Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 11

Tấm  Lòng  Của  Người  Cha...

   Ðã nhiều lần Chúa giảng về điều kiện để vào nước Chúa. Ðiều kiện đó là tinh thần hy sinh, là tấm lòng khiêm nhường và khiết tịnh, điều kiện đó rất khó. Nhưng Chúa lại ban ơn phù hộ và ủy lạo, làm cho lòng người phấn khởi mừng vui. Vì thế, dân chúng và cả đến những kẻ tội lỗi, những người thu thuế, cũng tuôn đến với Ngài và Ngài tỏ lòng khoan nhân niềm nở đón tiếp họ cùng ngồi bàn với họ.

  Thấy vậy bọn Biệt Phái bất bình lẩm bẩm, và tặng cho Ngài một huy hiệu mới. Họ gọi Ngài là “Thân hữu của những kẻ bất lương”. Nhưng Ngài không chấp ; và để tỏ lòng Thiên Chúa thương sót tội nhân, Ngài kể mấy dụ ngôn rất ý nghĩa để thức tỉnh và kêu mời người có tội. Trước hết Ngài kể dụ ngôn “Người mục tử tốt lành đi tìm chiên lạc.”

    --Ai trong các người có 100 con chiên và rủi đánh mất một con, người ấy chẳng để 99 con lại trong hoang địa, để đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm thấy ư ? Và lúc đã tìm được người ấy có đánh chiên không ? Hẳn là không ! Chiên lạc kiệt sức và lo sợ, chỉ biết kêu be be, làm mục tử  cảm động, vác nó lên vai và vui vẻ trở về. Lúc về nhà, mục tử còn mời bạn hữu, láng giềng đến để họ mừng cho nữa. Mục tử nói : Các bạn hãy mừng cho tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc.

  Chúa kết luận :

    --Ta bảo thật các người. Ở trên trời cũng vậy. Một người bất lương hối cải làm cho trên đó mừng rỡ hơn 99 người thánh thiện không cần phải sám hối.

  Hết dụ ngôn về chiên lạc, Chúa lại kể dụ ngôn về đồng tiền đánh mất. Ngài kể :

    --Giả dụ người đàn bà nào đó có 10 đồng bạc làm tư sản, chẳng may rơi mất một đồng, người ấy chẳng thắp đèn, quét nhà, tìm tòi cho đến khi lại thấy ư ? Và khi đã tìm được, người ấy có mừng không ? Hẳn nhiên là mừng lắm. Người ấy sẽ mời bạn hữu láng giềng đến và nói : Các bạn hãy mừng cho tôi, vì tôi đã tìm thây đồng bạc tôi đã đánh mất.

  Chúa kết luận :

    --Vậy Ta bảo thật các người, các sứ thần Thiên Chúa sẽ rất mừng vì một người tội lỗi biết ăn năn thống hối.

  Với hai dụ ngôn trên đây, Chúa đã vạch rõ lòng “khoan hồng Thiên Chúa” đối với người tội lỗi. Thiên Chúa xót thương họ vô cùng. Vì thế khi họ trở lại, cả Thiên đàng mừng vui hơn thấy bao người không phải sám hối. Tuy nhiên, nếu Chúa nhấn mạnh vào lòng “khoan hồng Thiên Chúa”. Ngài lại không có ý bảo ta phạm tội bừa, rồi hối lỗi, để làm cho Thiên đàng vui hơn. Không ! Không phải thế, Chúa chỉ có ý kích thích người tội lỗi trở lại và bào chữa thái độ của Ngài đối với tội nhân.

  Nhưng thế cũng chưa đủ, Chúa còn muốn vạch rõ lòng thương không bờ bến của Thiên Chúa nữa. Lòng thương đó, là lòng thương của cha đối với con. Bởi thế, Chúa kể tiếp dụ ngôn “Người con trai hoang đàng” Ngài kể :

    --Một người kia có hai con đứa con trai. Một hôm người con thứ nói với cha rằng : Thưa cha, xin cha ban cho con phần gia tài con sẽ được. Thế rồi cậu van nài mãi khiến người cha phải chia gia tài. Mấy hôm sau người con thứ bán hết tất cả gia tài điền sản, thu được một số tiền lớn, liền trẩy đi phương xa, và phung phí hết tiền bạc trong cuộc ăn chơi phóng đãng. Khi y đã xài hết tiền rồi, ở nơi xa lạ đó, bỗng bị nạn đói ác liệt. Bấy giờ y cảm thấy khổ cực túng thiếu. Y phải đi giúp việc cho một người ở trong vùng này. Người đó sai y ra ngoài đồng chăn heo, và cơn đói của y, làm y thèm được ăn cả những bã đậu heo ăn cho no bụng, nhưng chủ heo không kho. Lúc đó y mới nghĩ lại và tự nhủ. Bao nhiêu người làm thuê ở nhà cha tôi có bánh ăn dư thừa, mà tôi ở đây phải chết đói !

Thôi ! Tôi không ở đây nữa. Tôi sẽ về với cha tôi và thưa ngài rằng : Lạy cha ! Con đã phạm đến Trời và phản bội với cha, con không đáng được gọi là con cha nữa. Xin cha hãy xử với con như một người làm thuê của cha thôi.

    --Thế rồi người con thứ đứng dậy, bỏ nơi xa lạ mà trở về nhà cha. Lúc còn ở xa nhà, người đó lại ngập ngừng, nửa nghĩ đến lỗi đã phạm, nửa nghĩ đến sự xấu hổ khi gặp các đầy tớ của cha. Nhưng cũng lúc ấy, người cha nhân từ đã trông thấy con trở về. Ông động lòng thương, chạy sấn đến ôm cổ con và hôn yêu nhiều lần, như thế để bù lại nỗi buồn vì đã lâu ngày xa cách. Ông quên hết tội bội bạc của con, và cứ ôm con, không ngại rằng quần áo của con rách bẩn, đầu tóc của con rối bù và mặt của con đầy bụi.

  Trước cử chỉ đó, người con nức nở vì thẹn, vì vui, muốn sấp mình xuống hôn chân cha, nhưng không thể được. Bấy giờ người con ấp úng thưa rằng : “Lạy cha ! con đã phạm đến Trời và lỗi với cha, con không đáng được gọi là con cha nữa.... Ý người đó muốn kể mình như kẻ rốt hết trong các đầy tớ của cha...Nhưng người cha không cho con nói nữa.

Ông cuống quít dắt con về. Lúc gần tới nhà, mấy đứa đầy tớ trông thấy mỉm cười như vẻ chế nhạo, làm người con đó mặt xấu hổ....Nhưng ông chủ đã bảo chúng rằng : Hãy chạy mau về nhà lấy bộ áo đẹp nhất để cậu mặc, hãy đưa nhẫn và giầy cho cậu xỏ, rồi hãy đi bắt con bê béo mà làm thịt. Chúng ta phải dọn tiệc ăn mừng, vì con ta đã trở về. Ta tưởng con ta đã chết, nhưng nay lại hồi sinh. Ta tưởng con ta đã lạc mất, nhưng nay đã tìm thấy. Và do lệnh của ông, người ta dọn tiệc mừng trọng thể.

  Kể dụ ngôn tới đây, Chúa đã vạch rõ lòng yêu thương vô lượng của Thiên Chúa ; Người ta tội lỗi đến đâu, nếu thực tình hối cải, Thiên Chúa cũng vui lòng tha thứ. Hơn nữa Thiên Chúa còn chờ đợi cho tội nhân ăn năn trở lại, và một khi tội nhân đi vào đường hối cải. Thiên Chúa sẽ chạy đến giúp đỡ ngay.

  Nhưng hình như càng nghe Chúa nói đến lòng quảng độ Thiên Chúa đối với người tội lỗi, bọn Biệt Phái càng tỏ vẻ cứng lòng và kiêu hãnh, tự cho mình là bậc thánh thiện mô phạm, ai ai cũng phải theo mới trông được cứu thoát, chứ biết đâu mà dựa vào lòng yêu thương kia. Nên Chúa lại kể tiếp dụ ngôn một đoạn nữa, để ám chỉ lối đạo đức bề ngoài của họ. Một lối đạo đức ngầm chứa biết bao ghen tuông hờn giận và kiêu hãnh.

