Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 13

Của  Xêgia  Trả  Cho  Xêgia, CỦA  CHÚA  TRẢ  CHO  CHÚA....

   Ðã nhiều lần, nhóm Biệt Phái và giới Ðạo trưởng lập mưu hại Chúa bằng cách buộc tội Ngài về vấn đề tôn giáo. Nhưng họ đều thất bại chua cay. Dẫu vậy họ vẫn không thôi tìm cách diệt Ngài. Lòng họ ghét Ngài mỗi lúc mỗi tăng lên.

  Thất bại trên chiến trường tôn giáo, họ quay sang chiến trường chính trị. Ở đây họ tin tưởng sẽ được cuộc và họ chuẩn bị rất khéo. Biết rằng thế giá của mình bị giảm, họ không đích thân đến nữa. Họ chọn mấy người người thân với họ, thuộc đảng phái vua Hêrôđê, và ủy cho những người đó đi bắt tội Ngài. Bọn người này đã quen kỹ thuật mưu mô. Lúc đến gần Ngài, họ cúi đầu chào, nét mặt tươi cười, cử chỉ rất nhã nhặn. Họ khai mào bằng mấy lời phỉnh gạt rồi nhập đề khéo léo :

    --Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người nghiêm trang chân chính, Thầy giảng sự thật không thiên vị một ai, Thầy chỉ đường ngay chính không để tư tưởng ngả theo địa vị của người nào. Thầy chỉ có một chủ đích là đưa người ta về với Chúa. Vậy chúng tôi xin Thầy cho biết ý kiến :

    --Chúng tôi có nên nộp thuế cho vua Xêgia không ?

  Câu hỏi rất hiểm hóc, họ nghĩ vậy. Nếu Ngài thưa “không” lập tức họ sẽ phi báo cho ông Philatô là vị toàn quyền La Mã bấy giờ, và sẽ buộc Ngài vào tội phản động, xui dân cưỡng lại quyền vua, để Ngài bị xử tử như các tay phản động khác. Trái lại, nếu Ngài thưa “có” Ngài sẽ mất tín nhiệm với dân, Ngài sẽ chứng tỏ mình không yêu nước thương nòi, không muốn tổ quốc được độc lập, và đồng thời cũng phải là Chúa Cứu Thế. Vì theo quan niệm của họ, Chúa Cứu Thế là vị giải phóng dân tộc, khôi phục lại giang sơn, không đời nào dạy dân phải nộp thuế cho tụi xâm lăng cướp nước....Nhưng công việc đã xảy ra trái với dự định của họ.

   Thấu triệt tính giả nhân giả nghĩa và ác ý của họ, Ngài điềm nhiên không lúng túng, rồi lật tẩy lòng gian độc của họ. Ngài nói :

    --Hỡi những người giả hình, các người muốn lường gạt Ta ư ?....Các người hãy đưa cho Ta coi một đồng tiền thuế.

  Một người trong bọn họ lấy trong dây lưng ra một đồng tiền và đưa cho Ngài.

  Ðó là đồng tiền La Mã mà người dân phải đổi lấy để nộp thuế. Tay cầm đồng tiền xem Ngài hỏi :

    --Hình và hiệu đồng tiền này của ai ?

  Họ thưa :

    --Của vua Xêgia.

  Với việc “đưa tiền” và lời thưa “của vua Xêgia” đã vô tình giải quyết vấn đề mà họ không biết. Nghĩa là họ đã công nhận đồng tiền La Mã, đã nộp thuế cho La Mã, nên cố nhiên họ phải tiếp tục việc đã rồi. Bởi vậy, Ngài chỉ còn việc tuyên bố vấn đề chính họ đã giải quyết, nhưng cùng với lời tuyên bố đó. Ngài cũng ngầm bắt họ phải chú ý đến một vấn đề khác trọng hệ hơn. Ngài tuyên bố :

    --Vậy của Xêgia trả cho Xêgia, và của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa.

 Ý Ngài muốn nói : Nếu xét theo phương diện là người Do Thái họ nhận có bổn phận phải nộp thuế của họ cho Xêgia, thì theo phương diện là dân riêng của Chúa, họ cũng không được phép quên những bổn phận đối với Chúa, nhất là vì những bổn phận này còn hệ trọng hơn. Nói cách khác, Ngài ngầm khuyên họ thay vì chỉ bận tâm vào việc chính trị, tốt hơn hãy thực hiện ở thế trần sứ mạng Chúa đã ủy thác, sứ mạng truyền bá Nước Trời, và sở dĩ Do Thái được Chúa chọn làm dân riêng và về sứ mạng đó. Nói rõ rệt hơn, họ lập mưu đưa Ngài từ địa hạt tôn giáo sang địa hạt chính trị để bắt tội Ngài; đối lại, Ngài đã ngầm đưa họ từ phạm vi chính trị trở về phạm vi tôn giáo, để họ nhận ra con đường sứ mạng của họ và được ơn cứu thoát.

  Nhưng lòng họ có chuyển động đâu. Trước câu trả lời khôn khéo của Chúa, họ chỉ thán phục các đối khẩu của Ngài và cảm thấy không thể nào bắt bẻ Ngài trước mặt dân. Vì thế họ đành giả bộ cưới và im lặng bỏ Ngài, lẩn đi nơi khác.. 

Từ  Ðồng  Tiền  Bà  Quả  Phụ.

 ÐẾN  NHỮNG  LỜI  TIÊN  TRI  KHỦNG  KHIẾP  VỀ  THÀNH  JÊRUSALEM, VÀ  NGÀY  CHUNG  MẠT  CỦA  THẾ  GIỚI....

  Người nghèo là lớp người quần áo cũ rách, túi không tiền và thân hình ít sửa sang, lớp người này hay bị thế gian khinh dể. Tuy nhiên họ chẳng thiếu cử chỉ đại lượng đáng khen và nhiều lần đã được chính Chúa nêu gương cho lớp người phú quí.

  Ngày hôm ấy sau khi tuyên bố những lời vàng “Của Xêgia trả cho Xêgia và của Chúa trả cho Chúa.” Chúa Giêsu được tạm yên hơn, không bị đối phương chặn đường chất vấn nữa. Ngài lên Ðền thờ ngồi nghỉ ở Tiền đình Phụ nữ. Tiền đình này ở phía đông, nối liền với Tiền đình Israel ở phía tây bằng một cầu thang rộng có 15 cấp. Ngài và đoàn môn đệ cùng ngồi trên những cấp cao đối diện với một phòng ở chân cầu thang ; Căn phòng dùng làm ngân khố của Thánh đường, trong đó có 13 chiếc hòm để chứa đựng những tiền dâng cúng. Hằng ngày nhất là những dịp đại lễ, người ta đến dâng cúng rất đông, mục đích để duy trì Nhà Chúa. Nhưng cũng chẳng thiếu người, nhất là lớp người phú quý, hay mượn dịp đó để tìm tiếng khen. Họ chờ những lúc có đông người chứng kiến, đem ra từng nén bạc ném vào hòm, để số lượng và tiếng bạc vang trong hòm, nói to cho những người chung quanh biết họ là người quảng đại đạo đức.

  Chúa Giêsu ngồi xem những lớp người kế tiếp nhau đến bỏ tiền vào hòm, trong số đó chợt có một bà quả phụ. Bà này nghèo túng lúng, làm lụng khó nhọc mà vẫn thiếu ăn. Nhưng bà cũng đến bỏ tiền vào hòm. Biết lòng tốt của bà như vậy, Chúa cảm động. Lúc bà đi ra, Ngài giơ tay chỉ và nói với đoàn môn đệ :

    --Các con hãy xem bà quả phụ kia, người mới bỏ hai đồng tiền nhỏ vào hòm. Bà rất nghèo túng, nhưng quả thực bà đã bỏ tiền nhiều hơn hết mọi người, vì mọi người kia, họ chỉ bỏ phần dư của họ vào trong hòm thôi; còn bà, bà đã bỏ chính phần thiết yếu bà cần dùng để sinh sống.

  Lời Ngài nói đầy thân mật và cảm động đó, cũng tiếp thêm một ý nghĩa nữa, ý nghĩa về cách bố thí cho người nghèo, và dâng tiền vào nơi thánh. Nhưng ý nghĩa đó vừa chớm nở, chưa hiện hình rõ rệt trong trí óc đoàn môn đệ, thì Ngài đã đứng dậy ra khỏi Ðền thờ, tiến về ngã thung lũng Cédron.

  Lúc Ngài tới sườn núi Cây Dầu, chiều đã xế bóng, Ngài và đoàn môn đệ cùng ngắm cảnh thành Jêrusalem. Ánh nắng của buổi chiều trải lên khắp thành một màu uy nghi đỏ vàng trộn lẫn, cả kinh thành hiện lên tráng lệ nguy nga. Từng bao cung điện đứng hiên ngang trên những bức tường kiên cố, chính Thánh đường bằng cẩm thạch óng ả vươn mình dưới suối nắng dào dạt của buổi chiều uy nghi... Nhưng cảnh lộng lẫy đó không làm Chúa cảm khoái. Nét mặt Ngài lộ vẻ buồn rầu. Ngài luôn nghĩ tới lòng hận thù của bọn Biệt Phái, Luật sĩ và Ðạo trưởng, một thứ thù hằn không dừng chân, nhưng đang rảo khắp mọi đường phố trong thành, để thúc dân đứng dậy diệt Ngài. Ngài cảm thương thành Thánh và kêu lên :

    Ôi Jêrusalem ! Jêrusalem ! Ngươi đã sát hại bao tiên tri và ném đá bao vị sứ giả của Chúa Trời ! Biết mấy lần Ta đã muốn tập hợp con cái ngươi lại như gà mẹ gọi con lại tập hợp dưới cánh mà ngươi không chịu !...Này Ta buồn sầu báo cho ngươi : Từ đây trở đi dân ngươi sẽ bị ruồng bỏ, Thánh đường ngươi sẽ điêu tàn hoang vu. Và chính Ta, ngươi sẽ không còn được thấy Ta cho đến ngày ngươi phải nói rằng : “Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa đến với chúng tôi.”

  Ý Ngài muốn ám chỉ tai nạn dân Do Thái cùng thánh Thánh Jêrusalem sẽ phải chịu, và ngầm nói về ngày tận thế, một ngày mà Do Thái bó buộc phải nhận biết quyền cả của Ngài. Nhưng các môn đệ thấy thành Thánh rất vững chắc và Thánh đường kiên cố như một núi đá, không hiểu tại sao lại có thể bị phá hủy một cách hoang tàn như Ngài dạy. Nên các tông đồ chỉ Ðền thờ cho Ngài xem, và trình Ngài :

    --Thưa Thầy, Thầy xem kìa là những tảng đá đồ sộ biết bao và ngôi nhà lộng lẫy dường nào ?

  Nhưng Ngài ngắt lời, điềm tĩnh :

    --Các con thấy đồ sộ và lộng lẫy ư ? Nhưng Thầy bảo các con, quả thực một ngày kia không xa, sẽ chẳng còn hòn đá nào trên hòn đá nào mà không bị phá đổ !

  ( Lời Ngài nói trên đây, bốn mươi năm sau quả đã ứng nghiệm từng nét. Năm 70, đoàn quân La Mã kéo đến vây thành, đã được lệnh cấm đốt Thánh đường. Nhưng hình như bị nhiệm lực thúc đẩy, một tên lính đã phóng lửa vào một căn phòng bên cạnh Thánh đường. Trong phút chốc cả thành đã bị thiêu tan, khói bốc mù trời, hàng vạn người gắng công cũng không dập tắt lửa. Thánh đường biến thành đống gạch vụn, và hoàng đế Adriano lại hạ lệnh phá cho bình địa, để xây chùa cho bụt Giôvê. Thế là cả Thánh đường Jêrusalem mất tích. )

  Câu trả lời của Ngài làm môn đệ sợ hãi, nhưng các ông đều im lặng không ai dám hỏi.

Chiều càng muộn, mặt trời chỉ còn là một vầng lửa tròn và to, chiếu vào không trung những ánh lửa đỏ ối và sắp khuất sau ngọn núi ở phía tây, để nhường chỗ cho bóng đêm tiếp đến. Thầy trò lại leo lên núi Cây Dầu, ngồi nghỉ dưới bóng những cây thưa lá, mặt hướng về Thánh đường Jêrusalem đang in hình trên nền trời gay gắt đỏ. Trước cảnh tượng ngày tàn ấy, các ông Phêtô, Anrê, Gioan và Giacôbê lại đến gần Chúa, xin Ngài giải thích lời tiên tri của Ngài về cuộc tàn phá Jêrusalem và ngày tận thế.

    --Trình Thầy. Khi nào những điều đó sẽ xảy ra ? Và phải cứ dấu hiệu nào để biết trước ngày Thánh đường sẽ bị phá, biết trước giờ Thầy sẽ đến và ngày chung mạt của thế gian ?

