ nổi loạn...Tinh thần hết ổng định, ông cầm tay Chúa, nói như để dân thương hại :

    --Ðây là vua các ngươi ! ....

  Nhưng Philatô đã thất sách. Như bị chạm đến lòng tự ái : “Người như vậy là vua của chúng ta sao ? Vua hề à ? Tổng trấn muốn chế nhạo chắc ?” dân càng nổi giận, kêu lên

    --Giết nó đi ! Diệt nó đi ! Ðóng đinh nó vào thập ác !...

  Philatô hỏi lại :

    --Nhưng ta đóng đinh vua các ngươi làm sao ?

  Tưởng bị Tổng trấn muốn chế nhạo nữa, dân càng nổi giận, muốn nhảy bổ vào đánh cho ông một trận, để ông thôi hẳn thói gọi người bị cáo là vua. Lúc đó các Trưởng tế đứng lên dõng dạc nói :

    --Chúng tôi chẳng có vua nào khác cả trừ hoàng đế Xêgia.

  Nghe lời tuyên bố trung thành và khẳng khái đó, Philatô rủn cả người. Ông thất vọng truyền lấy một chậu nước rửa tay và phân phô :

    --Ta sạch tội về máu người đạo đức này. Ta đã liệu mọi cách để các ngươi khỏi phạm tội ác giết người lành, nhưng các ngươi cứ khăng khăng đòi nhúng tay vào máu ! Thì đấy mặc các ngươi...

  Tin tưởng chắc chắn quan sẽ kết án tử cho Ngài, một người trong bọn Trưởng tế kêu lên, rồi cả dân cùng lập lại :

    --Chẳng việc gì ! Quan cứ yên tâm. Sau này máu nó có đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi, chúng tôi cùng cam chịu.

  Mặt thẩn thờ và tái ngắt, tâm trí vô cùng khổ cực, ông Philatô đành phải trao Ngài cho họ đóng đinh !...