  Chúa lại kể tiếp :

    --Nhưng giữa buổi tiệc mừng, người con cả làm ở ngoài đồng về. Khi gần đến cổng, người đó nghe thấy đàn hát và khiêu vũ xôn xao. Bỡ ngỡ, người đó gọi một tên đầy tớ, hỏi về những tiếng đàn hát trong nhà. Tên đầy tớ đó thưa : Ðó là vì cậu thứ mới trở về, và cha cậu đã giết bê béo để ăn mừng cậu trở về mạnh khỏe.

    --Nghe thấy vậy, người con cả nổi giận không muốn bước chân bào nhà. Người đó giận vì thấy cha quá hiền từ, và sợ người con thứ hai lại lấy của một lần nữa để phá tán. Người đó đã quên tình anh em ruột thịt và chỉ biết ghen với tiếc của. Nhưng vừa được đầy tớ cho hay về thái độ của người con cả, người cha đã chạy ra và dục phải vào để ôm thương người con thứ và cùng dự tiệc mừng với các bạn hữu. Nhưng người con cả vẫn bất bình và thưa lại cách giận dỗi :

    --Ðó ! tôi đã làm cho ông bao nhiêu năm nay và tôi chưa từng sai lỗi một mệnh lệnh nào của ông, thế mà đối với tôi, ông không hề cho tôi lấy một con dê để tôi vui vẻ với các bạn của tôi !... Nhưng bây giờ thằng con ông vừa về, nó đã xài phí hết tài sản của ông để nuôi tụi gái đĩ, thế mà ông lại giết bê béo để ăn mừng nó !......

  Người con cả đó quả không phải là người con yêu, người đó chỉ làm việc ở nhà cha với tư cách tâm địa của người nô lệ, chỉ mong được phần thưởng vật chất, để bù lại công lao của mình, chứ không muốn chung hưởng hạnh phúc với cha. Bởi vậy người cha lại phải nhắc lại bổn phận và tâm tình làm con cho người đó. Người cha đáp lại :

Nhưng này con, con chẳng ở với cha luôn hay sao ? Mọi sự của cha là của con, con nên hiểu ; thết tiệc mừng em con, không phải là cha thừa nhận nết xấu của em con đâu, nhưng sở dĩ có thế. Là vì em con đã chết mà được sống lại, đã bị thất lạc mà nay lại tìm thấy, như vậy mà chẳng đáng mừng sao ?.... 

Hãy  Ðể  Các  Trẻ  Ðến  Với  Ta.....

  Chúa Giêsu vẫn tiếp tục đi giảng trong xứ Giuđêa, ở khắp nơi đâu đâu có bóng Ngài dân chúng cùng lũ lượt kéo nhau đến nghe Ngài giảng. Trong số đó, có cả những bà mẹ tay bồng bế, tay dắt con đến với Ngài. Các bà cố chen lấn cho được lại gần Ngài, để Ngài đặt tay trên đầu các trẻ nhỏ và cầu phúc cho chúng. Mọi lần không sao, nhưng lần này các bà làm huyên náo quá, khiến các tông đồ khó chịu, các ông quay ra mắng trách các bà, lấy lẽ các trẻ chỉ làm mất thời giờ của Chúa ; và các ông ngăn cản kẻo các bà đưa con trẻ đến với Ngài. Thấy vậy, Chúa nghiêm nét mặt gọi các tông đồ và phán bảo:

   --Hãy để các trẻ nhỏ đến với Ta, và đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai nên giống chúng. Quả thật, Thầy bảo các con : Ai chẳng tiếp nhận Nước Ðức Chúa Trời, với một tinh thần đơn sơ trong sạch và tín nhiệm như một trẻ nhỏ, người ấy sẽ chẳng được vào nước đó.

   Phán xong, Chúa gọi các trẻ đến, Ngài ôm chúng vào lòng, đặt tay lên đầu chúng và cầu phúc cho chúng, rồi mới để cho chúng đi. Chúa đối xử với các trẻ như thế, vì Ngài yêu chúng lắm. Chúng gợi lại vẻ khiết tịnh và vô tội lúc khởi thủy của loài người. Cặp mắt chúng lóng lánh, cử chỉ chúng tự nhiên và đơn sơ, nụ cười hồn nhiên của chúng đi song song với đôi má bụ sữa và vầng trán thanh bình chưa bị vết nhăn ; tất cả ở nơi chúng đều tượng trưng và phản chiếu một tâm hồn đơn sơ trong sạch, an hòa và hạnh phúc. Vì thế Chúa yêu thương chúng một cách đặc biệt, mỗi lần gần chúng. Ngài lại cảm thấy an vui tưởng nhớ lớp người được hưởng vinh quang trên Thiên Quốc .

Bao  Giờ  Nước  Trời  Sẽ  Ðến ?....

   Biệt Phái vẫn nghe Chúa giảng về Nước Trời sắp đến. Họ lại hiểu nước đó theo quan niệm chính trị lẫn vật chất, nghĩa là Ngài sẽ đánh đuổi quan La Mã, sẽ khai sáng một thời kỳ oanh liệt cho Do Thái. Nhưng họ lại ngạc nhiên, vì không thấy Ngài có khí giới và quân đội, nên một lần kia, họ chất vấn Ngài rằng :

    --Thầy vẫn giảng về Nước Trời, nhưng bao giờ Nước Trời sẽ đến ?

  Chúa trả lời :

    --Nước Trời không đến một cách bất thần và oanh liệt rực rỡ. Người ta không thể nói rằng ; Nước đó ở đây hay ở kia, vì Nước Trời đang ở giữa các người .

   Chúa muốn bảo họ : Nước Trời không xuất hiện một cách đột nhiên, như những vì sao lạ, hay một cách náo động như một cuộc khải hoàn của một vị đại tướng. Nhưng Nước Trời đến êm đềm trong lòng và ở giữa các cá nhân. Nước Trời chính là Giáo Hội, Ngài đã thiết lập và tổ chức Giáo Hội. Ðã đặt ông Phêrô làm thủ lãnh Giáo Hội và Giáo Hội đang lan tràn ra. Vậy Nước Trời không phải là bé nhỏ và còn ở trong tương lai nữa. Bởi thế, không thể nói Nước Trời ở nơi này nơi nọ, hay sẽ đến, vì thật Nước Trời đã được thiết lập ở giữa “các người” và đang phổ cập mạnh mẽ.

  Nhưng không những các Biệt Phái, mà cả các tông đồ cũng mong đợi một Ðấng Cứu Thế vinh hiển theo quan niệm thế tục, các ông hằng hy vọng một ngày kia Chúa sẽ lên ngôi báu giữa tiếng kèn vang dội, giữa đạo quân hùng tráng và giữa tiếng hoan hô dậy đất của quốc dân. Bởi thế, sau khi phi bác quan niệm viễn vông của Biệt Phái, Chúa lại cải chính ý tưởng sai lầm của các tông đồ. Ngài phán bảo các ông :

    --Sẽ có một gian, các con ao ước được thấy Con Người khải hoàn vinh hiển một lúc thôi, nhưng các con cũng sẽ chẳng được thấy. Bởi đó, Thầy bảo các con, nếu khi nào người ta bảo các con  rằng “Kìa Ngài ở đây hay ở kia, kìa Ngài đang ở trong rừng vắng hay đang ở trong nhà” các con đừng tin, đừng đi và đừng theo họ. Phải ! Con người sẽ đến, như chớp lòe từ Ðông sang Tây, từ phương này sang phương khác thế nào, Con Người cũng sẽ đến như thế ấy. Và trước khi đến, Ngài còn phải chịu nhiều đau khổ và bị lớp người này từ bỏ nữa !