  Ngài thân mật đáp lại từng điều một :

    --Trước ngày đại họa của Jêrusalem, tượng trưng ngày đại họa của thế giới, sẽ có nhiều mệnh danh Thầy mà đến tuyên bố rằng : “Chính ta đây là KiTô.” hay là “Giờ chỗi dậy đã sắp điểm.” và chúng sẽ lôi được nhiều người vào bẫy lường gạt của chúng. Nhưng phần các con, các con hãy tinh khôn và ý tứ nhận xét kẻo bị lừa. Các con đừng nghe và đừng theo chúng. Khi nghe nói đến chiến tranh và loạn lạc, các con đừng sợ hãi và hoang mang. Các việc đó phải xảy đến trước, nhưng cũng chưa phải là tận thế. Chắc chắn người ta sẽ thấy các dân các nước và các chính thể nổi lên đánh lộn nhau ; cũng như người ta sẽ thấy động đất và đói kém ở nhiều nơi cùng hiện tượng ghê sợ và những điềm lạ lớn ở trên trời. Nhưng tất cả những cái đó sẽ là khởi điểm những đau thương, bào trước ngày chung mạt của thế giới thôi. Trong khi chờ đợi ngày đại họa đó, các con hãy ý tứ giữ mình. Người ta sẽ mưu hại các con, và sẽ tra tay bắt bớ và giải nộp các con cho Hội đồng Cộng tọa, sẽ đánh đòn các con trong hội đường, sẽ tống ngục và giải các con ra trước mặt tổng trấn và các vua quan, để các con làm chứng về Thầy trước mặt họ, và để Phúc Âm được truyền giảng trước mặt mọi dân. Nhưng trong những trường hợp đó các con cứ bình tĩnh, đừng quá lo nghĩ về điều các con sẽ phải thưa. Vì Thầy sẽ cho các con được đủ khôn ngoan và lợi khẩu, khiến cho địch thù của các con phải im lặng, bất lực phản kháng. Các con phải dè giữ hết sức : Có lẽ trong các con có người sẽ bị chính bà con thân thuộc và bằng hữu tố giác cùng giải nộp. Phải ! Người ta sẽ thấy cảnh anh nộp giết em, cha nộp giết con và con cái đứng lên phản đối cùng lên án cha mẹ ! Như vậy, chính vì danh Thầy, mà các con sẽ bị người ta ghét. Nhưng các con hãy nhớ điều này : Không một sợi tóc nào trên đầu các con sẽ rụng xuống ngoài quyền phép của Ðức Chúa Cha. các con cũng hãy nhớ : Trên thế gian sẽ nổi lên một chế độ độc ác : Người ta sẽ ghét nhau, tố giác nhau và nhiều người sẽ chết gục vì thù ghét. Thêm vào đó, nhiều tiên tri giả sẽ xuất hiện và lôi một số đông vào lầm lạc, vào tột ác của thế gian ! Ôi tội ác !  Tội các tràn đầy tới nỗi đức mến yêu của những người lành cũng ra khô nguội !....

Nhưng phần các con, các con hãy nhớ : Ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát.

Vậy các con hãy nhẫn nại và kiên gan. Nếu người ta bách hại các con ở thành này, các con hãy trốn sang thành kia ; nếu người ta săn đuổi các con ở thành kia nữa, các con lại lánh sang thành khác. Thầy nói cho các con hay, mãi cho đến khi Con Người trở lại, các con cũng chưa rảo khắp các thành thị của Israel. Thế nhưng lại cần thiết Tin Mừng của Nước Trời phải được tuyên giảng ở khắp thế giới ; vì các nước trên thế giới phải tỏ rõ thái độ hoặc theo hay phản Thầy. Bấy giờ mới đến ngày chung mạt của thế gian.

    --Ðó là những điềm báo trước Jêrusalem bị phá, cùng với những điềm báo ấy, các con còn thấy sự quái gở hoang tàn mà tiên tri Daniel đã nói trước sẽ xảy ra trong nơi thánh. Ðó là sẽ có những đoàn quân ngoại giáo thờ ngẫu tượng bao vây Jêrusalem, và xúc phạm tới Thánh đường. Lúc đó tai nạn đã gần đến, mọi người hãy trốn đi. Những người ở Giuđêa hãy lên núi, những người ở trong thành hãy tìm lối lẻn ra, và những ai ở ngoài đồng cũng hãy trốn đi, chớ trở vào thành lấy quần áo và đồ đạc nữa. Trong những ngày khủng khiếp ấy, tội nghiệp cho những đàn bà mang thai, và những người nuôi con mọn, vì không thể trốn chạy như họ muốn ! Các con hãy cầu cho những tai nạn đó đừng đến trong mùa đông và ngày hưu lễ. Vì mùa đông giá lạnh đường xá lội lặm, và ngày hưu lễ không được phép đi xa. Ngày tai nạn đó sẽ là ngày oán phạt để mọi điều đã chép được ứng nghiệm. Ôi ngày đó buồn thảm biết bao cho dân này ! Người ta sẽ đánh ngã con cái Israel dưới mũi gươm, sẽ lưu đày chúng trong các dân tộc và chính Jêrusalem sẽ bị những người ngoại bang thờ ngẫu thần dày xéo ! Và Jêrusalem sẽ ở trong tay người ngoại bang cho đến thời kỳ của người dân ngoại lên trọn.

 Lịch sử chứng tỏ lời Chúa nói trên đã ứng nghiệm trăm phần trăm.

   Trước ngày Jêrusalem bị tàn phá, nhiều tiên tri giả đã xuất hiện. Sách “Công Vụ Tông Ðồ” còn ghi lại mấy tên như Giuđa, Simôn và Thêuđa. Ðồng thời có những thiên tai địa biến, như nạn đói rét và dịch tả làm chết từng vạn người đời vua Clauđiô. Nạn động đất năm 62 phá hủy nhiều thành trong miền Tiểu Á, trận hỏa hoạn năm 64 đốt phá một nửa thành Rôma, và khắp trong thế giới đời bấy giờ, từ năm 60 đến 70, đâu đâu cũng nổi lên giặc giã cướp phá làm dân chúng vô cùng đau khổ. Thêm vào đó nữa, năm 65, người ta đã thấy trên trời xuất hiện nhiều điềm quái lạ.

  Nhưng mới là một phần lời tiên tri của Chúa thôi. Một phần nữa cũng phải ứng nghiệm, ấy là các môn đệ của Ngài sẽ phải bách hại đủ đường, và lịch sử đã chứng minh như thế. Lúc Giáo Hội mới phôi thai, các lãnh tụ của Giáo Hội đều bị bắt bớ, cầm tù, chịu bị đánh đập, chịu gông cùm và sau cùng chịu chết với muôn khổ hình thê thảm.

     Nói xong những dấu hiệu thành Jêrusalem và Thánh đường sẽ bị phá, Chúa cũng đáp câu hỏi về ngày tận thế và ngày Con Người sẽ đến. Ngài phán tiếp theo :

    --Trước ngày đó sẽ có đại họa, một đại họa từ tạo thiên lập địa cho đến bây giờ chưa từng có, và sau này cũng không hề có nữa. Lúc đó nếu Chúa không rút ngắn lại những ngày khủng khiếp ấy, sẽ không một ai được cứu thoát ; nhưng vì những người đã được tuyển lựa, Chúa sẽ rút ngắn những ngày đáng sợ ấy đi.

  Lúc đó, nếu ai bảo các con rằng : “Này Chúa Cứu Thế ở đây.” hay “Ngài ở nơi kia.” Các con đừng tin. Vì sẽ xuất hiện những cứu thế giả, những tiên tri giả. Họ sẽ thi thố những điều lạ lớn và những pháp thuật dị kỳ làm cho cả những người được tuyển lựa cũng có thể bị mắc mưu. Vậy phần các con, các con hãy cẩn thận, và Thầy nói trước để các con phòng xa. Sau những ngày đại họa ấy, tiếp đến những điềm lạ trong mặt trời mặt trăng và tinh tú : Mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng sẽ mất sáng, tinh tú sẽ từ trời rơi xuống, và sức mạnh của các tầng trời sẽ chuyển động. Ðồng thời trên mặt đất, muôn dân tộc sẽ xôn xao khóc lóc, cảm thấy như bị đè bẹp dưới áp lực lo âu trước tiếng biển động sóng gầm, và gần như chết đi vì sợ hãi. Chính lúc đó người ta sẽ thấy Con Người ngự đến với uy quyền và vinh hiển trong đám mây. Ngài sẽ sai sứ thần của Ngài dịch loa lớn tiếng khắp bốn phương trời, để tập hợp những người đã được tuyển lựa lại. Rồi Ngài sẽ ngự tòa uy nghi, sau khi muôn dân đã được triệu đến trước tôn nhan Ngài. Bấy giờ, Ngài sẽ tách biệt người ta ra hai loại, giống như người mục đồng tách biệt chiên với dê, và Ngài sẽ đặt chiên bên phải, dê bên trái.

  Công việc đó xong, Ngài phán với những kẻ ở bên phải rằng : “Hỡi những người được Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận Nước đã sắm cho các con từ ngày khai thiên lập địa. Vì xưa kia Ta đói, các con đã cho Ta ăn ; Ta khát các con đã cho Ta uống ; Ta là khách trọ,  các con đã đón nhận ; Ta ở trần truồng, các con đã cho Ta mặc ; Ta bệnh hoạn, các con thăm Ta ; và Ta bị ngồi tù, các con đã đến với Ta.

  Bỡ ngỡ, những người được tuyển lựa thưa lại rằng : “ Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi đã thấy Chúa đói mà cho Chúa ăn, đã thấy Chúa khát mà cho Chúa uống ? Hay có bao giờ chúng tôi đã thấy Chúa là khách trọ mà tiếp nhận, hoặc thấy Chúa trần truồng mà cho Chúa mặc ? Hay nữa, có bao giờ chúng tôi thấy Chúa yếu đau hoặc ở tù mà đến với Chúa đâu ?” Nhưng Ngài sẽ phán với họ : “Ta nói thật với các con, bao nhiêu ơn các con đã làm cho một người hèn mọn nhất trong loài người là anh em của Ta, ấy là các con đã làm cho Ta đây.”

  Sau đó Ngài quay về phía bên trái và phán với những người ở bên này rằng : “Hỡi những người bất phúc kia, chúng bay hãy ra khỏi nơi đây và hãy vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ, và các sứ thần của nó. Vì xưa kia Ta đói, mà chúng bay chẳng cho Ta ăn ; Ta khát chúng bay chẳng cho Ta uống ; Ta là khách lạ mà chúng bay không thèm cho trọ ; Ta trần truồng mà chúng bay chẳng cho áo mặc ; Ta ốm đau và ở tù mà chúng bay chẳng đến thăm.” Bấy giờ bọn người thất phúc chữa mình rằng : “Lạy Chúa, nào có bao giờ chúng tôi thấy Chúa đói khát, hoặc là khách lạ, hay trần truồng, hoặc ốm đau hay ngồi tù, mà chúng tôi đã khước từ không giúp đỡ Chúa ?” Nhưng Ngài đáp lại : Quả thực Ta bảo chúng bay hay ; bao nhiêu sự chúng bay từ chối, chẳng làm cho một người bé mọn nhất trong loài người, ấy là chúng bay đã từ chối, không làm cho Ta !

  Sau lời tuyên án của Ngài, những người thất phúc kia đi vào nơi khổ cực muôn đời, và những người có ơn tuyển lựa sẽ được lên nơi trường sinh bất tử.

  Ðó các con nghe, những dấu hiệu báo trước ngày Jêrusalem và Thánh đường bị phá, cũng như dấu hiệu báo trước ngày tận thế và giờ Thầy sẽ đến là như vậy. Tuy nhiên, chính ngày và giờ những sự đó phải xảy ra, chẳng có ai biết. Các sứ thần trên trời và chính Con Người cũng không có bổn phận phải nói ra. Vì điều bí nhiệm đó, Chúa Cha đã dành lại cho Ngài.

  (Những lời Chúa tuyên báo hiện tượng ngày tận thế, Thánh sử Gioan cũng đã được thị kiến về những cảnh tượng đó, và Ngài đã ghi rõ trong sách Khải Huyền.)

Tông  Ðồ  Giuđa  Phản  Bội

 MỘT  MƯU  CƠ  QUÁI  ÁC....

  Chỉ còn vài hôm nữa là tới lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu cố gắng dùng những ngày còn lại để hoàn thành việc truyền đạo của Ngài, Mỗi sáng sớm Ngài vào Ðền thờ giảng cho dân chúng đã tập họp ở đó rất đông, và mỗi buổi chiều lại trở về núi Cây Dầu khẩn nguyện để lãnh thánh ý của Cha Ngài.

  Một buổi sáng, Ngài tâm sự với môn đệ rằng :

    --Các con biết, chỉ còn hai ngày nữa đến lễ Vượt Qua và Con Người sẽ bị nộp để đóng đinh vào khổ giá.

  Ngài nói thế, vì chính lúc đó, cácTrưởng tế, Luật sĩ và kỳ lão về đảng vua Hêrôđê đang hội nhau trong phủ Thượng tế Caipha để tìm mưu sát hại Ngài. Họ đã thỏa thuận :

Phải giết Ngài cho kỳ được. Nhưng họ vẫn còn sợ, vì nhận thấy dân chúng, nhất là những người ở xứ Galilêa, theo Ngài đông lắm. Họ nghĩ giết Ngài trong dịp lễ Vượt Qua là thất cách, vì dân chúng sẽ đứng dậy bênh che Ngài, không để cho họ hành động theo ý muốn. Nên họ bàn nhau :

    --Không nên thi hành việc đó vào buổi Lễ, kẻo sinh ra náo động trong dân.

  Nhưng đang lúc họ phân vân, quỷ Satan đã biến họ một giải pháp quyết liệt do một người tên là Giuđa ở Kêriô  ( Cũng gọi là Judas Iscariot )  Giuđa Ítcariốt là một thanh niên đã được Chúa chọn vào số 12 Tông Ðồ. Y được Chúa yêu thương giáo dục, sai đi truyền giáo và được cả quyền làm phép lạ như các tông đồ khác. Hơn nữa y còn được Chúa tín nhiệm, trao việc mua bán giữ tiền nong.