 Thế là thay vì cuộc khởi hoàn vinh hiển, Chúa đã nói Ngài sẽ phải chịu khổ nhục, sẽ chịu cực hình, rồi sau đó, Ngài mới đến, nhưng Ngài sẽ đến mau như tia chớp để phán xét loài người. Nói đến “phán xét” Chúa lại thấy việc hối lỗi ăn năn là điều tối cần để chuẩn bị loài người trong ngày Ngài đến. Nên Ngài nói tiếp :

    --Ngày Con Người ngự đến, mọi sự sẽ xảy ra giống như thời ông Noe. Thời ấy, trước khi đại hồng thủy, người ta chỉ biết ăn uống vui chơi và cưới gả. Người ta không muốn hiểu và cứ thản nhiên cho đến ngày ông Noe vào tàu, cho đến lúc lụt dâng lên và hủy diệt mọi sự. Sau này khi Con Người đến, người ta cũng sẽ bị cách bất thần như vậy.

    --Ngày Con Người đến, cũng giống như thời ông Lót nữa. Bấy giờ người ta chỉ biết ăn uống, buôn bán, trồng trọt và xây dựng, chứ không biết đến luân thường đạo lý. Nhưng chợt đến lúc ông Lót và gia đình ra khỏi thành Sôđôma, thì trời đổ mưa lửa và diêm sinh xuống đốt mọi người trong thành. Vậy ngày Con Người đến cũng như thế. Trong ngày đó nếu đang ở trên mái thượng, các con đừng xuống nhà để lấy một vật gì mang đi, vì không kịp và vô ích ; hay nếu đang ở ngoài đồng, các con cũng chớ trở về để lấy một đồ cần như chiếc áo khoác, vì không còn thời giờ nữa. Các con hãy nhớ lại tích bà Lót thuở xưa, vì luyến tiếc đồ vật hay nhà cửa, bà đã quay lại xem thành Sôđôma, và bà đã bị phạt, thân thể biến thành tượng muối. Vậy các con hãy hy sinh mọi sự và cả tính mạng nữa để cứu lấy linh hồn. Thầy bảo thật : trong ngày đó, ai tìm cách cứu lấy tài sản hay tính mạng, người đó sẽ mất hết. Trái lại ai liều mất tài sảntính mạng vì danh Thầy người đó sẽ được cứu thoát.

    --Thầy bảo thật các con, các con hãy chú ý đến tâm hồn của các con ; hình thức bên ngoài chư đủ, tâm hồn mới quý, mới thực có giá trị. Bởi thế, thời ấy trong đêm khuya, hai người nằm cùng một giường, mà một người được đem đi, được cứu thoát, còn một người bị để lại. Hay là hai người đàn bà cùng xay một cối bột, mà một người được mang đi, còn một người bị bỏ lại, hoặc hai người đàn ông làm ở ngoài đồng, mà một người được chọn, còn một người bị thải.

   Bấy giờ có người thưa Chúa :

    --Lạy Thầy, những người được chọn ấy sẽ đi đâu ?

  Chúa trả lời :

    --Những người ấy sẽ được đến một nơi họ phải đến. Và họ sẽ sung sướng đi mau như đoàn chim ưng bay lượn chung quanh xác chết.

  Ý Chúa muốn nói : Những người ấy sẽ được về với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc của họ, một thứ hạnh phúc có hấp lực mạnh hơn nam châm, làm cho họ vui mừng sung sướng tập hợp chung quanh Thiên Chúa, cũng giống như xác chết có sức kéo bầy chim ưng tập hợp lại và bay lượn chung quanh. 

Phải  Tỉnh  Thức  Ðề  Phòng...

  Nhân nói đến ngày tận thế, ngài Ngài sẽ đến phán xét. Chúa lại phán thêm điều nữa, để dạy người ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi.

  Chúa phán :

    --Về ngày hay giờ đó không ai biết được, các sứ thần trên trời hay chính Con Người cũng không biết để nói ra, duy có Ðức Chúa Cha biết, nhưng Ngài dấu kín. Vậy các con hãy ý tứ giữ mình, đừng để lòng chiều theo vật dục đam mê ăn uống, và lo lắng quá về đời sống vật chất. Các con hãy nhớ kỹ, ngày đó sẽ đến bất thần như chiếc bẫy vướng vào chân, và với cái dị điểm này là nó ập đến với mọi người trên mặt đất. Bởi thế cần phải sẵn sàng đề phòng luôn. Các con phải tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng, để các con thoát khỏi hình phạt cả thể xảy đến và để có thể đứng trước thánh nhan Con Người.

    --Các con hãy nghe dụ ngôn sau đây : Nước Trời giống như một tiệc cưới. Trong tiệc đó 10 cô trinh nữ đã được mời để đi đón chàng rể và cô dâu, mỗi cô phải cầm một chiếc đèn. Nhưng trong số 10 cô, có năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan. Những cô khờ dại cầm đèn đi, song không mang thêm dầu để đề phòng. Còn những cô khôn ngoan không những mang đèn, mà còn đổ dầu vào lọ để mang theo.....Nhưng chàng rể trễ giờ, làm các cô đều thiếp đi và ngủ cả....Ðến nửa đêm bỗng có tiếng kêu rằng : “Chàng rể đến, hãy cấp tốc đi đón ngay” Bấy giờ các cô cùng dậy và sửa soạn đèn. Mấy cô khờ dại đã thấy đèn của mình đã hết dầu, liền lo sợ, nói với những cô khôn ngoan rằng : Xin các chị cho chúng em một ít dầu, vì đèn chúng em sắp tắt !” Mấy cô khôn ngoan đáp lại : “Không thể được, chúng tôi cũng chỉ có dầu vừa đủ thôi, vậy các chị hãy chạy mau ra hàng mà mua.” Nhưng bấy giờ các cửa hiệu đã đóng cả....Và giữa lúc ấy chàng rể tới. Những cô khôn ngoan được nhập bọn với đám rước dâu của hai họ về nhà chàng rể. Lúc tới nơi các cô được mời vào dự tiệc cưới rất linh đình trọng thể. Tiệc cưới được tổ chức trong thành, các cửa chung quanh đều đóng hết. Tiệc cưới đã khởi sự rồi, các cô khờ dại mới  đến. Các cô gõ cửa mà kêu rằng : “Lạy ông, lạy ông, xin mở cửa cho chúng tôi vào” Nhưng chàng rể cho người đáp lại : “Không ! không, đêm tối tôi không biết các cô là ai”

  Nói tới đây, Chúa đã biểu lộ được ý tưởng của Ngài, là người ta không biết ngày nào giờ nào Ngài sẽ đến, cũng như người ta không biết được mình sẽ chết lúc nào. Bởi thế Ngài kết luận :

   --Vây các con phải tỉnh thức, vì các con không biết được ngày nào giờ nào Con Người sẽ đến.

  Cũng chưa xong, Chúa còn muốn nhấn mạnh về sự cần thiết phải tỉnh thức đề phòng nữa. Ngài phán :

    --Các con hãy sẵn sàng như những người đầy tớ đợi chủ nhà đi ăn cưới về lúc đêm khuya. Họ mặc áo thắt lưng và thắp đèn đợi sẵn. Họ làm mỗi người một việc chủ đã trao cho, và dặn người canh cổng tỉnh thức, để lúc nào chủ về nhà gõ cửa, phải mở ngay. Thầy bảo thật các con, phúc thay những người đầy tớ khi chủ về nhà thấy họ đang tỉnh thức và làm việc. Chủ nhà sẽ mãn nguyện và một điều rất lạ là người sẽ thắt lưng, bảo họ ngồi bàn ăn và sẽ giúp bàn ăn nữa, dù lúc đó là canh một hay canh ba. ( Ðiều rất lạ, vì theo thường lệ, chủ không tự hạ như thế. Nhưng ở đây Chúa muốn biểu dương lòng từ bi nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, một lòng từ bi vượt trí tưởng tượng của loài người.)

    Vậy các con hãy kiên nhẫn và sẵn sàng chờ đợi, vì các con không biết lúc nào chủ sẽ về. Các con không biết người về khi chiều tối hay lúc nửa đêm, khi gà gáy hay lúc tảng sáng. Các con hãy tỉnh thức, kẻo bất thần người đến mà thấy các con đang ngủ. Ðiều Thầy dặn các con đây, Thầy cũng bảo hết mọi người như thế “Hãy tỉnh thức.”

Các con hãy ngẫm nghĩ điều này : Nếu chủ biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn người sẽ tỉnh thức và không để cho trộm khoét ngạch vào nhà mình. Thế các con cũng vậy. Các con hãy sẵn sàng luôn luôn vì chính vào giờ các con không ngờ, Con Người sẽ đến.

Tính  Sổ  Trách  Nhiệm....

  Nghe Chúa giảng, ông Phêrô đã nhận định : tỉnh thức và đề phòng là việc tối hệ. Tuy nhiên muốn có một ý tưởng rõ ràng hơn nữa, ông hỏi Chúa :

    --Thưa Thầy, tỉ dụ “đầy tớ và gia chủ” lúc nãy phải hiểu về chúng con thôi, hay phải hiểu về hết mọi người trên thế giới nữa ?

  Chúa bảo ông : đã hẳn tỉ dụ đó phải hiểu biết về hết mọi người, nhưng đồng thời hiểu cách riêng về bậc các ông, vì các ông là những người hữu trách về Nước Trời, là những người Chúa đã đặt làm thủ lãnh của Giáo Hội. Ngài phán :

    --Con có biết định giá một người quản lý trung thành và khôn ngoan không ?.. Hãy tưởng tượng một người trung thành và khôn ngoan mà chủ đặt làm đầu để quản đốc các công việc, coi sóc các gia nhân và theo đúng thời giờ phân phát lương thực cho các chúng. Thật hạnh phúc thay viên quản lý ấy, lúc chủ về nhà mà bắt gặp người ấy đang làm việc cách trung thành và mẫn các ! Thầy bảo thật : Người ấy sẽ được chủ tín nhiệm và đặt làm quản lý tài sản của Ngài.

    --Trái lại, nếu người đó xấu nết và nghĩ bụng : Chủ tôi còn lâu lắm mới về, rồi hành hạ đầy tớ trai, đầy tớ gái và bắt đầu ăn uống chè chén với những phường say sưa, thì thật là khốn cho nó, vì chủ sẽ trở về ngày nó không ngờ, giờ nó không biết : Người sẽ phạt nó rất nặng, sẽ liệt nó vào những kẻ giả hình, kẻ bất tín, và nó sẽ phải khổ cực khóc lóc nghiến răng ! Thầy bảo thật : Ðầy tớ biết rõ ý chủ, mà nó chẳng sửa soạn gì, hay còn làm ngược ý chủ, nó sẽ phải phạt nặng. Cả những kẻ không biết ý chủ, nhưng a tùng với đứa xấu mà làm càn, cũng sẽ bị phạt, tuy dầu bị nhẹ hơn. Người nào được ban nhiều ơn, người ấy sẽ bị đòi nhiều và ai nhận điều ủy thác người đó cũng có trách nhiệm nhiều.

  Với những lời trên đây, quả Chúa đã nói khá rõ : Người đã trao cho loài người, mỗi người một sứ mạng trong đời sống và Ngài sẽ đến bất thần với sự chết, để phán xét từng người một. Bởi thế hết thảy phải khôn ngoan và trung thành, chớ có biếng lười hay ăn ở buông tuồng mà bị khổ. Nhưng nhất là các tông đồ càng phải trung thành và khôn ngoan hơn, vì các ông là nền tảng, là thủ lãnh Giáo Hội, có quyền và trách nhiệm quản trị các giáo hữu.

  Ý hệ trọng trên đây quả đã rõ rệt, nhưng Ngài muốn nó ăn sâu vào lòng các tông đồ hơn nữa, nên Chúa lại kể dụ ngôn :

    --Có một người giàu sang thuộc dòng quý phái : Ông dự bị trẩy đi xa để thụ phong vương chức. Trước khi lên đường, ông gọi các người thuộc hạ đến và ủy thác việc quản lý mọi tài sản cho họ, tùy theo khả năng của mỗi người. Ông trao cho người này, phần của đáng giá năm nén bạc, cho người kia phần của đáng giá hai nén, cho người thứ ba phần của đáng giá một nén, và cho những người khác cũng tùy theo tài của họ. Ông trao tài sản cho tất cả mười người để quản trị. Ông căn dặn họ rằng : Các người hãy cố gắng sinh lợi, đợi ta về. Sau đó ông trẩy đi xa....

    --Trong những ngày vắng chủ, người lãnh năm nén cố công sinh lợi và được lợi năm nén nữa. Người lãnh hai nén cũng sinh lời được hai nén. Còn tên lãnh một nén, hắn đi đào lỗ chôn dưới đất và giấu tiền ở đó. Hắn cho mình làm như thế là khôn, vì thấy nhiều người dân ghét chủ và trong ngày chủ lên đường, họ đã sai một phái đoàn theo sau chủ mà hô rằng “Chúng ta không muốn con người đó ngồi trên ngôi báu.”

    --Nhưng khỏi mấy tháng, chủ trở về. Ông đã được phong vương và được quyền cai trị cả nước. Một trong những việc thứ nhất của ông, là gọi các thuộc hạ đến và bắt họ tính sổ. Người đã lãnh năm nén tiền, lên dâng thêm năm nén khác và trình rằng : Bẩm Ngài, Ngài đã trao cho tôi năm nén, tôi đã sinh lợi được năm nén nữa. Ðây là mười nén. Tỏ bộ hài lòng, ông chủ ban khen : Hỡi người trung thành và lương thiện, anh đã trung tín trong những việc nhỏ, Ta sẽ đặt anh cai quản những việc lớn ; Anh sẽ cai trị mười thành và sẽ được chung hưởng vinh dự và hạnh phúc với chủ anh. Ðến lượt người lãnh hai nén cũng tiến lên và trình rằng : Bẩm Ngài, Ngài đã trao cho tôi hai nén, và đây tôi lại sinh lời được hai nén nữa. Chủ cũng vui mặt và đáp lại : Tốt lắm...Anh cũng là người trung thành và lương thiện. Anh đã tận tụy trong việc nhỏ, Ta sẽ trao cho anh những việc lớn.

Anh sẽ được cai trị năm thành và sẽ được vào nơi vui sướng với chủ anh.

    --Sau cùng đến lượt người lãnh một nén. Người này thưa rằng : Bẩm ông, đây là nén bạc của ông, tôi đã bọc trong chiếc khăn và chôn dưới đất. Tôi biết ông là người yêu sách, muốn đòi quá số đã gởi và muốn gặt cái không gieo. Bởi thế tôi đã giữ nguyên nén bạc của ông để trả lại. Bấy giờ chủ tỏ nỗi bất bình và trách hắn : Hỡi đứa biếng lười xấu nết, chính miệng ngươi đã kết án phạt ngươi ! Ngươi chủ trương rằng ta là người yêu sách, muốn đòi quá số đã gởi và muốn gặt cái không gieo ! Thế sao ngươi không gởi bạc của ta vào ngân hàng, để lúc về, ta có thể lấy cả vốn lẫn lời ? Trách mắng xong, chủ bảo đám thuộc hạ rằng : Hãy cất lấy nén bạc khỏi tay nó và trao cho người có mười nén.

    --Có người thưa lại : Bẩm chủ, nhưng người kia có mười nén bạc rồi ! Chủ đáp lại : Không sao, cứ việc trao cho người ấy. Ta bảo thật, đối với Ta. Ai có, người ấy càng được ban thêm và được dư dật. Trái lại, ai không có, cái nó có cũng sẽ bị cắt lấy....Hãy đuổi tên đầy tờ vô dụng ra khỏi nhà Ta, hãy ném nó vào nơi tối tăm đầy nghiến răng và khóc lóc. Cả những kẻ thù địch của Ta ngày trước, chúng không muốn Ta làm vua, hãy điệu chúng đến đây, hãy cắt cổ chúng trước mặt Ta, để chúng chịu phạt xứng đáng tội của chúng !

Cách  Thưởng  Công  Của  Nước  Trời....

    Trong các dụ ngôn Chúa kể, dụ ngôn  “đầy tớ trung thành và đầy tớ bất trung” đã gây một ảnh hưởng rất sâu xa trong tâm hồn các tông đồ và lớp dân chúng được nghe Ngài giảng. Nhiều người đã quyết định xét lại đời sống và cải tự quá tân.