  Nhưng lạm dụng lòng tín nhiệm của Chúa, y đã để cho linh hồn bị kim tiền ám ảnh và để cho tính hiếu danh mỗi ngày một mạnh. Y đi theo Chúa, nhưng dần dần đã đi theo vì tiền của và những ước vọng quyền cao chức trọng lúc Chúa lên làm vua thế giới. Song trái lại, trong thực tế, y nhận thấy Chúa rất nghèo, thấy Chúa chỉ thuyết giảng khiêm nhường và đạo đức. Nên trong lòng y đã nổi lên cơn nghi ngờ và thất vọng. Hôm ăn tiệc ở nhà ông Simôn, y lại bị Chúa trách trước mặt mọi người vì y đã lẩm bẩm. Bởi vậy, lòng y càng xa Chúa hơn. Y phàn nàn vì đã theo Ngài, và cho Ngài là một tiên tri huyền hão, đã làm hỏng biết bao nguyện vọng của y ! Y lại biết Hội đồng Cộng tọa đang nhóm họp lập cách giết Ngài, và y sợ không khéo mình cũng bị lây...Y nhất định bỏ Ngài và tìm cách nộp Ngài nữa, để lập công với Hội đồng Cộng tọa và để lấy một món tiền, vì y biết Hội đồng đã hứa thưởng cho những ai tố giác nơi Ngài ở. Thế là mắt y bừng lên, quỷ Satan nhập vào lòng tăm tối của y và y đi tìm Hội đồng Cộng tọa để trình kế bắt nộp Ngài.

  Giuđa bỏ chúng bạn ra đi...

  Vì là quản lý, y vẫn được tự do đi về. Các tông đồ cứ tưởng lần này y đi vì bổn phận, mua đồ vật hay mua thức ăn như thường nhật, chứ ngờ đâu y đi để mưu hại Chúa !

  Ðến nơi, Giuđa liền được đưa ngay vào trước Hội đồng Cộng tọa. Nghe y trình bày kế hoạch nộp Ngài, mọi người trong Hội đồng, cả viên Cảnh đội Ðền thờ đều vui sướng. Họ cho rằng Ngài đã mất tín nhiệm với giới tiếp cận, mất cả thế lực với các môn đồ, nên mới có chuyện trình nộp trên đây. Bởi đấy họ nhất định không bỏ lỡ dịp may hiếm có.

Họ vui vẻ thỏa thuận đặt cho Giuđa 30 đồng bạc, với điều kiện phải nộp Ngài cho họ như y đã hứa.

  Thế là chương trình hành ác của Giuđa đã định xong. Bỏ Hội đồng Cộng tọa trở về với Thầy và các bạn, trí khôn y luôn luôn để ý một quyết định, là tìm dịp tiện nộp Thầy để lấy thưởng.... ( Hội đồng Cộng tọa gồm các Trưởng tế, Biệt Phái, Luật sĩ và Kỳ lão.) 

Giữa  Tiệc  Rượu  Nồng..

 THẦY  RỬA  CHÂN  CHO  MÔN  ÐỆ  RỒI  LẬP  BÍ  TÍCH  YÊU  THƯƠNG...

  Ngày xưa dân Do Thái đã phải trải qua một thời kỳ đen tối. Ðó là thời kỳ nô lệ khổ nhục bên Ai Cập ; thời kỳ này kéo mãi cho đến khi ông Môi Sen đến cứu. Là một vị giải phóng dân tộc, ông Môi Sen đã được Chúa ủy cho việc dẫn dân ra khỏi Ai Cập và đưa về quê hương là xứ Palestine, vì xưa kia Chúa đã hứa ban xứ đó cho các tổ phụ Do Thái. Và trong sử kể rằng :

  Trong ngày sắp dẫn dân đi, ông Môi Sen truyền lệnh cho mỗi gia đình Do Thái phải giết một con chiên trinh bạch tuổi chẵn một năm, lấy máu đó bôi lên thành cửa, để ban đêm khi Thiên thần xuống giết các trưởng nam Ai Cập, Thiên thần thấy máu chiên ở cửa gia đình nào, sẽ tha cho gia đình ấy. Giết chiên xong phải nướng trong lò, rồi ăn với bánh không men và rau diếp đắng. Khi ăn phải đứng, lưng thắt giây da, chân đi giầy, tay cầm gậy và ăn hối hả như người sắp phải lên đường.

  Ông Môi Sen gọi ngày ăn chiên như vậy là ngày “Lễ Vượt Qua” để kỷ niệm ngày Thiên thần Chúa đã  “đi qua” không sát hại các con trẻ người Do Thái.

  Về sau hàng năm người Do Thái mừng lễ Vượt Qua này rất trọng thể, để ghi nhớ ngày Chúa đã sai ông Môi Sen đến cứu dân khỏi ách nô lệ của Ai Cập, và họ còn gọi là “Lễ Không Men” nữa. Vì trong những ngày mừng lễ Vượt Qua, không ai được ăn bánh có men. Tuy nhiên, về những tục lệ ăn mừng lễ, sau này đi lưu đày ở Babylon về, họ đã châm chước theo tục Hy Lạp và La Mã : Thay vì đi giầy cầm gậy và ăn hối hả, họ nằm nghiêng trên sập, tựa mình vào gối xếp và ăn uống nhẩn nha.

  Vậy hôm ấy là ngày thứ nhất trong “Tuần Lễ Không Men”  ( Tuần lễ này gồm 8 ngày, ngày thứ nhất tức là thứ năm tuần thánh.)  Chúa Giêsu gọi riêng hai tông đồ của Ngài là Phêrô và Gioan lại, ủy cho các ông đi dọn tiệc lễ Vượt Qua. Ngài bảo hai ông rằng :

    --Các con hãy đi dọn lễ Vượt Qua để chúng ta cùng mừng lễ đó.

  Hai ông thưa :

    --Nhưng Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy mừng lễ ở đâu ?

  Ngài đáp :

    --Các con hãy vào thành và sẽ gặp một người vác vò nước. Các con hãy theo người vác vò này ; họ vào nhà nào, các con vào nhà đó, và các con hãy thưa với chủ nhà rằng :

“Thầy sai đến nói với ông : Giờ Ta đã sắp đến, năm nay Ta muốn ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Ta ở nhà ông, vậy đâu là căn phòng ông dành cho Ta để mừng lễ” Bấy giờ chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi.

  Vâng lời Ngài, hai ông đi vào thành, và quả thực thấy mọi sự xảy ra như Ngài đã dạy. Hai ông liền dọn tiệc lễ Vượt Qua.

  Vừa chập tối, Trên không trung, mấy ngôi sao lấp lánh như báo trước một đêm chứa ẩn nhiều sự lạ. Chúa Giêsu và mười hai môn đệ của Ngài cùng dự tiệc lễ Vượt Qua. Ngài và các môn đệ ở trong một căn phòng ngay sát cạnh Phủ Thượng Tế trên đỉnh đồi Sion về phía nam Ðền thánh. Quang cảnh của phòng tiệc khiến các tông đồ vui sướng lắm. Các ông cảm thấy lần này không phải ăn ở ngoài trời, ở bên vệ đường vệ sông hay trên những đỉnh núi có tính cách thô hoang, nhưng chính là căn phòng rộng rãi lịch sự có vẻ tôn trang phú quý. Những lễ nghi phiền phức của tiệc lễ Vượt Qua đã được thu gọn vào bốn tuần rượu.

  Khởi sự là “Tuần pha nước lã” Trong tuần rượu này, đọc xong lời cầu chúc ( Lời cầu chúc rằng “Chúa đã ban những trái nho.) trên một cốc rượu pha nước lã, gia chủ hớp một hớp, rồi đưa cho các người đồng bàn để hết thảy cũng làm theo. Tiếp đến lễ nghi rửa tay và bưng các thực phẩm. Món ăn chính là rau đắng, bánh không men, thịt chiên và một thứ chấm màu gạch đỏ. Ý nghĩa : Nước chấm màu gạch đỏ chỉ việc làm  và nung gạch vất vả đời vua Pha-ra-ông (Pharaoh) Ai Cập. Thịt chiên, chỉ con chiên đã giết xưa để lấy máu bôi trên thành cửa ; bánh không men chỉ thứ bánh ngày xưa đã phải làm vội vã không kịp pha men.

  Kế đến “Tuần Rượu Thứ Hai” một người trẻ tuổi nhất trong bàn tiệc đứng lên xin gia chủ giả thích lý do và ý nghĩa của bữa tiệc. Giải thích xong mọi người đồng thanh hát bài tán tụng “Hallel” tức là bài ca chép trong sách Thánh Vịnh từ đoạn 111 đến 113. Hát xong, uống rượu. Uống xong, lại rửa tay. Rồi người chủ tiệc đọc lời cầu chúc, bẻ bánh không men chia cho mọi người cùng ăn. Bánh phải ăn với thịt chiên, rau đắng và nước chấm màu gạch đỏ. Theo tục lệ, đã dọn ra bao nhiêu, phải ăn cho hết. Nếu ăn còn thừa phải hỏa tiêu.

  Tiếp đến “Tuần Rượu Thứ Ba” Tuần rượu này quen gọi là “Ly rượu cầu phúc” vì uống rượu xong, mọi người phải đọc kinh cầu phúc khá dài.

  Sau hết đến “Tuần Rượu Thứ Bốn” Cạn tuần rượu này, người chủ tiệc phải xướng bài

“Hoan ca” phần thứ hai, tức là bài chép trong Thánh Vịnh từ đoạn 114 đến 117 mọi người đều hát tiếp. Hát xong tiệc kết liễu.

  Vậy giữa tuần rượu thứ nhất, sau khi trao cốc rượu pha nước cho mọi người uống, Chúa Giêsu làm các tông đồ phải bỡ ngỡ vì lời Chúa tuyên bố sau đây :

    --Thầy khao khát ăn lễ Vượt Qua này với các con trước khi chịu khổ nhục. Thầy nói để các con hay, Thầy sẽ chẳng còn ăn bữa này nữa cho đến khi mọi mầu nhiệm được hoàn tất trên Nước Ðức Chúa Trời. Bấy giờ, phải ! Bấy giờ chúng ta lại cùng uống, nhưng uống thứ rượu mới trong Nước Ðức Chúa Cha.

  Lời tuyên bố trên đây làm các tông đồ buồn, vì nó nhắc tới đau khổ. Mà đau khổ, danh từ độc ác đó, các ông có muốn nghe đâu ! Các ông chỉ ưa nghe những gì là vinh hiển. Nhưng rồi hương vị thực phẩm trên bàn, và cảnh phòng tiệc đã đánh tan ý nghĩ buồn sầu kia, lòng các ông lại vui lên. Và lời Chúa vừa phán về bữa tiệc trên Nước Trời càng làm các ông cao hứng nữa ! Các ông lầm tưởng Chúa sắp trị vì thiên hạ và gần đây mình sẽ được vinh quang, có tước cao lộc lớn ! Ý nghĩ đó dâng lên cực mạnh. Các ông quay ra tranh biện với nhau :

    --Ai trong các ông sẽ được địa vị cao hơn hết ?

  Thấy thế, Chúa phải dạy rằng :

    --Ở các nước, các vị quân vương bắt dân phải nhận họ có quyền thống trị, cũng như các người cầm quyền bắt dân phải xưng tụng họ là ân nhân. Nhưng ở nơi các con, đừng có thế. Trái lại, người lớn hơn cả trong các con phải ở như người ít tuổi nhất, và ai được làm thủ lãnh, phải ở như người giúp việc.

  Nhưng bài học khiêm nhường vừa được nêu ra, Ngài cho là chưa đủ. Vì biết đã đến giờ phải bỏ thế trần để về với Ðức Chúa Cha, và vì thế thiết tha yêu các môn đệ mà Ngài đã lựa chọn, Ngài muốn để cho các ông một bằng chứng tình yêu và một bài học thực hành, để bài học này đi qua giác cảm, in sâu vào trí não của các ông và của những người sẽ đọc Phúc Âm sau này. Nên Ngài chỗi dậy khỏi bàn ăn, cởi áo khoác ngoài ra, lấy vải thắt lưng, rồi đi đến góc phòng lấy chậu nước và khăn lau để rửa và lau chân cho các mộn đệ của Ngài.

  Giờ đây Ngài biết lắm, Ngài biết bữa tiệc mới khởi sự chứ chưa xong, nhưng quỷ Satan đã làm xong công việc chiếm đoạt linh hồn của Giuđa Ítcariốt, mà ít lâu nay nó đã khởi sự ám ảnh bằng bã danh vọng và phú quí. Ngài cũng biết Giuđa đã định xong kế hoạch nộp Ngài. Nhưng thôi, mặc ! Ngài không lùi bước trước cái sỉ nhục phải rửa chân cho hắn ! Ngài tự nhủ : Muôn điều đã do Cha Ngài định hết, cũng như do Ðức Chúa Cha mà Ngài đã xuống thế và sẽ trở về trời. Bởi vậy Ngài mạnh dạn, tay cầm bình, tay cầm chậu, tiến đi làm công việc rửa chân cho các môn đệ và lấy vải thắt lưng mà lau chân.