  Tuy nhiên bọn Biệt Phái và Luật sĩ không thèm để ý đến lời của Chúa. Họ vẫn kiêu ngạo tự phụ, cho mình là thánh thiện và hoàn toàn, là bây tôi trung thành và khôn khéo nhất của Ðức Giavê, là lớp người ưu tú của một dân tộc đã nhận biết và phụng sự Ngài, trước các dân tộc khác. Nên cố nhiên, theo ý kiến của họ, Thiên Chúa phải dành cho họ một phần thưởng xứng đáng với địa vị và công nghiệp của họ.

  Thái độ và ý tưởng tự phụ đó thật đáng ghét. Nhưng tệ hại là không những Biệt Phái và Luật sĩ, mà nhiều người khác cũng tưởng lầm như vậy. Họ nghĩa “vào đạo trước là có công nhiều” nên không ra sức làm việc và nhiệt thành phụng sự Chúa. Bởi thế, Chúa lại kể dụ ngôn “người làm thuê” để dạy những sự thực tối hệ. Ngài phán :

    --Muốn hiểu rõ Nước Trời, các người hãy nghe tỉ dụ sau đây :

    --Một chủ nhà kia, lúc mới tảng sáng đã ra các ngã ba thuê thợ làm vườn nho cho mình. Ông mặc cả với họ với họ mỗi ngày một đồng bạc, rồi sai họ đi làm vườn nho.

    --Khoảng chín giờ, ông ra ngoài thấy một bọn người vẫn đứng ở chợ, chưa có việc làm. Ông bảo họ : “Các anh nữa, hãy đi làm vườn nho cho ta, rồi ta sẽ trả công xứng đáng.” Họ nhận lời và đi...

    --Khoảng giữa trưa và ba giờ chiều ông lại ra ngoài và cũng làm như vậy. Sau cùng khoảng năm giờ chiều, ông ra và cũng thấy một số người đứng nhàn rỗi. Ông hỏi họ, sao các anh đứng suốt ngày mà không làm việc ? Họ đáp : “Vì không ai thuê chúng tôi” Ông bảo họ : “Thế các anh nữa, hãy đi làm vườn nho cho ta”

    --Ðến tối, chủ vườn nho bảo người quản lý rằng : Hãy gọi thợ và trả công cho họ, bắt đầu từ người làm sau cùng cho đến người trước nhất.

   --Những người sau cùng tiến đến, và mỗi người được lãnh một đồng bạc. Họ bỡ ngỡ hết sức. Khi đến lượt những người trước hết. Họ tưởng mình sẽ được lãnh nhiều hơn, nhưng rồi cũng chỉ được lãnh mỗi người có một đồng bạc như các người khác. Nên họ vừa nhận vừa lẩm bẩm trách chủ nhà rằng : “Thế nào ? Những người này vào sau hết và chỉ làm có một giờ, thế mà ông trả cho họ cũng bằng chúng tôi, là những kẻ phải vất vả cả ngày dưới ánh nắng ư ?”

  Nhưng tính phân bì ghen tị không làm ông đổi thái độ. Ông trả lời cho một người nóng tính nhất trong bọn họ rằng : “Này anh, tôi không làm đều bất công cho anh đâu. Sáng nay, anh đã không mặc cả với tôi một đồng bạc sao ? Vậy anh hãy cầm lấy tiền công mà đi về. Tôi không có quyền cho người đến sau hết cũng bằng anh ư ? Hay là tôi không được làm theo ý muốn trong việc xử dụng tiền bạc của tôi ? Hay vì tôi quá tử tế mà con mắt anh hóa xấu ?”

  Kể dụ ngôn xong, Chúa kết luận :

    --Quả thực, những người rốt hết sẽ lên nhất, những người nhất sẽ nên sau rốt.

  Với dụ ngôn trên đây, quả Chúa khéo vạch rõ cách thưởng công ở trên Trời. Ðại ý của dụ ngôn : Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Thợ làm vườn là hết thảy mọi người ở thế gian. Vườn nho là Giáo Hội, là Tân quốc của Chúa Cứu thế. Chủ thuê thợ vào những giờ khác nhau, ám chỉ Chúa luôn luôn gọi người ta vào Giáo Hội, không cứ thời hạn nào ; Lúc nào trong đời người theo đạo Chúa cũng con kịp. Những người được gọi vào làm vườn trước tiên, chỉ những người Do Thái. Họ được phúc nhận biết Chúa trước mọi dân. Nhưng họ lại tự phụ và không nhiệt thành giữ đạo. Nên Chúa bảo họ : Nhiều khi những người tự coi mình là nhất, sẽ trở nên chót hết, và ngược lại. Vì biết đâu những người đến sau chẳng lập công, bằng hay hơn những người đến trước ? Bởi vậy điều cần vào Thiên Ðàng, là ở khiêm nhường, thi đua sốt sắng phụng vụ Chúa, và không bao giờ được tự đắc tự phụ.

Hỡi  Lagiarô  Hãy  Sống  Lại....

  Một ngày kia, đang khi Chúa giảng, có người hối hả chạy đến thưa Ngài rằng :

    --Bẩm Thầy, Lagiarô, người con yêu của Thầy đang ốm.

  Người đưa tin đó là người nhà của hai bà Matta và Maria Madalena. Hai bà này là chị em ruột, có một người em trai tên là Lagiarô, ở làng Betania cách Jêrusalem chừng 3 cây số.

  Từ lâu, Betania đã được Chúa chọn làm nơi lưu trú, và gia đình được phúc tiếp đón Ngài, chính là gia đình ông Lagiarô.

  Mỗi lần đi giảng giáo về, Chúa được gia dình này tiếp đãi cách ân cần và vồn vã. Bà Matta lo việc nấu nướng dọn cơm, ông Lagiarô ngồi hầu chuyện, bà Madalena lo việc dọn dẹp, rồi cùng với em là ông Lagiarô, ngồi nghe chúa kể hết chuyện này sang chuyện khác. Bà kính phục Chúa hết sức và nghe Ngài kể chuyện từng giờ mà không biết mỏi. Một lần kia có lẽ vì Chúa đến muộn, bà Matta phải tối mặt tối mũi làm cơm, thế mà Madalena cứ ngồi nghe không nhúc nhích, nên bà Matta đến thưa với Chúa rằng :

    --Lạy Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao ? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay !

  Ý bà Matta muốn mượn cớ kể công với Chúa, muốn Chúa nhận thấy bà vất vả để tiếp đón Ngài và phục vụ. Nhưng Chúa đáp lại :

    --Matta ! Matta, việc gì phải bối rối và lo lắng về nhiều việc quá. Chỉ một ít thôi cũng đủ. Maria đã chọn phần tốt nhất, ai lại cất mất phần của nó.

                                                               ***

   Câu chuyện trên đây đã tỏ ra giữa Chúa và gia đình Lagiarô có một mối tình đặc biệt. Gia đình này mến phục Chúa hết sức và cũng được Chúa yêu thương lại. Bởi thế, một ngày kia, đang lúc Chúa giảng ở Pêrêa, ông Lagiarô ở nhà bị cảm nặng, có thể nguy hại, bà Matta và Maria sai người đến báo tin cho Ngài rằng :

    --Lạy Thầy, người Thầy thương yêu đang bệnh nặng.

  Với những lời thân tình đó : “Người Thầy thương yêu bệnh nặng” hẳn là hai bà ngầm ý để Chúa đến ngay. Tuy nhiên, dầu có lòng thương yêu gia đình tử tế thánh thiện này,

Chúa cũng không đổi chương trình hành động. Ngài đáp lại người hai bà sai đến rằng :

    --Hãy về bảo hai bà đừng có bối rối. Bệnh này không đến nỗi chết đâu. Trái lại nó sẽ nên dịp làm rạng danh Thiên Chúa và vinh hiển cho Con Người.

  Thế rồi Ngài ở lại nơi đang giảng dạy hai ngày nữa. Sau đó Ngài mới bảo các tông đồ :

    --Chúng ta hãy trở về xứ Giuđêa.

  Nghe nói “về xứ Giuđêa” mấy tông đồ khiếp sợ thưa Ngài rằng :

    --Người Do Thái mới tìm ném đá Thầy mà Thầy còn muốn về đó ư ?...

  Chúa đáp lại, giọng Ngài xa xôi và lời lẽ khó hiểu :

    --Một ngày chẳng có mười hai giờ sao ? Nếu đi ban ngày, người ta không vấp, vì có ánh sáng dẫn đường. Trái lại nếu đi ban đêm, người ta sẽ vấp vì không còn ánh sáng nữa

  Rồi Ngài phán tiếp :

    --Bạn Lagiarô của chúng ta đang ngủ. Ta đi đánh thức.

  Nhưng từ lúc được tin ông Lagiarô ốm nặng, các tông đồ đã phỏng đoán ông bị cảm thương hàn, một bệnh dễ xảy ra trong miền nhiệt đới và rất nguy. Nên nghe Chúa nói ông đang ngủ, các tông đồ lại tưởng ông đã đỡ, vì ngủ được tức là dấu tốt, điềm may. Các ông liền thưa lại :

    --Bẩm Thầy, nếu ngủ được là dấu ông sắp khỏi bệnh.

  Bấy giờ Chúa nói rõ ông Lagiarô đã chết, chứ không phải ngủ thật. Ngài nói :

    --Lagiarô đã chết. Tuy nhiên, Thầy mừng vì đã không có mặt ở đó và vì đây là dịp tốt để củng cố lòng tin của các con...Thôi chúng ta đi để gặp ông.

  Thấy Chúa quyết định đi Jêrusalem, các tông đồ đều sợ, vì bọn Biệt Phái đã nhất định hại Ngài. Các ông ngại hết sức, nhưng cũng không thể để Ngài đi một mình. Bấy giờ ông Tôma biệt hiệu là Ðidimô, đứng ra giảng thuyết rằng :

    --Thôi chúng ta cùng đi và chết với Ngài !

  Thế là các ông cùng theo Chúa về Betania. Khi Chúa và các tông đồ tới Betania, người ta đã chôn ông Lagiarô được 4 ngày. Betania ở sát cạnh Jêrusalem, nên một số rất đông người ở Jêrusalem đến thăm và chia buồn với hai bà Matta và Maria. Ðang lúc họ an ủi hai bà thì Chúa đến. Bà Matta chạy ra đón Ngài ngay, còn bà Maria ở lại nhà tiếp khách...Bà Matta thưa với Chúa rằng :

    --Lạy Thầy, giá Thầy ở đây hẳn em con không chết. Nhưng con biết bây giờ Thầy muốn xin gì cùng Thiên Chúa, Ngài cũng nghe lời Thầy ngay.

  Chúa trả lời :

    --Ðừng buồn, em con sẽ sống lại.

  Bà Maria thưa :

    --Con biết nó sẽ sống lại....nhưng trong cuộc phục sinh ngày sau hết.

  Chúa phán bảo :

    --Matta ! Ta là nguồn sự sống và sự sống lại. Ai tin Ta, dầu chết rồi, cũng sẽ sống. Và hết mọi người sống mà tin Ta thì sẽ chẳng phải chết đời đời. Những điều đó Matta con có tin không ?

  Bà thưa :

    --Lạy Thầy ! Có, con tin Thầy là KiTô là Con Ðức Chúa Trời đã giáng thế.

  Nói xong, bà chạy vội về nhà để tìm em. Cả thân hình bà như biểu tượng một niềm hy vọng đang bốc cháy trong lòng. Bà ghe vào tai khẽ nói :

    --Thấy đã đến và muốn gặp em.

  Không thể giấu nổi cảm động, bà Maria vội vã đứng lên và chạy ra gặp Ngài. Những người Do Thái đến phân ưu thấy bà vội vã như thế, cũng theo bà, vì họ tưởng bà ra mồ để khóc.

  Bấy giờ Chúa hãy còn ở đầu làng, ở chỗ gặp bà Matta. Bà Maria đến đó, vừa trông thấy Ngài, liền sấp mình xuống dưới chân Ngài và thưa với Ngài như lời bà Matta mới nói :

    --Lạy Thầy, giá Thầy ở đây, hẳn em con không chết.

  Rồi bà khóc, những người Do Thái theo bà cũng khóc. Chúa Giêsu cảm động thương tình, lòng Ngài thổn thức, Ngài nhìn mọi người và phán :

    --Xác Lagiarô để ở đâu ?

  Họ giơ tay chỉ và thưa lại : Bẩm Thầy, ở chỗ kia, mời Thầy đến xem. Họ dẫn Chúa lại,

đến trước cửa mồ, Chúa cảm động ; Ngài khóc....

  Mấy người Do Thái nói với nhau : Kìa xem, Ngài yêu Lagiarô dường nào !...Mấy người khác nói chêm vào ; Thế nào...Ngài đã mở mắt cho người mù, bây giờ Ngài không làm được cho ông này khỏi chết ư ?

  Chúa lại càng cảm động. Nét buồn hiện rõ trên dung nhan Ngài. Ngài tiến sát cửa mồ.

Mồ là một hang nhỏ, có phiến đá đậy trên, có bậc thang đi xuống dưới, xác ông Lagiarô để trên một phiến đá nhẵn. Chúa bảo mấy người theo Ngài rằng :

    --Hãy lật phiến đá ra !

  Bà Matta vội vàng thưa lại :

    --Lạy Thầy, hẳn đã nặng hơi rồi, vì em con đã mất bốn hôm nay !

  Chúa đáp lại :

    --Ta đã chẳng bảo con, nếu con tin, con sẽ thấy sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời ư ?

  Lúc Chúa phán, hình dung Ngài đổi khác như báo hiệu một sự lạ sắp xảy tới. Người ta nhìn Ngài, vâng lời Ngài và lật phiến đá ra. Có mấy người toan lùi lại, tỏ bộ như sợ luồng chướng khí. Giữa lúc ấy, Chúa ngửa mặt lên trời cầu nguyện với Ðức Chúa Cha :

    --Lạy Cha. Con đội ơn Cha vì Cha đã nghe lời Con. Riêng Con, Con biết Cha vẫn nghe lời Con luôn. Nhưng vì lũ đông ở quanh đây mà Con đã nói thế để họ tin rằng Cha đã sai Con.

  Cầu nguyện xong, Ngài kêu một tiếng rất mạnh :

    --Lagiarô hãy ra ngoài !

  Thoát chốc ông Lagiarô sống lại....Thân hình ông động cựa trong bóng tối lờ mờ, chân tay hãy còn quấn những khăn liệm, cả mặt cũng còn che khăn. Mọi người đều kinh hoàng, mắt mở to và nín thở !...Chúa lại phán :

    --Hãy cởi các khăn ra để ông ta đi.

  Người ta vâng lời ngay và ông Lagiarô vui vẻ bước ra khỏi mồ với Chúa....

  Sau phép lạ vĩ đại này, rất nhiều người đã mạnh dạn đi theo Chúa. Nhưng cũng có nhiều kẻ còn nghi ngờ. Lại có người đi tìm bọn Biệt Phái và thuật lại cho họ nghe việc Chúa mới làm, khiến họ càng ngày càng thù ghét Chúa .

Những  Lẽ  Giả  Mạo....

  Phép lạ Chúa khiến ông Lagiarô sống lại đã làm tụi Biệt Phái bực tức đến điên người. Họ nhất định, chấm dứt tính mạng Ngài bằng đủ mọi cách. Bởi thế họ dự định tìm các Thượng tế và thúc đẩy bọn này lên án tử hình Ngài. Do họ vận động, một hội đồng đặc biệt đã được nhóm họp để xử việc Chúa. Hội đồng gồm toàn những người bất mãn và thù hằn, đó là các Thượng tế, Trưởng tế, Biệt phái và Kỳ lão.