  Ngài đi về phía ông Simon Phêrô trước. Ngài quì xuống, giơ chậu sửa soạn rửa chân cho ông, làm ông bỡ ngỡ quá. Ông nghĩ : Ôi Thầy Chí Thánh. Thầy cao trọng mà làm việc hèn này sao ? Hay là Thầy tưởng các môn đệ chưa đủ sạch để ăn chiên lễ Vượt Qua đang bốc khói ?..Ông bỡ ngỡ quá, nhất định không đưa chân cho Ngài rửa, và vội vàng phân phô :

    --Lạy Thầy ! Sao vậy được ?...Thầy !..Thầy muốn rửa chân con ư ?....

  Nhưng Ngài đáp lại :

    --Việc Thầy làm, bây giờ con không hiểu. Nhưng sau này con sẽ hiểu.

  Ông cưỡng lại :

    --Không ! Lạy Thầy. Không bao giờ Thầy sẽ rửa chân cho con cả .

  Ngài nghiêm nghị :

    --Nhưng nếu con không để Thầy rửa chân con, con sẽ không còn là nghĩa thiết của Thầy nữa.

  Nghe lời đó, Ông Phêrô sợ, đổi ý ngay và kêu lên như người mất tự chủ :

    --Vậy, lạy Thầy, xin Thầy cứ rửa, không những là chân, mà còn cả tay và đầu nữa.

  Ngài điềm tỉnh đáp lại :

    --Người nào mới tắm xong, chỉ cần rửa chân thôi cũng đủ sạch, chẳng cần phải rửa cả

Các con cũng vậy. Các con đã được sạch. Tuy nhiên, hết thảy các con chưa sạch cả đâu.

  Ngài nói câu sau cùng : “Tuy nhiên hết thảy các con chưa được sạch cả đâu” vì bấy giờ Ngài biết một tông đồ phản bội sắp nộp Ngài. Tông đồ đó là Giuđa Ítcariốt.

  Rửa chân cho ông Phêrô xong, Ngài cũng quỳ gối rửa chân cho các tông đồ khác, cho cả Giuđa.Trước cử chỉ khiêm nhường đầy yêu thương đó, Giuđa gắng gượng cử động cho khỏi lộ chuyện, nhưng lòng y đã trơ như đá không một chút cảm xúc nào.

  Rửa chân cho các tông đồ xong, Ngài trở về chỗ cũ, mặc áo khoác ngoài, và lại dự bàn ăn. Rồi từ bàn ăn Ngài giảng ý nghĩa việc Ngài mới làm cho các môn đệ :

    --Các con hiểu ý việc Thầy mới làm không ? Các con nghĩ ai là người trọng hơn cả ; khách ngồi bàn hay người hầu ? Chính khách ngồi bàn phải không ? Vậy mà giữa các con, Thầy đã ở như người hầu. Các con gọi Thầy là Thầy, là Chúa, và các con gọi phải, vì thực Thầy như vậy. Nhưng nếu là Thầy là Chúa, mà Thầy đã rửa chân cho các con, thì đến lượt các con, các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương để các con bắt chước. Vậy các con hãy làm như Thầy, Thầy căn dặn các con : Quả thực tôi tớ không trọng hơn chủ, và môn đệ chẳng trọng bằng thầy. Ðó là điều các con biết nhận xét và đem thi hành, các con sẽ có phúc. Tuy nhiên, Thầy không nói cho hết thảy các con đâu. Thầy biết rõ rệt những kẻ Thầy đã chọn. Thầy biết hiện giờ trong các con có kẻ không đồng ý với Thầy. Ngày hôm nay chính nó sẽ thực hiện lời Thánh Kinh xưa “Có kẻ ăn bánh Ta, sẽ giơ chân đạp đánh Ta.” Bởi thế bây giờ Thầy bảo các con điều đó trước lúc việc xảy ra, để khi việc xảy tới, các con biết tin nhận Thầy là ai.

  Tiệc Vượt Qua lại tiếp tục. Rượu và thịt được chuyển lượt nhau theo nhịp thời gian. Tuy nhiên bầu không khí vui của phòng tiệc đã mờ nhạt, vì do những lời Ngài nói “Các con chưa sạch cả đâu ; có kẻ trong các con không đồng ý với Thầy.” và “Có kẻ ăn bánh Ta, giơ chân đạp đánh Ta.” các tông đồ đã hiểu trong các ông có kẻ muốn phản bội Ngài. Các ông nghĩ ngợi và uất ức lắm, mỗi người đeo đuổi một ý tưởng riêng, để hiểu rõ lời Thầy và tìm ra kẻ phản phúc khốn nạn kia. Các ông đưa cặp mắt lục soát nhìn nhau và tự hổ thẹn nhìn ngài. Rồi các ông sợ hãi, vì thấy nét mặt Thầy biến sắc như tố giác rằng linh hồn Thầy đang khổ cực muôn bề và sầu muộn mênh mông.

  Mà thực vậy, Ngài đang phiền sầu đau khổ, vì biết Giuđa sắp nộp Ngài và y lại ngồi ngay bên cạnh. Nỗi buồn sầu trở nên thấm thía và nhục nhã quá tới nỗi Ngài phải nói to lên :

    --Ôi chao ! Một người trong các con sẽ nộp Thầy. Phải ! Thầy bảo thật, một người trong các con, một người đang ăn ở bàn sẽ nộp Thầy !

  Lời Ngài tuyên bố như tiếng sét nổ trong phòng tiệc, làm các ông đã sợ hãi và buồn, lại càng buồn và sợ hãi hơn. Các ông ngừng ăn, buồn rầu nhìn nhau hỏi : “Thầy nói ai thế ?” ...Rồi đâm nghi hoặc với chính mình, từng người một, các ông đứng dậy, run sợ đến hỏi Ngài :

    --Lạy Thầy. Có phải con không ?

  Ngài đáp :

    --Một người trong mười hai các con, người thò tay vào đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy.

  Nhưng trên bàn bày la liệt những đĩa lớn đựng món ăn và ai muốn ăn thức ăn nào thì tự do dùng thức ăn ấy. Nên các ông không thể nhận ra được ai là người phản bội, trừ Giuđa. Nhưng để dấu chúng bạn y cũng vờ đến hỏi Ngài như các tông đồ khác :

    --Trình Thầy. Có phải con không ?

  Ngài khẽ bảo cho y biết, chính y là kẻ phản bội. Ngài nói rằng :

    --Ngươi đã nói đúng.

  Ngài bảo thầm, chỉ có Giuđa nghe lọt, nên ở ngay bên cạnh, hai ông Phêrô và Gioan cũng không nghe rõ. Giuđa lui về, Ngài tuyên bố :

    --Phải ! Con Người sẽ đi chịu chết như lời Thánh Kinh chép về Ngài...Nhưng khốn nạn thay cho kẻ nộp Ngài !...Thà nó đừng sinh ra còn hơn !

  Nhưng qua bao nhiêu câu vấn đáp, mà vẫn chưa khám phá ra được đích xác ai sẽ nộp Ngài, nên các tông đồ tức bực lắm. Nhất là ông Phêrô càng tức bực hơn. Ông muốn biết rõ kẻ phản bội, để nếu cần, ông không ngại bắt giữ và sỉ nhục con người khốn nạn ấy. Nhưng từ nơi ông đến chỗ Chúa còn cách ông Gioan và đầu ông này đang dựa vào ngực Chúa kiểu như an ủi Ngài trong cơn sầu muộn, nên ông ra hiệu cho tông đồ được Chúa yêu cách đặc biệt đó, hỏi xem Ngài có ý nói về ai. Ông Gioan liền ngẩng mặt lên nhìn Chúa, rồi để miệng sát tai Ngài và hỏi :

    --Lạy Thầy ! Kẻ nộp Thầy là ai vậy ?

  Ngài khẽ bảo ông Gioan :

    --Chính người mà Thầy sẽ trao cho một miếng bánh đã chấm nước.

  Nói xong, Ngài lấy một miếng bánh, chấm nước và trao cho Giuđa Ítcariốt.

  Theo thục Do Thái đưa cho người khác miếng bánh đã chấm nước (nghĩa là đã dọn sẵn ) là tỏ dấu kính trọng và thân nghĩa. Nên khi đưa miếng bánh chấm nước cho Giuđa, Chúa đã muốn tỏ thêm dấu hiệu yêu thương để y nghĩ lại. Nhưng ngược hẳn, y đã nhận lấy miếng bánh đó một cách lãnh đạm khô khan và càng nhất quyết thực hiện kế hoạch đã ấn định. Nên Thánh Kinh diễn tả tâm trạng Giuđa lúc đó rằng :

  “Y vừa ăn xong miếng bánh đó, quỷ Satan liền nhập vào y.”

  Biết tâm địa của Giuđa như thế, Chúa rùng mình, và không thể chịu đựng được con người quái ác đó ở bên cạnh nữa. Ngài nói thẳng cho y hay :

    --Việc ngươi quyết định làm, ngươi hãy làm mau !

  Nói thế dường như Ngài bảo : Việc ngươi đã định, ngươi cứ thực hiện đi. Ta biết rồi, việc gì còn phải vờ vật và che đậy mãi. Nghe vậy Giuđa cũng biết ý lắm. Nhưng các tông đồ không ai hiểu vì lý do gì Ngài bảo y như trên kia. Bởi vậy, khi Giuđa đứng dậy ra đi, các ông không ai ngờ y đi để nộp Thầy, mà trái lại vì Giuđa giữ chức quản lý, các ông tưởng y vâng lời Thầy đi mua đồ về mừng lễ hay bố thí cho kẻ khó nghèo, vì trong dịp lễ Vượt Qua cũng có lệ làm phúc cho kẻ nghèo khó. Lại cũng vì là người quản lý, có lẽ Giuđa phải vội vã đi ngay vì việc chung, nên không ai dám ghen vì Chúa đã tỏ với Giuđa dấu nghĩa thiết bằng miếng bánh chấm nước đã trao. Nhưng thực sự là Giuđa đi để nộp Ngài, và vừa ra khỏi cửa, y lao mình vào đêm tối, để nhờ đêm tối, thực hiện cho kỳ được ác ý của mình....

                                                               ***

  Sau khi cánh cửa khép lại, bóng tối đã đẩy Giuđa ra ngoài xa, Chúa Giêsu cảm thấy đôi phần an ủi. Giờ đây Ngài được tự do sống thân mật giữa đoàn môn đệ trong một bầu không khí yêu thương. Các môn đệ của Ngài là những người chất phác đơn sơ và chậm hiểu, nhưng rất thực tình yêu Ngài. Nên nét mặt Ngài lại hồng hào vui vẻ và Ngài bình tĩnh trò truyện với các ông. Câu chuyện vui xuyên qua tuần rượu thứ hai, thứ ba rồi thứ bốn. Và đáng ghi nữa, là tuần rượu thứ bốn còn được đánh dấu bằng một Bí Tích YÊU THƯƠNG mà khoa thần học đã đặt tên là Bí Tích THÁNH THỂ...

  Trong tiệc lễ Vượt Qua này, tuần rượu thứ ba đã tận kết với đĩa thịt chót của con chiên, và trên bàn chỉ còn lại ít bánh không men cùng một cốc rượu lớn. Nhìn vào bánh và rượu đó, Chúa thấy lòng đã yêu môn đệ, giờ đây càng yêu dấu dạt dào hơn. Ngài biết giờ đã bỏ thế trần đã sắp đến, cũng như đoàn môn đệ của Ngài sắp phải mồ hôi và sắp phải chịu mọi thứ khổ cực trong việc mở Nước Trời trên thế giới, nên Ngài càng yêu dấu thiết tha. Tình yêu của Ngài như một đại dương không giới hạn, đang dâng lên mạnh để phủ tràn trên môn đệ và thế giới. Với tình yêu mênh mông rộng lớn đó. Ngài muốn để lại một dấu hiệu yêu thương, để vỗ về an ủi và thêm sức hộ phù đoàn môn đệ của Ngài ở thế trần, cũng như để ban cho thế gian một nguồn ơn phúc, một của nuôi linh hồn, một lẽ sống và một bảo vật cho hạnh phúc trường sinh. Nên Ngài nhất quyết lập phép nhiệm mầu Thánh Thể.

    Vậy Ngài cầm lấy bánh, trịnh trọng đọc lời chúc phúc, ngửa mặt lên trời, bẻ bánh, rồi trao cho các môn đệ ăn :

    --Các con hãy cầm lấy mà ăn : đây là chính xác Thầy...Xác sẽ nộp vì các con.

  Rồi Ngài cầm cốc rượu, lại ngửa mặt tạ ơn Ðức Chúa Cha và đưa cho các môn đệ uống mà rằng :

    --Hết thảy các con hãy uống : đây là chính máu Thầy : Máu của Tân ước sẽ đổ ra vì các con, vì nhiều người để hết thảy được ơn tha tội lỗi.

  Thế là....nói theo kiểu các nhà thần học....Ngài đã lập phép THÁNH THỂ, làm cho bánh trở nên xác thịt của Ngài, và rượu hóa thành máu của Ngài. Ngài lập phép này như một nhiệm pháp yêu thương để ở với các tông đồ và nhân loại cho đến tận thế, ngõ hầu thánh hóa hết mọi linh hồn trong bước nguy nan nơi trần thế. Ngài lập phép này để làm của hiến tế Ðức Chúa Cha. Phép hiến tế mới này Ngài đặt tên là Hiến tế của Tân ước ngụ ý để thay thế và phế bãi những cách hiến tế bằng máu chiên bò của Cựu ước, những cách hiến tế bất toàn và chỉ có ý nghĩa tượng trưng, chính của lễ khiết tịnh và xứng đáng do Ngài mang lại. Trong Ngài có hai bản tính, Nhân tính và Thần tính. Về Nhân tính, Ngài trong sạch vô cùng ; và về Thần tính, Ngài bằng Ðức Chúa Cha. Nên chỉ có một mình Ngài mới là của lễ khiết tịnh và tương xứng, đáng được Ðức Chúa Cha chấp nhận cùng tha tội cho loài người. Bởi thế nên Ngài đã mượn dịp bữa tiệc trên đây để lập Phép Thánh Thể.

  Cũng bởi lẽ đó nên lúc này, lúc Ngài trao bánh và rượu, các tông đồ đã nhận lấy một cách rất cảm động. Các ông thấy cử chỉ Ngài thật khác thường, những cử chỉ trang nghiêm cao cả và chất chứa tình yêu thương. Ðồng thời những lời Ngài nói có một ý nghĩa rất đặc biệt và cụ thể, tỏ rõ bánh kia không phải là bánh nữa, nhưng chính là thể xác Ngài, cũng như rượu kia không phải là rượu nữa, nhưng là chính máu Ngài, tuy bánh và rượu vẫn còn giữ nguyên hương vị và hình sắc của rượu bánh. Ðã cảm động khi nhận lấy, các ông càng cảm động mạnh lúc chịu vào lòng, bánh và rượu Ngài trao. Các ông cảm thấy một nguồn yêu vô biên như theo thịt và máu của Thầy tràn lan vào tim hồng của các ông ; và đồng thời lúc thịt Thầy như tan lẫn vào thịt của các ông, máu Thầy như hòa trong huyết mạch của các ông, nguồn yêu kia đã làm cho các ông thêm trong sạch, mạnh bạo và yêu mến, đã nâng cao tâm hồn của các ông khỏi các vật thế trần và khai quang cho lý trí của các ông rất nhiều sự thật vĩ đại. Bởi đó, đứng trước nguồn yêu kia, các ông rất đỗi ngạc nhiên và say sưa sung sướng. Cùng một trật, không ai bảo ai, các ông đều thầm lặng đưa mắt nhìn Thầy với tất cả lòng kính ái, kính ái đến triệt để, kính ái để sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì Thầy, để tình yêu của Thầy được bù đắp một phần nào vì hy sinh đó.

  Lòng kính ái của các ông dần dần càng tăng lên gấp bội và đi song điệu với lòng cảm tạ tri ân, vì các ông tưởng nhớ, khi trao bánh và rượu. Ngài đã thố lộ tâm tình qua những lời nói có ý nghĩa xa mờ của đau thương “Xác sẽ nộp và Máu sẽ đổ rơi” Ôi những tiếng “Bị nộp và đổ rơi” thật độc ác quá !..Xác sẽ bị nộp và Máu Thầy sẽ đổ rơi vì ai ? Giờ đây các ông biết rõ ; chỉ vì chính các ông và vì nhân loại, để tội lỗi của hết thảy được thứ tha. Trong thời gian im lặng đầy kính ái và tri ân đó, các ông còn nhớ lời Ngài dặn nữa :

          “Các con hãy làm sự này để nhớ Thầy luôn”

  Nhưng tại sao phải làm để luôn nhớ Thầy như thế ? Ôi chao ! Vậy Thầy sẽ đi xa ư ...

Và đi xa sau những ngày “xác bị nộp và máu bị đổ”. Ði xa về miền bên kia cái chết, cái chết nhục nhã đau thương !...

  Nói tắt lại, bao nhiêu ý nghĩ về tình yêu vô hạn của Ngài, về cái chết cực khổ của Ngài, về cuộc Ngài phải đi xa và về lời Ngài dặn phải làm để tưởng nhớ Ngài mãi mãi, bấy nhiêu ý nghĩ ấy đã đổi lượt nhau biến chuyển tâm hồn của các ông hết vui lại buồn, hết buồn lại đến thương, hết thương lại đến quyết định nhớ, nhớ để thực hiện chữ trí ân. Và một hồi lâu như vậy, tiếp theo điệu những cảm tình sôi nổi cùng cao quý ấy của các ông, tuần rượu thứ bốn của bữa tiệc Vượt Qua dần dần đã kết liễu bên cạnh những ngọn nến sáng rực, luôn tỏa hơi ấm trong căn phòng thân mật đầy yêu thương kính mến.

Một  Tâm  Sự  Bí  Mật..

 HỢP  NHẤT VÀ  YÊU  THƯƠNG, NHỮNG  CẢM  TÌNH  NỒNG  CHÁY...

      Bữa tiệc Vượt Qua đã kết liễu, nhưng nguồn yêu của Bí Tích Thánh Thể vẫn chảy dạt dào trong lòng các môn đệ. Như đối lại những ngọn bạch lạp cháy to, làm sáng rực và sưởi ấm căn phòng chìm trong đêm tối. Giữa bầu khí ấm áp yêu thương đó, lòng Chúa cảm động miên man. Thầy trò trao đổi với nhau một ái tình nồng nhiệt qua những cử chỉ nghĩa thiết, những lời thân mật, chứng tỏ một nhịp điệu luyến ái vô cùng thành thực.

  Các tông đồ ngồi sát lại chung quanh Chúa, khiến Ngài càng cảm xúc thêm. Nhân cơ hội đó, Ngài dặn các ông phải hợp  nhất với Ngài trong tình yêu và yêu mãi mãi, Ngài dạy rằng :

    --Hỡi các con ! Thầy là cây nho , cây nho sinh sự sống, và hết thảy các con là ngành. Cha Thầy là người trồng nho. Hết mọi ngành ở trong Thầy không sinh quả, Cha Thầy sẽ cắt đi. Trái lại ngành nào sinh quả, Ngài sẽ tỉa bớt và bắt sâu để nó càng sinh nhiều quả. Phần các con, các con đã được thanh tẩy bởi lời giáo huấn của Thầy, các con hãy tiếp tục hợp nhất. Các con ở trong Thầy, Thầy ở trong các con ; chúng ta hợp nhất trong một tình yêu, như cây nho và ngành nho hợp nhất trong một nhựa sống. Ngành nho không thể tự mình sinh quả nếu nó không dính vào cây nho. Nếu không ở trong Thầy, các con cũng thế. Thầy là cây nho các con là ngành. Nếu các con ở trong Thầy và được Thầy ở với các con sẽ sinh nhiều quả, vì không có Thầy các con không làm được việc gì hết. Ai không ở trong Thầy, người ấy giống như ngành nho đã bị cắt, người ta sẽ ném ra ngoài cho khô héo, bó lại rồi vất vào lửa cho nó cháy. Nếu các con ở trong Thầy và tuân giữ lời Thầy, các con muốn xin gì cũng sẽ được, vì Ðức Chúa Cha lấy làm vinh hiển thấy các con sinh nhiều quả và trở thành môn đệ của Thầy.

  Hỡi các con ! Cha Thầy đã yêu Thầy thế nào, Thầy cũng yêu các con thế ấy. Vậy các con hãy sống trong tình yêu của Thầy. Nếu các con giữ các giới răn của Thầy, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy mãi mãi, cũng như Thầy đây vì đã giữ các giới răn Ðức Chúa Cha, nên được ở trong tình yêu Ngài luôn luôn. Sở dĩ Thầy phải dặn như vậy, là để sự vui vẻ của Thầy luôn ở trong các con để sự vui vẻ của các con được hoàn toàn vững mãi.

  Hỡi các con ! giới răn riêng, giới răn mới của Thầy là các con hãy yêu nhau như Thầy yêu các con. Không ai có tình yêu hơn người sẵn sàng hy sinh tính mạng vì bạn hữu. Vậy các con sẽ là bạn hữu của Thầy nếu các con thực hiện lời Thầy đã dạy. Thầy không gọi các con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ chẳng biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi các con là bạn hữu, vì Thầy đã cho các con biết việc Ðức Chúa Cha đã trao ban cho Thầy thực hiện. Không phải các con đã chọn Thầy, song chính Thầy đã chọn các con, và cắt đặt các con làm tông đồ để các con đi truyền đạo, lượm nhiều kết quả, những kết quả phải được tồn tại mãi mãi, và để mỗi khi nhân danh Thầy, các con xin điều gì với Ðức Chúa Cha, Ngài sẽ ban cho. Tóm lại tất cả những điều Thầy dạy các con, là các con hãy yêu nhau, vì có thực tình yêu nhau, người ta mới nhận biết các con là môn đệ của Thầy...

     Giảng về tình yêu xong, Chúa nhìn vào bộ mặt thực của loài người, diễn tả cho môn đệ biết trước tâm địa đáng buồn của thế gian sẽ đối xử với những người truyền giáo ! Tâm địa là đố kỵ, các môn đệ sẽ cùng với Ngài bước trên một đường lý tưởng sáng láng yêu thương, xung khắc với thế gian đầy bóng đêm ghen ghét. Tuy nhiên thế gian sẽ thất bại. Ánh sáng sẽ thắng bóng đêm. Lửa yêu thương của Ngài sẽ bùng cháy trên hoàn cầu, đốt tan ghét và dục vọng trong lòng của bao tín hữu. Cuộc chiến thắng đó chắc chắn, vì Ngài sẽ ở bên cạnh các môn đệ luôn luôn, và Chúa Thánh Thần sẽ giúp sức. Do vậy không việc gì phải sợ, nhưng cứ vững dạ lên đường lý tưởng. Ngài phán :

    --Hỡi các con ! Nếu thế gian ghen ghét các con, các con hãy biết nó ghét Thầy trước, giả thử các con thuộc về thế gian, hẳn thế gian sẽ yêu các con. Nhưng bởi các con không thuộc về thế gian, và bởi Thầy đã lôi các con ra khỏi thế gian, nên thế gian ghen ghét. Các con hãy nhớ lời Thầy “Tớ chẳng trọng hơn chủ” Nếu chúng đã bách hại Thầy, tất cũng bách hại các con. Cũng như chúng đã dò la công việc và cử chỉ của Thầy, chúng sẽ dò la công việc và cử chỉ của các con. Chỉ vì danh Thầy, chúng sẽ hóa thành thù địch của các con ở khắp nơi và luôn mãi, vì chúng đã không muốn nhận biết Ðấng đã sai Thầy. Giả thử Thầy chẳng đến giảng dạy, có lẽ chúng sẽ vô can. Nhưng bây giờ chúng không có lẽ chữa tội cho mình nữa. Cũng như giả thử Thầy chẳng làm ở giữa chúng, những công việc không ai làm được, có lẽ chúng sẽ vô tội. Nhưng bây giờ mặc dầu đã thấy bao phép lạ, chúng cứ ghét Thầy và Cha Thầy, đúng như lời Thánh Kinh dạy “Chúng đã ghét Ta vô cớ” Vì thế chúng không có lẽ để chữa tội nữa.

  Tuy nhiên, các con hãy an tâm. Ðấng Phù Trợ sẽ đến. Thần Chân Lý sẽ hiện ra, Ngài sẽ làm chứng về Thầy. Và chính các con cũng sẽ có can đảm làm chứng về Thầy, vì các con đã ở với Thầy ngay từ lúc sơ khởi. Việc đó khó thật...Nhưng Thầy nhắc lại là các con đừng bỡ ngỡ, trái lại hãy vững tâm luôn luôn. Phải ! Người ta sẽ loại các con ra khỏi hội đường, có khi còn giết nữa, và họ cho như vậy là phụng sự Thiên Chúa. Những hành động ấy chứng tỏ người ta không biết thực Cha Thầy với Thầy là ai ! Vậy Thầy nói trước với các con những điều như thế, để khi việc xảy ra, các con nhớ lại rằng Thầy đã nói.

  Những lời Chúa phán làm các tông đồ buồn, các ông nghĩ đến chuyện Ngài sẽ đi xa, để các ông ở lại một mình, giữa những ngày mai đen tối, bốn bề bách hại. Thấy thế, Chúa cảm động và thương tâm, Ngài tìm hết lời an ủi và nói rõ Ngài sẽ về, không phải là để các ông mồ côi, nhưng trái lại, Ngài cần phải về, để Chúa Thánh Thần xuống xử đoán thế gian, để bảo vệ giúp các ông toàn thắng. Ngài phán :

   --Hỡi các con ! Trước kia Thầy không nói những điều đó với các con, vì Thầy vẫn ở với các con. Nhưng bây giờ Thầy trở về với Ðấng đã sai Thầy, và chẳng ai trong các con dám hỏi Thầy : “Thầy đi đâu ?”

  Tại Thầy đã bảo các con điều đó, nên lòng các con phiền sầu. Nhưng Thầy nói thật với các con. Thầy đi, thì tốt cho các con, vì giả thử Thầy không đi. Ðấng Phù Trợ sẽ chẳng đến. Nhưng Thầy đi, Thầy sẽ sai Ngài đến. Và khi đến, Ngài sẽ bắt thế gian phải thụ lý về lỗi lầm của họ. Ngài sẽ chứng tỏ cho thế gian biết tội mù quáng vì không tin Thầy, biết sự thánh thiện vì Thầy trở về với Cha Thầy, và các con chẳng thấy Thầy nữa. Sau hết Ngài sẽ chứng tỏ cho thế gian biết Satan là thũ lãnh thế gian sẽ bị xét xử. Thầy còn nhiều điều nữa muốn nói với các con, song bây giờ các con chưa thể nghe được hết. Nhưng khi Thần Chân Lý đến. Ngài sẽ hướng dẫn các con tới sự thực hoàn toàn. Ngài sẽ không nói theo ý riêng Ngài, nhưng đã lập lại mọi điều Ngài đã nghe và sẽ giúp các con biết cả việc tương lai. Ngài sẽ làm vinh danh Thầy, vì Ngài sẽ dạy lại giáo lý của Thầy để các con hiểu rộng hơn. Các con biết Thầy không nói điều gì theo ý riêng, nhưng giáo lý của Thầy là giáo lý của Cha Thầy. Và hết mọi điều của Cha Thầy là của Thầy, vì lẽ đó Thầy đã nói Ngài sẽ lấy giáo lý của Thầy để giáo huấn các con. Vậy một ít nữa các con sẽ chẳng thấy Thầy. Rồi một ít nữa các con lại thấy Thầy.