  Trong hội đồng, Biệt Phái đã co ágắng hoạt động theo lập trường sau đây : Buộc tội Chúa là tay cách mạng, hơn nữa, một tay phiến loạn rất nguy. Tuy Ngài chưa có bạo động chính trị, nhưng rồi đây....Và có lẽ trong dịp lễ Vượt Qua sắp đến này....Ngài sẽ đi tới chỗ đó. Bởi vậy, Ngài đã xưng mình là Chúa Cứu Thế, đã chiêu tập đồng chí và đi khắp mọi nơi để gây thế lực trong dân. Ý định của Ngài đã rõ rệt, nên cần phải xử trí ngay. Mới đây mấy người xứ Galilêa chỉ biểu tình một chút trong Ðền thờ mà bọn ngoại bang đã hành hung một cách vô cùng tàn nhẫn. Thì lần này nếu có phiến loạn do Ngài cầm đầu, có các đồng đảng của Ngài và dân chúng ủng hộ, hẳn tụi ngoại bang càng thẳng tay hơn. Chúng sẽ đem quân từ La Mã đến, sẽ đốt phá Thánh đường, sát hại lương dân, bãi bỏ quyền sống của dân tộc và sát nhập cả nước vào đế quốc La Mã. Bấy giờ những đặc ân của tôn giáo cũng không còn, và địa vị của Thượng tế cũng biến mất.

  Tóm lại họ đã thảo luận lâu giờ và một cách hệ trọng về những điểm này : Chúng ta phải làm gì ngay bây giờ ?Người đó đã làm nhiều phép lạ lắm. Nếu chúng ta cứ để mặc y chiêu tập đồng chí và nổi loạn, hẳn dân chúng sẽ hùa theo, và đoàn quân La Mã sẽ đến để diệt trừ, sẽ đốt phá Thánh đường và làm chúng ta mất nước.

  Những lý lẽ đó tuy là giả mạo, nhưng đã được ông Caipha là vị Thượng tế và chủ tịch của hội đồng cho là rất phải. Ông đứng lên và dõng dạc tuyên bố :

   --A ! Các ông không biết phải làm gì ư ?...Nhưng thật là rất giản dị. Các ông chẳng thấy rằng : Một người chết thay cho cả dân lại không lợi hơn là để cả dân tộc bị tiêu diệt ư ?  ( Tuy nhiên ông nói điều đó không phải tự ý mình. Nhưng là thầy Thượng tế tại chức, ông đã vô tình nói một lời tiên tri quan hệ rằng : Chúa Giêsu phải chịu chết cho dân Ngài, nhưng dân đó không phải là một dân Do Thái đâu, mà là tất cả các dân, vì Ngài chịu chết để đưa tất cả con cái Ðức Chúa Trời về một khối.)   Nghe ông tuyên bố như thế, mọi hội viên cùng hiểu là phải giết Chúa và họ cùng biểu đồng tình lập cách bắt và lên án Ngài. Nhiều người trong bọn họ còn muốn giết cả ông Lagiarô nữa, vì họ thấy dân tin ông đó sống lại, và do vậy, số những kẻ theo Chúa mỗi ngày một thêm nhiều.

  Cũng vì thế, sau ngày có hội đồng bất chính này, Chúa không ra mặt công khai nữa, Ngài lánh đi một nơi xa hoang tịch ở thành Ephrem, cách jêrusalem chừng 20 cây số, vả lưu lại ở đây với các tông đồ. Trong khi đó tuần đại lễ Vượt Qua sắp đến. Từng đoàn người ở khắp nơi kéo về Jêrusalem để mừng lễ và thanh tẩy tâm hồn. Họ đi tìm Chúa ở mọi nơi trong Ðền thánh và kháo láo với nhau :

    --Ông nghĩ gì về Ngài ?  Ngài có đến dự lễ không ?...

  Họ kháo láo thế vì các Trưởng tế và Biệt Phái đã ra lệnh cho ai nấy phải khám phá ra chổ ẩn của Ngài và phải tố giác để họ bắt Ngài cho bằng được....

Ba  Mẹ  Con  Giêbêđê....

   Chúa Giêsu ở Ephrem mãi gần đến lễ Vượt Qua mới lên Jêrusalem. Lần này Chúa về đó để dự lễ phần sau hết trong đời Ngài.

   Ngài đi trước các tông đồ theo sau. Ði được một quãng, Ngài dừng bước gọi các tông đồ lại chung quanh Ngài. Nét mặt của Ngài có vẻ vừa cương quyết vừa lo ngại khiến các tông đồ rất bỡ ngỡ. Các ông sợ và tiên đoán có điều gì không hay sắp xảy đến. Các ông đăm đăm nhìn Ngài, tâm hồn bồi hồi cảm động. Các ông lại càng cảm động khi thấy Ngài biểu lộ những cử chỉ vô cùng thân mật và dốc hết bầu tâm sự với các ông. Ngài tỏ cho các ông những việc sẽ xảy đến một cách bi đát cho Ngài. Ngài kể những việc đó cách tỉ mỉ như câu chuyện đã qua. Ðây là đại cương lời Ngài nói :

    --Mọi điều các tiên tri đã chép về Con Người sắp được hoàn toàn ứng nghiệm. Này chúng ta lên Jerusalem và Người sẽ bị nộp cho các Trưởng tế và Luật sĩ. Con Người sẽ bị kết án tử hình, rồi sẽ bị nộp cho dân ngoại giáo, để chịu họ nhạo báng sỉ nhục, nhỏ bọt vào mặt, chịu họ đánh đòn và đóng đinh vào khổ giá. Nhưng ngày thứ ba Con Người sẽ sống lại.

  Tuy nhiên các tông đồ lúc bấy giờ không hiểu, và vẫn cho đó là những lời bí ẩn, chứa đựng một ý nghĩa sâu xa !... Một lát sau. Ngài lại phán :

    --Thầy đến để gieo lửa nhiệt ái trên mặt đất, và Thầy mong ước biết bao cho lửa đó chày bùng lên ! Nhưng cho được thế. Thầy cần phải dìm mình trong đau khổ đã ! Thầy còn phải lo lắng rất nhiều cho đến khi công cuộc được hoàn tất.

 Nhưng Chúa chưa kịp dứt lời, thì một bà già kia đã dẫn hai con đến bên Ngài. Bà quì xuống lạy Ngài và xin cho hai con một đặc ân.

  Bà đó chính là Salômê, mẹ ông Giacôbê và Gioan (hai ông này là con ông Giêbêđê)  Bà có họ với Chúa, bà đã từng dâng tiền bào việc giảng đạo, nhất là đã lo cho hai con theo làm tông đồ của Chúa, và cũng chính bà đã giúp việc nấu ăn hay may vá cho các tông đồ. Hai con bà vẫn có một ước vọng thầm kín là được ngồi hai bên Chúa, nghĩa là một địa vị cao trọng trong nước Ngài lập. Tuy nhiên hai ông còn ngại chưa dám nói với Chúa. Hai ông chỉ tỏ cho mẹ biết để bà tìm cách vận động. Ðược con cho biết ý kiến, bà Salômê liền đặc biệt lưu tâm. Bởi vậy hôm nay bà đã đưa hai con đến. Bà quì xuống lạy Chúa. Và đúng như lời mẹ đã dặn, hai ông trình với Ngài rằng :

    --Lạy Thầy ! Xin thầy hãy hứa trước sẽ ban điều chúng con sắp xin Thầy.

  Nhưng không ưa lối mánh lới ấy, Chúa đáp lại :

    --Các con muốn xin Thầy làm gì cho các con ?...

  Rồi quay sang bà Salômê, Chúa phán hỏi :

    --Bà muốn xin gì ?

  Bà thưa lại :

    --Xin Thầy cho hai con tôi, một đứa ngồi bên phải của Thầy, một đứa ngồi bên trái của Thầy, trong nước Thầy sẽ lập.

  Hai ông Giacôbê và Gioan cũng nói thêm :

    --Vâng ! Trong ngày Thầy khải hoàn vinh hiển.

  Chúa trả lời :

    --Các con không biết điều các con xin, chén “khổ nhục” Thầy sẽ uống, các con có uống được không ?

  Hai ông thưa :

    --Chúng con uống được...