  Mấy tông đồ thì thào với nhau : Ngài nói : Một ít nữa các con sẽ chẳng thấy Thầy, rồi một ít nữa các con lại thấy Thầy. “Một ít nữa” nghĩa là gì tôi chưa hiểu ?

  Biết ý các tông đồ muốn hỏi, nhưng không dám, Chúa liền phán bảo các ông :

    --Các con suy luận với nhau về lời Thầy ; Một ít nữa các con sẽ chẳng thấy Thầy, rồi một ít nữa các con lại thấy Thầy. Quả thực, Thầy bảo các con, các con sẽ khóc lóc, sẽ rên xiết, còn thế gian sẽ nhảy mừng. Phải ! Các con sẽ phiền sầu, nhưng nỗi phiền sầu của các con sẽ đổi ra vui sướng. Người sản phụ lo lắng lúc sinh con, vì bấy giờ là giờ đau đớn. Nhưng rồi lúc đã sinh con, ngươi ấy sẽ quên mọi đau đớn và chỉ thấy vui sướng vì đã mang lại cho thế giới một người con. Các con cũng thế, giờ đây các con lo buồn vì nghĩ Thầy bỏ các con. Nhưng khi Thầy lại thăm các con, bấy giờ các con sẽ đầy tràn vui vẻ, và niềm vui đó không ai có thể cướp giật khỏi các con. Ngày ấy các con sẽ chẳng còn xin Thầy sự gì nữa....A ! mà cho tới nay các con chưa nhân danh Thầy mà xin điều gì. Các con hãy xin đi, các con sẽ được, để các con được vui vẻ hoàn toàn. Thầy bảo thật, hễ các con xin Cha Thầy ơn gì, Ngài sẽ ban vì danh Thầy. Ngày đó các con hãy nhân danh Thầy mà xin, và Thầy chẳng nói Thầy sẽ cầu xin Ðức Chúa Cha cho các con. Không, không cần, vì chính Ðức Chúa Cha cũng yêu các con, bởi các con đã yêu Thầy và tin Thầy bởi Ðức Chúa Trời mà đến với thế gian, và bây giờ Thầy sẽ bỏ thế gian để về với Cha Thầy. Từ trước tới nay Thầy đã nói với các con bằng dụ ngôn để giúp các con hiểu. Nhưng bây giờ Thầy chẳng nói bằng dụ ngôn nữa, song Thầy nói rõ rệt với các con về Ðức Chúa Cha.

  Nghe Chúa Giêsu dạy thế, mấy tông đồ thưa ngài rằng :

    --Bây giờ quả thực Thầy nói rõ rệt, chứ có dùng dụ ngôn đâu. Và chúng con cũng nhận thấy Thầy biết mọi sự, không cần phải có ai hỏi Thầy nữa. Vì thế chúng con tin Thầy bởi Ðức Chúa Trời mà đến.

  Chúa Giêsu đáp lại :

    --Bây giờ các con tin ư ? Nhưng một thời gian kia, và thời gian đó không xa nữa, các con sẽ tán loạn mỗi người một ngả, để Thầy lại một mình trơ trọi. Nhưng Thầy sẽ cô đơn ư ? Không ! Thầy không cô đơn đâu, vì Ðức Chúa Cha ở với Thầy mãi mãi. Thầy chỉ nói thế để các con an tâm về Thầy thôi. Thầy nhắc lại : Các con sẽ bị bách hại ở thế trần. Nhưng các con hãy tin tưởng luôn, vì Thầy đã thắng thế trần này.

  Nói tới đây, lòng Chúa hướng về giờ thụ nạn. Ngài sẵn sàng vui nhận mọi cực hình nhuốc hổ, vì biết Ðức Chúa Cha sẽ được vinh hiển. Ðồng thời Ngài thương đoàn môn đệ quá. Tâm tình và giọng điệu của Ngài càng trở nên nồng nhiệt thiết tha. Ngài phán :

    --Giờ đây Con Người như đã bị treo lên khỏi đất và Ðức Chúa Cha được hiển vinh. Ðối lại Ðức Chúa Cha cũng kíp làm hiển vinh Con Người. Hỡi các con nhỏ của Thầy, Thầy chỉ còn ở với các con chỉ mấy giờ nữa thôi. Các con sẽ tìm Thầy và Thầy phải nói với các con như đã nói người Do Thái rằng : Các người không thể đến nơi Ta đi. Chính trong đêm nay các con sẽ nản lòng trước việc sẽ xảy ra, hợp như lời Thánh Kinh “Ta đánh đập người chăn chiên, và cả đoàn chiên chạy tan tác”

  Ông Phêrô hỏi Chúa :

    --Lạy Thầy, thế Thầy đi đâu ?

  Chúa Giêsu đáp :

    --Nơi Thầy đi bây giờ con không thể theo đến được. Nhưng sau này con sẽ đi tới đó.

  Ông Phêrô thưa lại :

    --Lạy Thầy, tại sao con không thể theo ngay bây giờ ? Thầy cứ tín nhiệm. Dù hết thảy thoái chí con cũng bền gan. Con sẵn sàng theo Thầy vào cả nhà tù và cõi chết. Con sẵn sàng bỏ mạng sống vì Thầy. Xin Thầy tin như thế.

  Chúa Giêsu đáp lại :

    --Con sẵn sàng bỏ tính mạng vì Thầy ư ? Quả thực, Thầy bảo cho con biết, chính trong đêm nay gà chưa gáy ba lần, con đã nhát đảm chối Thầy ba lần rồi.

  Ông Phêrô khổ tâm quá, hết sức phân trần với Thầy chữ hiếu trung :

    Lạy Thầy ! Không bao giờ xảy ra như thế. Con đành chịu tống ngục và chịu chết cùng Thầy, chứ không đời nào chối Thầy đâu.

  Chúa Giêsu thương hại ông Phêrô, Ngài dịu dàng bảo cho ông biết không nên tự phụ quá :

    --Hỡi Simôn, Simôn. Kìa, Satan đã được phép sàng sảy các con bằng thử thách, như người ta sàng lúa mì vậy. Thôi...Nhưng phần Thầy, Thầy sẽ cầu khẩn cách riêng cho Simôn, để Simôn khỏi mất đức tin. Và phần con, Simôn, khi con hối lỗi, con hãy làm cho các anh em con vững chãi đức tin. Việc đó khó thật nhưng con hãy trông cậy. Một khi sống lại, Thầy sẽ đợi các con ở xứ Galilêa.

  Nói xong giờ thử thách của ông Phêrô, Chúa cũng cho các tông đồ biết những khốn khó đang chờ đợi. Từ trước tới nay Chúa sai các ông đi đâu, dù không mang tiền bạc lương thực, giầy dép, song nhờ thế giá Chúa, các ông cũng được tiếp đón hẳn hoi, không thiếu những sự cần. Nhưng rồi đây những ngày đen tối sẽ đến ; vì danh Ngài các ông sẽ bị bạc đãi, bách hại, sẽ coi như hạng người phạm pháp. Bởi vậy tiếp theo một cuộc truyền giáo dễ dãi, các ông sẽ phải ẩn trốn, phải mang theo lương thực, và những vật cần theo thái độ của kẻ phải đi lưu đày. Ngài phán :

    --Xưa nay Thầy sai các con đi truyền giáo, không cho tiền bạc, bao túi đi đường và giầy dép, thế các con có thiếu gì không ?

  Các ông cùng thưa :

    --Không ! Thưa Thầy, chẳng thiếu gì !

  Ngài phán tiếp :

    --Thế nhưng từ nay, ai có tiền bạc hãy mang theo. Ai có bao túi đi đường cũng vậy. Gia dĩ, ai không có gươm cũng phải bán áo ngoài đi mà mua. Vì đã đến lúc phải ứng nghiệm lời chép trong Kinh Thánh về Thầy rằng : Người đã bị liệt vào hàng ngũ những kẻ tội ác. Thật vậy ! Những điều đã chỉ về Thầy, sắp được nên trọn.

  Ngài muốn dạy các ông phải có sự khôn ngoan siêu nhiên, trên đường truyền giáo phải có sẵn lương thực và khí giới thiêng liêng để đề phòng. Nhưng các ông thiển cận ngây thơ, luôn luôn hiểu lời Chúa theo nghĩa vật chất. Mấy hôm nay lại cảm thấy như có điều không lành sắp xảy ra, nên các ông đã trộm mua cả hai lưỡi kiếm để đề phòng.

Hiên ngang về chỗ tinh khôn đó, các ông mạnh dạn thưa với Chúa :

    --Lạy Thầy, chúng con đề phòng cẩn thận, và ở đây có đủ hai thanh gươm.

  Chúa mỉm cười trước cử chỉ và lời thưa ngây thơ đó, nên Ngài phán cho xong chuyện :

    --Ðược ! Thế đủ rồi.

  Nhưng bấy giờ các tông đồ vẫn chưa hiểu ý Ngài muốn nói. Mãi sau này nhờ việc xảy ra, các ông mới hiểu ý Ngài.

  Lòng yêu thương của Chúa đối với môn đệ càng tăng thêm. Nhận thấy trên vẻ mặt các ông có một vẻ buồn man mác và lo âu vô hạn. Ngài hết sức an ủi các ông :

    --Hỡi các con đừng bối rối ; các con hãy tin vào Thiên Chúa, cũng như hãy tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Thầy đi trước để sửa soạn chỗ cho các con. Sửa soạn xong, Thầy sẽ trở lại đón các con, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó, còn như nơi Thầy đi bây giờ, các con cũng đã biết.

  Nghe Ngài phán các tông đồ ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu nhà Cha Ngài ở đâu và Ngài đi lối nào mà tới. Ông Tôma đánh bạo hỏi Ngài để biết rõ :

    --Thưa Thầy, chúng con không biết được Thầy đi đâu. Vậy chúng con biết sao Thầy sẽ đi đường nào ?

  Chúa đáp :

    --Chính Thầy, cùng một trật. là Ðường là Sự Thật và là Sự Sống. Chẳng ai có thể đến với Ðức Chúa Cha mà không qua Thầy. Ai nhận biết Thầy, tức cũng nhận biết Cha Thầy

Phần các con, các con nhận biết Ðức Chúa Cha, vì các con đã thấy Ngài.

  Các tông đồ càng không hiểu và bỡ ngỡ, các ông đã nhớ rõ chẳng có bao giờ được thấy Ðức Chúa Cha, trừ khi Ðức Chúa Cha giống hệt Ngài cả về thể xác. Nên ông Philippê ngắt lời Ngài bằng một lời xin thiết thực :

    --Lạy Thầy, xin Thầy chỉ cho chúng con thấy Ðức Chúa Cha. Ðó là tất cả điều chúng con ước muốn...

  Chúa đáp lại :

    --Hỡi Philippê ! Thế nào ? Thầy ở với con từ lâu mà con chưa nhận biết Thầy sao ? Này ! Philippê. Ai thấy Thầy, tức là thấy Cha Thầy. Tại sao con lại nói : Xin chỉ cho chúng con thấy Ðức Chúa Cha ? Con không tin rằng Thầy ở trong Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Cha ở trong Thầy ư ? Những lời Thầy nói đây cũng không phải tự ý Thầy nói đâu, nhưng là do ý Ðức Chúa Cha, Ðấng ngự trong Thầy và đang thực hiện công việc của Người. Vậy con hãy tin lời Thầy đã nói : Thầy ở trong Ðức Chúa Cha, và Ðức Chúa Cha ở trong Thầy. Hay nếu không tin vì lời Thầy, ít ra hãy tin vì những phép lạ Thầy đã làm để minh chứng.

  Trả lời ông Phlippê xong, Chúa trở lại đầu đề cũ, Ngài lại an ủi các tông đồ, khuyên các ông hãy tín nhiệm và hứa sẽ ban nhiều ơn, nhất là sẽ sai Ðấng Phù Trợ đến :

    --Quả thực, các con sẽ thấy ; những ai tin Thầy sẽ làm được những việc lạ như Thầy, hay những việc lạ trọng đại hơn nữa. Thầy sẽ trở về với Ðức Chúa Cha. Và một khi ở bên cạnh Ðức Chúa Cha, Thầy sẽ liệu thực hiện hết thảy, những điều các con nhân danh Thầy mà xin, để Ðức Chúa Cha được hiển vinh trong Con Người. Hỡi các con, nếu các con kính mến Thầy, các con hãy giữ các điều Thầy đã dạy. Thầy sẽ cầu xin Ðức Chúa Cha cho các con, để trong khi Thầy vắng mặt. Ngài sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ rất mạnh thế. Ðấng ấy sẽ ở với các con mãi mãi. Ðấng ấy chính là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận được, vì thế gian không muốn thấy và không muốn biết Ngài. Nhưng các con sẽ nhận biết Ngài, vì Ngài ở cạnh các con và ở trong các con.

    --Thầy đi, nhưng Thầy không để các con mồ côi đâu. Thầy sẽ sớm trở lại với các con.

Chỉ còn ít thời gian nữa, thế gian sẽ chẳng thấy Thầy. Song các con thì khác, các con sẽ thấy Thầy, vì Thầy sẽ sống mãi và các con cũng sống cùng Thầy. Bấy giờ các con sẽ biết Thầy ở trong Ðức Chúa Cha, cũng như các con sẽ biết các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Hỡi các con. Ai yêu Thầy, người ấy hãy nhận biết các giới răn của Thầy cùng hãy giữ những giới răn ấy. Ai thực tình yêu Thầy, người ấy sẽ được Ðức Chúa Cha yêu lại và cả Thầy đây cũng yêu thương người ấy cùng sẽ tỏ mình ra cho người ấy cách yêu thương.

  Bấy giờ ông Giuđa...Không phải Giuđa Ítcariốt.. thư Ngài rằng :

    --Thưa Thầy, vì sao Thầy nói Thầy chỉ tỏ mình ra cho chúng con thôi, chứ không tỏ mình cho thế gian ?

  Chúa giải thích :

    --Hỡi Giuđa, ý Thầy muốn nói : ai minh chứng tình yêu đối với Thầy bằng cách giữ giới luật của Thầy, người ấy sẽ được Cha Thầy yêu và Chúng Ta sẽ đến trú ngụ trong tâm hồn người ấy. Còn ai không yêu Thầy kẻ ấy chẳng giữ giới luật của Thầy đâu. Thầy nói tắt vậy, con đủ hiểu. Và nhớ rằng những lời con nghe đây, không phải bởi Thầy, Thầy chỉ nói thay cho Ðức Chúa Cha, Ðấng đã sai Thầy thôi ! Bao lâu Thầy còn ở với các con, Thầy nói những điều khó hiểu. Nhưng khí Chúa Thánh Thần là Ðấng Phù Trợ được Ðức Chúa Cha nhân danh Thầy sai đến. Người sẽ dạy các con hết mọi điều và sẽ ban cho các con hiểu rõ hơn những điều Thầy đã nói. Hỡi các con ! Bây giờ Thầy phải từ biệt các con. Thầy để lại cho các con sự hòa bình (Bình An) Thầy ban cho các con ơn hòa bình của Thầy, ơn hòa bình đích thực. Thế gian chỉ chúc hòa bình thôi, nhưng Thầy ban hòa bình thực cho các con. Các con đừng bối rối cũng đừng hoảng sợ. Các con vừa mới nghe Thầy nói “Thầy đi.” Nhưng rồi Thầy lại trở về với các con. Nếu thực các con yêu Thầy, các con phải vui sướng bởi thấy Thầy về với Ðức Chúa Cha, vì các con biết Cha Thầy trọng hơn Thầy.  ( Xét về Nhân tính, Chúa Giêsu kém Ðức Chúa Cha, nhưng xét về Thần tính, Ngài cũng bằng Ðức Chúa Cha.)

    --Bây giờ trước khi việc xảy ra, Thầy phải nói thế để khi việc xảy ra, các con càng tin hơn. Thầy không còn đàm đạo với các con nữa. Vì thủ lãnh thế gian sắp đến rồi. ( Chúa ám chỉ Satan sẽ dùng kẻ dữ tìm cách hại Ngài, và Ngài sẽ tự nguyện chịu tử hình để thực hiện ý muốn của Ðức Chúa Cha.) Không phải tự y có thể hãm hại Thầy, nhưng cần thiết Thầy phải đi vào đường lối Ðức Chúa Cha đã vạch ra, để cho thế gian nhận biết Thầy yêu Cha Thầy, và thi hành mệnh lệnh Người đã ban bố. Hỡi các con, bây giờ chúng ta hãy đứng dậy và ra khỏi đây !

  Phán xong, Chúa im lặng mấy phút, Ngài đưa mắt nhìn yêu các tông đồ. Theo tục lệ quen giữ sau bữa lễ Vượt Qua, Ngài ngửa mặt lên trời đọc lời cảm tạ, rồi với vẻ xúc động vô cùng. Ngài thốt những lời cầu xin rất thiết tha và ý nghĩa cho Ngài, cho các tông đồ và toàn thể Giáo Hội của Ngài như sau đây :

    --Lạy Cha. ( Chúa cầu cho chính mình Ngài.) Giờ long trọng đã đến. Cha hãy hiển danh Con Cha để Con lại làm danh Cha được chói sáng, vì Cha đã ban cho Con được quyền bính trên mọi sanh linh và đã ủy thác hết mọi người cho Con. Ðể hết mọi người được sống mãi mãi. Ðời sống bất diệt đó chính là nhận biết Cha là Chúa Trời duy nhất đích thực và nhận biết Khâm sai của Cha là GIÊSU KITÔ. Phần con, Con đã làm hiển vinh Cha dưới đất bằng cách hoàn tất mọi công việc Cha trao cho Con.Bây giờ đến lượt Cha cũng hãy làm vinh hiển danh Con, bằng cách cho Con sống hiển vinh ở bên Cha, với sự hiển vinh con vốn có trước khi tạo thành vũ trụ.

    --Lạy Cha. ( Chúa cầu cho các Tông Ðồ ) Con đã biểu dương danh Cha cho những người Cha lựa chọn ở thế trần và đã ủy thác cho Con. Những người ấy vốn thuộc về Cha và Cha đã trao cho con. Chúng vẫn một lòng trung nghĩa, và bây giờ nhận biết rằng chính Cha đã ban sứ mệnh cho Con. Hết mọi sự thật Cha ủy cho Con nói, Con đã nói hết và chúng đã đón nhận cả. Quả thực chúng đã hiểu con bởi Cha mà ra, và đã tin sứ mạng của Con. Vậy Con cầu xin Cha cho chúng. Trong lúc này, Con không cầu cho thế gian, nhưng cầu riêng cho những kẻ Cha trao cho Con, bởi chúng là của riêng Cha. Lạy Cha, hết mọi con cái của Con là của Cha, cũng như hết mọi con cái của Cha là của Con, vậy chúng thật là của riêng Cha. Chúng đã hiểu danh Con, nhưng Con không thể ở thế gian nữa, sẽ về với Cha ; còn chúng, chúng phải ở lại thế gian, nên Con cầu xin Cha cho chúng. Lạy Cha chí thánh, xin hãy nhân danh Cha, hãy gìn giữ những kẻ Cha ban cho Con để chúng hợp nhất với nhau như Ta. Khi Con còn ở với chùng, Con đã nhân danh Cha bảo vệ chúng để chúng xứng đáng thuộc về Cha, và trong chúng chẳng mất ai, trừ ra một người hư vong như lời Thánh Kinh đã ám chỉ trước. Bây giờ đây Con sẽ về với Cha, và trước khi bỏ thế gian, Con phải bảo chúng biết những điều ấy, để chúng được hưởng sự vui vẻ bên Con. Lạy Cha, Con đã truyền lại cho chúng những ý muốn của Cha.

Bây giờ thế gian ghét chúng, vì cũng như Con đây, chúng không thuộc về thế gian nữa. Tuy nhiên, Con không xin Cha cất chúng ra khỏi thế gian, một chỉ xin Cha giữ gìn chúng khỏi tay thần Ác, vì cũng như Cha đã sai Con xuống thế gian. Con cũng sai chúng vào thế gian với một mệnh lệnh. Con xin Cha hãy thánh hóa chúng trong sự thật, như lời Cha là sự thật. Lạy Cha, chính Con đây, Con đã tự nguyện thánh hóa vì chúng, để chúng được thánh hóa trong sự thật của Con.

    --Lạy Cha. ( Chúa cầu cho Giáo Hội.) Con cũng không cầu nguyện cho chúng mà thôi, nhưng cho hết mọi người sẽ tin Con vì lời chúng, để hết thảy hợp nhất như Ta : Cha ở trong Con, Con ở trong Cha. Con xin cho những người ấy hợp nhất trong Ta nữa, để cho thế gian thấy rõ rệt rằng Cha đã sai Con. Lạy Cha, Con đã chuyển thông cho chúng một phần vinh hiển Cha ban cho Con, để chúng hợp nhất với nhau, như kiểu mẫu hợp nhất của Ta, ngõ hầu Con ở trong chúng, như Cha ở trong Con, để thế gian tin nhận Cha đã sai Con và Cha đã yêu chúng bằng chính tình yêu Cha đã dành cho Con.

    --Lạy Cha. ( Ngài kết và xin cho môn đệ được về trời hưởng phúc.) Con ước nguyện rằng Con ở đâu, những người Cha đã ban cho Con cũng được ở đó, để nhờ tình yêu Cha yêu Con, chúng hằng được thấy sự vinh hiển Cha đã ban cho Con ngay từ trước khi tạo thành vũ trụ. Lạy Cha chí ái, thế gian không nhận biết Cha, nhưng Con, Con đã nhận biết Cha và chúng cũng đã tin nhận rằng Cha sai Con, Con đã cho chúng biết và còn cho chúng biết danh Cha thêm nữa, để Cha yêu chúng bằng chính tình yêu Cha yêu Con và để chính con hợp nhất với chúng.

Giữa  Ðêm  Khuya  Tịch  Mịch..

SẦU  PHIỀN  VÀ  HẤP  HỐI,  MÁU  CHẢY  VỚI  MỒ  HÔI !..... 

  Những lời tâm sự thiết tha của Chúa trong bữa Tiệc Ly đã chấm dứt. Ngài và các tông đồ cùng ca bài cảm tạ rồi ra khỏi thành giữa bóng tối đêm khuya. Lúc ấy mười giờ đã sắp điểm, ngoài các đường phố vẫn lác đác bóng người đi tìm nhà trọ. Ðó là những  lữ khách thập phương đên Jêrusalem để dự lễ Vượt Qua.

  Chúa và các tông đồ đi quanh lối Ðền thờ, xuống một thang dài bằng đá, leo qua chiếc cầu gỗ bắc trên thung lũng Cédron, tiến lên núi Cây Dầu, rồi vào một khu vườn có tường vây, gọi là Giết-si-ma-ni  ( Gethsemane ) Ðây là nơi Ngài quen đến nghỉ và cầu nguyện. Khu vườn này rộng mỗi bề chừng 60 thước, trong có nhiều cây dầu cây lãm và một máy ép dầu. Bên cạnh vườn có một hang khoét sâu vào hang núi. Ðến trước cửa hang, Ngài bảo các tông đồ rằng :

    --Các con hãy ở lại đây, để Thầy đến nơi kia cầu nguyện.

  Nói xong, Ngài để các tông đồ ở lại và chỉ đưa ba ông đi theo. Ðó là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan.

  Bốn thầy trò vừa đi vừa chuyện vãn, lúc nhỏ lúc to, câu chuyện nhuốm một vẻ buồn của những người sắp gặp nguy trên đường mạo hiểm. Rồi nét mặt Ngài đổi sắc, Ngài vốn không sợ bao giờ, nhưng bấy giờ cả thân Ngài run rẩy, biểu lộ một sự khiếp sợ, khổ cực và sầu phiền vô hạn. Ngài than thở với ba môn đệ :

    --Linh hồn Thầy buồn rầu quá, buồn rầu đến chết được. Các con ơi ! Ðừng xa Thầy, các con hãy cầu nguyện với Thầy, để các con tỉnh thức với Thầy và không nản chí.

  Ngài nói như ngõ ý cần một bạn thân bên cạnh để an ủi trong giờ sợ hãi, nhưng rồi Ngài bảo ba ông ngồi nghỉ dưới gốc cây, và một mình Ngài tiến đến chỗ có tảng đá to, cách xa nơi ba môn đệ bằng ném một hòn đá. Ở đó dưới ánh trăng khuya, ba ông xem rõ cử chỉ và nghe rõ tiếng của Ngài .        

  Ngài quỳ gối mặt phủ phục sát tảng đá, và dáng điệu như e ngại một sự gì. Ngài cầu nguyện :

    --Lạy Cha. Cha làm được mọi sự. Nếu đẹp ý Cha, xin Cha hãy cất chén đắng này xa Con. Nhưng xin Cha đừng theo ý Con, một cử ý Cha. !

 Ngài cầu khẩn Ðức Chúa Cha cất khỏi Ngài cái giờ khủng khiếp mà Ngài cảm thấy sắp đến, vì bấy giờ tâm hồn Ngài sầu buồn không thể tả, Ngài cảm thấy cô đơn, cay đắng, khiếp sợ, lo âu. Tất cả tội lỗi từ Adam cho đến người chót hết trong nhân loại, tất cả những tệ bạc vong ân, từ sự phản bội đen tối của Giuđa, tất cả những khổ tâm của Ðức Mẹ cùng cái chết nhuốc hổ Ngài sẽ phải chịu.....Tất cả những thống khổ đó đã thành một khối lớn, chất nặng trên tâm hồn Ngài, khiến Ngài đau đớn tê mê, con tim Ngài nghẹt thở, thân thể Ngài run giật. Ngài đã biến thành nạn nhân của phiền sầu và đau thương ! Nhưng chưa hết, bể sầu càng dâng lên mạnh, tràn ngập khắp tâm hồn Ngài, và mũi kim khổ não mỗi lúc càng đâm sâu khiến cơ thể lẫn trái tim của Ngài ngất ngư như người hấp hối chết, và một trang thái hữu hãn của người phải sầu phiền tới cực độ xảy ra : Từng giọt máu trong mình Ngài lẫn với mồ hôi lướt mướt chảy quanh mình !