  Chúa phán :

    --Quả thực, chén “khổ nhục” Thầy phải uống, các con cũng sẽ uống ! ( Chúa muốn nói :

Hai ông cũng sẽ phải khổ nhục với Ngài ; và quả thực, về sau ông Giacôbê đã bị chém đời Agippa và ông Gioan bị tù đày ở đảo Pátmô. Và viết sách Khải Huyền. ) Nhưng còn việc ngồi bên phải hay bên trái của Thầy, không phải tự Thầy cho các con được. Ðó là đặc ân đặt dưới quyền của Ðức Chúa Cha. Ngài sẽ ban cho những ai tùy thánh ý của Ngài.

  Nghe biết tham vọng đó, mười tông đồ kia tức giận Giacôbê và Gioan. Nên Chúa lại gọi các ông đến để nhắc lại bài học khiêm nhường và hy sinh. Ngài phán :

    --Các con biết rằng : Vua chúa thường dùng sức mạnh và uy quyền để cai trị dân, cũng như thường lấy thế lực bắt người ta gọi mình là Phụ mậu của dân . Nhưng phần các con, các con không được làm thế. Trái lại ai muốn làm thủ lãnh, muốn điều khiển, người ấy phải trở nên đầy tớ, sẵn lòng làm nô lệ cho mọi người. Các con phải khiêm nhường và hy sinh. Chính Con Người là gương sáng, là bài học sống động để các con noi theo. Thế mà Con Người đã không đến để được phụng sự, nhưng là để phụng sự và hy sinh tính mạng làm giá chuộc cho loài người !...

 Trèo  Lên Cây  Ðể  Xem  Ngài....

    Trên đường về Jêrusakem, Chúa Giêsu đi qua thành Giêricô. Lúc Ngài vào một phố có nhiều cây đẹp, dân chúng kéo nhau ra xem chật ních hai bên đường.

 Trong số những người đi xem hôm ấy, có ông Giakêu là một nhà phú hộ, đứng đầu bọn thu thuế địa phương. Ðã từ lâu ông ao ước được gặp Chúa. nên hôm ấy, ông tìm cách để được thấy Ngài. Nhưng làm thế nào được, vì ông thấp bé và dân chúng lại vây quanh Chúa rất đông ! Bí thế, ông phải trèo lên một cây sung ở bên vệ đường chờ đợi.

  Mấy phút sau, Chúa đi ngang qua chỗ đó. Ngài ngước mắt lên nhìn ông mà phán :

    --Giakêu ! hãy xuống mau. Hôm nay Ta sẽ lại nhà ông .

  Ông Giakêu hơi hổ thẹn, vì thấy nhiều người cùng ngước mắt lên nhìn, nhưng ông cũng rất sung sướng được Chúa sắp đến thăm. Ông liền vội tuột xuống khỏi cây sung và vui vẻ chạy về nhà lo việc tiếp đón Chúa. Mấy giờ sau Chúa lại nhà, Chúa tỏ cử chỉ thân mật yêu thương. Nhưng nhiều người lại khó chịu về cử chỉ đó. Họ lẩm bẩm trách Chúa :

    --Ngài vào nhà một người bất lương như thế đó !

  Họ cho ông Giakêu là người bất lương, vì ông làm nghề thu thuế, một nghề dễ đưa người ta đến chỗ bất công và tàn bạo. Nhưng họ có biết đâu ông đã được Chúa cho ơn hối cải. Bởi thế Chúa đã không ngại đến nhà ông. Cũng bởi thế nữa, nên một lúc sau, ông đã khiêm tốn đứng thú lỗi trước mặt mọi người, và xin Chúa chứng nhận lòng hối lỗi của ông. Ông thưa với Ngài rằng :

    --Lạy Thầy, này đây tôi xin bố thí những người nghèo khổ nửa phần tài sản của tôi. Và nếu tôi đã làm thiệt hại ai phần nào, tôi xin đền họ gấp bốn.

  Tấm lòng thành thực biết nhận lỗi đó làm Chúa hài lòng. Ngài mỉm cười chúc phúc và ban lời tưởng lệ ông :

    --Quả thực hôm nay ơn Cứu rỗi đã xuống trên nhà này. Giakêu đã xứng đáng là miêu duệ ông Abraham. Và quả thực Con Người đã đến tìm, cùng cứu vãn những cái đã mất.

( Người Do Thái đã coi ông Giakêu như một người ngoại giáo, một người tội lỗi. Nên những tiếng miêu duệ con cái ông “Abraham” quả có một ý nghĩa rất an ủi và vinh dự cho ông.)

Bẻ  Cổ   Bình  Ðể

XỨC  DẦU  THƠM  CHO  CHÚA....

  Bỏ thành Giêricô, Chúa Giêsu vào trú tại làng Betania để sửa soạn ngày khải hoàn vào Thành Thánh.

  Phép lạ ông Lagiarô chết bốn ngày sống lại làm sôi nổi dư luận các miền chung quanh, nên được tin Chúa về Betania, người ta nô nức ra đón chào Ngài. Cũng ở Betania, có một người tên là Simôn, trước kia mắc chứng tật phong và đã được Chúa chữa khỏi, mời Chúa đến nhà dự tiệc. Trong số những khách được mời, cũng có cả ông Lagiarô, một người mới sống lại, khiến mọi người phải chú ý.

  Nhưng chợt lại xảy ra một việc khác khiến mọi người phải chú ý hơn. Ðó là việc bà Maria Madalena bẻ cổ bình bạch ngọc để đổ dầu thơm trên đầu Chúa. Baø này là chị ông Lagiarô, rất có lòng yêu mến Chúa. Ðang lúc Ngài dự tiệc, bà đem đến một bình bạch ngọc chứa độ ba trăm gram dầu cam tùng, một thứ thổ sản rất quý ở Ấn Ðộ và miền Hy mã lạp sơn. Bà lén bước lại gần Chúa, bẻ cổ chiếc bình và đổ cả khối dầu thơm quí giá đó trên đầu và trên chân Chúa, rồi lấy tóc lau những giọt dầu chảy ra ngoài, khiến cả nhà cũng sực mùi thơm và làm mọi người bỡ ngỡ. Xức dầu thơm cho khách là tục phổ thông của người Do Thái. Nên người ta không bỡ ngỡ về việc xức dầu, nhưng bỡ ngỡ về việc bà Madalena quá phí phạm. Bà đổ một số lượng dầu quí giá  và bẻ cổ một chiếc bình bạch ngọc ! Thế mà nguyên số dầu thôi đã đáng giá ba trăm đồng tức là số tiền người thợ góp nhặt được trong một năm ! Bởi thế, các tông đồ tỏ bộ tiếc của, và có mấy ông lẩm bẩm rằng :

   --Sao lại phí của như vậy !?..

  Còn chính Giuđa Ítcarô, kẻ sẽ nộp Chúa, ra mặt trách mắng rằng :

    --Sao lại phí phạm đến thế ? Dầu này có thể đem bán được hơn ba trăm đồng và phân phát cho người nghèo !

  Y nói thế, nhưng vì y là tên ăn cắp ; được giữ túi tiền chung và quen thói bớt xén những của người ta dâng cúng. Y mượn cớ bác ái để che dấu lòng hà tiện tham lam. Hiểu rõ thâm ý của Giuđa như vậy, Chúa liền quay nhìn vào bào chữa cho Mađalena, Ngài bảo các tông đồ :

    --Ðừng làm phiền bà ấy làm chi. Bà ấy vừa làm cho Thầy một việc tốt. Vì người nghèo ư ? Những người ấy, các con có sẵn luôn luôn, và lúc nào muốn, các con cũng có thể giúp họ được. Còn Thầy, các con không có mãi đâu. Bà ấy đã làm một việc bà có thể. Thầy bảo thật : Xức dầu thơm cho Thầy, tức là bà dự bị việc mai táng cho Thầy vậy. Thầy quả quyết với các con, Phúc Âm này rao giảng ở phần nào trên thế giới, ở đó người ta sẽ thuật lại và ghi nhớ việc bà đã làm cho Thầy.

  Lời Chúa phán trên đây, quả đã ứng nghiệm. Hơn hai mươi thế kỷ nay, cử chỉ và việc làm của bà Madalena hằng được thuật lại và ghi nhớ mãi..