  Quả thực nhân tính trong Ngài đã phải qua một thử thách gắt gao ; Thân thể bị đau khổ dày vò, tinh thần bị khiếp sợ và sầu phiền quá sức. Trong giờ thê lương thảm đạm ấy, Ngài sấp mình cầu nguyện hay ngửa mặt lên trời nhìn, cũng chỉ thấy một mình trơ trọi giữa mảnh vườn tịch mịch giá lạnh. Nét mặt ủ dột đang cầu nguyện, Ngài bỏ dở thất thểu đi tìm ba môn đệ ở gần, để xin một lời an ủi. Nhưng ba ông đã ngủ say. Ngài lay động ông Phêrô nói :

    --Simôn ! Con ngủ thế ư ? Con không thể tỉnh thức được một giờ sao ?

  Ba cái xác liền động cựa, tỉnh giấc một chút, Ngài lại bảo các ông :

    --Hỡi các con ! Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Các con biết : Hứa dễ mà làm chẳng dễ đâu. Tâm thần mau lẹ nhưng xác thịt yếu đuối !

  Biết rõ không mòng gì được môn đệ giúp đỡ hay an ủi, Ngài lại trở về chỗ cũ. Tảng đá đã lạnh càng lạnh thêm, chung quanh gió lạnh vi vu thổi. Khiếp sợ và sầu phiền chưa buông tha Ngài, nhưng càng ức hại và cấu xé thêm. Ngài lại phủ phục với điệu bộ sầu phiền kinh sợ và cầu nguyện cũng một lần như trước, nhưng luôn luôn kính phục ý Ðức Chúa Cha :

    Lạy Cha ! Nếu không qua khỏi được, mà Con phải uống chén đắng, thì xin vâng ý Cha

  Cầu nguyện xong, Ngài trở lại với ba tông đồ, nhưng Ngài thấy các ông vẫn ngủ. Ngài đánh thức các ông, nhưng các ông không buồn dậy, con mắt các ông đã nặng quá. Các ông cũng luống cuống chẳng biết thưa lại với Ngài làm sao. Thấy vậy, Ngài bỏ các ông, lại một mình đi cầu nguyện, than thở với Ðức Chúa Cha cũng một lời như hai lần trước. Và lần này, một sứ thần từ trời hiện xuống ủy lạo.

  Trong suốt một đời, Ngài chỉ cần xin nhân loại giúp đỡ và an ủi có một lần thôi. Nhưng lời xin của Ngài đã chẳng được nhân loại chấp thuận, không thể cậy nhờ vào nhân loại nữa, giờ đây Ngài để cho Thiên thần an ủi, và cảm thấy trong mình một nghị lực bùng nổi dậy.... Ngài đã vui nhận hết mọi hy sinh, hết mọi nhuốc hổ, hết mọi cực hình. Ngài đã thắng mọi cám dỗ của quỷ ma, đã chế ngự mọi khiếp sợ và sầu phiền. Trước kia ngần ngại bao nhiêu, bây giờ hăng hái bấy nhiêu. Ngài có thái độ một chiến sĩ hăng hái nhảy lên võ đài chiến đấu.

 Vui sướng vì giờ hy sinh đã sắp điểm. Ngài đứng dậy và lần thứ ba trở lại với các tông đồ. Thấy các ông còn ngủ, Ngài nói to để lộ một chút mỉa mai :

    --Bây giờ các con cứ ngủ yên. Việc đã muộn rồi. Không cần tỉnh thức và cầu nguyện nữa.

  Tuy nhiên chưa tỉnh hẳn, các ông vẫn còn ngái ngáp, Ngài buộc lòng phải lay tỉnh và nói rõ với các ông :

    --Ðã đến giờ rồi. Trong giây lát nữa, Con Người sẽ bị nộp vào tay kẻ ác. Nào, đứng dậy chúng ta cùng đi. Kìa kẻ nộp Thầy đã đến gần.

  Nói xong Ngài vội đến đánh thức các tông đồ khác với cùng một tin sét đánh như trên

“ nào chỗi dậy, Con người sẽ bị nộp, kìa kẻ nộp Thầy đã đến.!”

Thầy  Bị  Bắt !  Tông Ðồ  Chạy  Tán  Loạn!....

  Nghe tiếng Chúa gọi khẩn cấp và tin Ngài bị nộp, các tông đồ hốt hoảng vội nhổm dậy nhìn ngơ ngác, có ông tưởng mình đang chiêm bao. Ðồng thời, từ ngoài cổng vườn lấp loáng bóng một đoàn người cầm đuốc và gươm giáo, gậy, thừng, xô xấn kéo nhau vào, đi đầu dẫn lối là Giuđa.

        Giuđa một tông đồ phản bội !

  Ngay từ chiều tối trong tiệc lễ Vượt Qua, Giuđa đã bực tức lắm. Y điên lên vì mặt nạ của mình bị hạ, mưu mô của mình bị phát giác, nên bỏ phòng tiệc đi ra, y đã rình xem Ngài sẽ đi lối nào rồi về nghỉ ở đâu. Tới khi biết rõ theo như thường lệ. Ngài đưa các tông đồ đến cầu nguyện ở vườn Giết-si-ma-ni. Y liền đi báo cho các Trưởng tế cùng Biệt Phái, và đích thân dẫn người đến bắt Chúa, Ðấng hằng yêu thương y.

  Ðược tin báo, bọn Trưởng tế và Biệt Phái mừng như người trút được gánh nặng. Nhưng họ cho là việc hệ trọng, vì bắt ai chứ bắt Giêsu không phải là dễ. Ngài có thể đánh quỵ một trăm quân dễ hơn phục sinh một người đã chết ; Ngài có cả một đoàn sứ đồ nồng nhiệt và nhiều người khác ở chung quanh ; sức kháng cự bằng võ lực có thể xảy đến. Và nữa, ngay trong đêm trăng sáng tỏ, Ngài cũng có thể chạy thoát một cách rất tài. Bởi thế, họ đề phòng rất cẩn thận. Một mặt họ ra lệnh cho viên đội trưởng cảnh binh Ðền thờ phải đem quân cùng một số đông người cầm gươm giáo, dây thừng và đuốc đi theo Giuđa đến nơi đã hẹn. Một mặt khác, họ xin viên võ quan trong đạo quân La Mã đang đóng ở gần đồn Antônia, theo như lời ông đã hứa trước, đem quân võ trang tử tế đi vây các ngã quanh vườn Cây Dầu, để đề phòng kẻo Ngài trốn chạy, và để đối phó với bất cứ một phản lực chống chọi nào sẽ xảy ra. Thêm vào hai việc cẩn bị đó, Giuđa còn sợ hoặc sẽ bắt lầm ; Thay vì bắt Ngài lại bắt một đệ khác. Nên y đặn kỹ lưỡng những cảnh binh có công tác bắt Ngài nhận ám hiệu sau đây : “Hễ tôi hôn ai, các ông hãy bắt chính người đó và phải điệu đi rất cẩn thận.”

  Giuđa và toán người mang gươm giáo đã vào vườn qua những lối quặt của hàng cây Dầu rườm rà và khúc khuỷu. Tiếng bước chân xen với tiếng khí giới. Ánh đuốc đỏ lèo trộn với ánh trăng trong, mấy rặng cây đen nghịt trở nên xám nhợt rồi pha màu nâu xẫm. Giuđa xông xáo như kiểu người quen đường đã từ lâu, mắt giáng thẳng về phía trước, thỉnh thoảng quay nhìn trộm về đàng sau, để xem họ có theo đúng lối hay có để ý đến những cử chỉ nhỏ mọn nhưng quan hệ của mình không. Hắn đã đi qua các tông đồ và đến gần Chúa với dáng điệu rất tự nhiên. Nhưng hắn nói tiếng “Chào Thầy” cách ấm ớ, và hôn Ngài cách ít tự nhiên.

  Nhận rõ kẻ phản bội nộp Thầy chính là Giuđa, các tông đồ đều kinh ngạc, đứng sững một hồi như tượng đá. Nhưng trước cử chỉ độc ác của Giuđa, Chúa vẫn giữ nét mặt hiền từ và bình tĩnh. Rồi với một liếc nhìn đau đớn tựa như lưỡi gươm thâu tận đáy lòng Giuđa, Ngài lại bảo hắn một câu mắng nhẹ :

    Hỡi người tâm phúc của Ta ! Bạn mượn cái hôn để nộp Con Người ư ?

  Dường như Ngài muốn cảnh cáo : Phản bội là tội rất nặng, nhưng mượn hình thức yêu đương là hôn Ngài để phản bội càng là tội nặng hơn. Song lòng Giuđa đã tối tăm và chai đá. Hắn không biết cảm động nữa. Hôn Ngài xong, hắn lùi ra cho quân lính đến bắt Ngài. Theo ám hiệu Giuđa đã dặn, mấy tên quân xô đến bắt Chúa. Nhưng muốn giác ngộ chúng và những kẻ sai chúng biết ; không ai có quyền được hại Ngài, trừ khi Ngài cho phép và tự ý nộp mình, Chúa nhìn thẳng vào mặt chúng và hỏi :

    --Các người tìm ai ?

  Chúng kêu la :

    --Chúng ta tìm Giêsu Nazareth.

  Ngài dõng dạc phán :

    --Ta đây !

  Nghe Ngài tuyên bố bất ngờ và oai nghi đó, chúng run sợ lùi lại ngã xuống đất.

  Ngài lại hỏi :

    --Các ngươi tìm ai ?

  Vừa chỗi dậy, vừa thẹn và bực vì đã sợ, chúng thưa :

    --Chúng ta tìm Giêsu Nazareth.

  Ngài phán :

    --Ta đã nói ; Chính Ta đây. Nhưng nếu các ngươi tìm Ta, các ngươi hãy để những người này đi vô sự.

  Miệng nói, tay Ngài chỉ vào đoàn tông đồ đang sợ hãi. Ngài muốn bảo vệ các ông, không để một ai bị bắt trong đêm nay, để ứng nghiệm lời Ngài mới nói trong bữa Tiệc Ly : Lạy Cha, Con không để mất một ai trong số những người Cha ủy thác cho Con.

  Nghe Chúa nói oai nghi tới nỗi làm quân lính run rùng mình và ngã ngữa, các tông đồ bớt sợ. Rồi máu nóng của người Galilêa lại hăng lên. Sẵn có hai thanh gươm sắc bén, ông Phêrô cầm lấy một, tiến đến bên Chúa nói : “Lạy Thầy, chúng bắt Thầy ư ? Xin phép Thầy con chém.” Rồi không cần đợi Chúa trả lời, ông tuốt gươm, giơ cao tay chém mạnh xuống trên đầu một đầy tớ thầy Thượng tế  có vẻ hỗn láo nhất, tên là Mancô. Nhưng y kịp tránh và chỉ bị cụt tai bên phải.

  Ðó là cử chỉ khởi cuộc đánh lộn. Nhưng Chúa không muốn dùng võ lực để bảo vệ Ngài, và biết các tông đồ sẽ thất trận, vì đối phương nhiều người, lại có quân La Mã vây chung quanh vườn đã sẵn sàng hộ chiến. Ngài bảo ông Phêrô :

    --Hỡi Phêrô, hãy xỏ gươm vào vỏ, vì ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay con nghĩ Thầy không xin được Cha Thầy sai ngay đến cho Thầy hơn mười hai cơ binh sứ thần ư ? Nhưng nếu vậy, còn ứng nghiệm sao được lời Thánh Kinh ? Và chén đắng Cha Thầy đã dọn, Thầy lại khước từ ư ? Thôi, hãy để công việc đi theo chiều của nó.

  Nói đoạn, Ngài để tay vào tai người bị cụt, và chữa cho y, Ngài còn oai nghi phán bảo những kẻ đến bắt Ngài, tức là Trưởng tế, các kỳ lão và các Ðội trưởng của Ðền thờ :

    --Các ngươi cầm gươm gậy kéo đến bắt Ta như bắt một tên đạo tặc ? Hằng ngày Ta ở giữa các ngươi, giảng dạy trong Ðền thờ mà sao các ngươi không bắt ? Nhưng thôi, giờ đây là giờ của các ngươi và công việc phải xảy ra để ứng nghiệm lời các tiên tri đã chép.

   Chúa phán tới đây, các tông đồ hoảng sợ ; trái lại bọn Trưởng tế, kỳ lão, đội trưởng và quân lính có cảm giác như nắm chắc được mồi chúng săn tìm từ lâu, chúng sấn vào bắt và trói Ngài. Các tông đồ bỏ chạy tán loạn qua các ngách cây và một mình Chúa bị quân ác độc điệu đi một cách sỉ nhục giữa tiếng cười hả hê của bọn chúng.

  Quả thực Ánh Sáng của thế gian đã bị điệu đi sau ánh mờ của mấy bó đuốc, và Ðấng Từ Bi bị quân hung đồ đem đi ức nhục ! Trong giờ lâm nạn, Thầy chí thánh chẳng có ai theo ! Các môn đồ đã bỏ trốn hết. Thậm chí có chàng thanh niên, nghe tiếng náo động trong đêm trường vội khoác tấm áo mỏng, rón rén bước theo Ngài từ xa để biết rõ chuyện, cũng bị quân hung tàn đuổi bắt, khiến chàng phải trút áo lại, chạy hết tốc lực để thoát thân .