Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 10

 Ta  Là  Ánh  Sáng  Thế  Gian...

    Chiều hôm ấy là cuối tuần Lễ Trại, dân chúng tập hợp nhau quanh những ngọn đèn sáng trong Ðền thờ. Họ tổ chức những cuộc rước đèn, múa nhảy và vui ca.

  Nhưng riêng tụi Biệt Phái, sau mấy cuộc đấu khẩu thất bại, đã đâm ra nghĩ ngợi ưu tư, họ giận hết sức, vì dân chúng theo Ngài mỗi lúc mỗi đông và đang lao nhao tìm Ngài trong cả Thánh đường. Bây giờ cơn giận của họ càng sôi lên hơn, vì kìa Ngài đang ở giữa đám đông người và hình ảnh Ngài đã trở nên đích ngưỡng mộ của từng nghìn cặp mắt. Họ hậm hực và chỉ muốn diệt Ngài ngay, nhưng còn sợ....

  Phần Chúa, Chúa cũng biết tụi Biệt Phái đang tìm cách hại Ngài, nhưng Ngài vẫn thản nhiên, nhìn vào dân chúng, Ngài thấy họ đang vui vẻ trong khu Thánh đường đầy ánh sáng, nhưng linh hồn họ u minh tăm tối. Họ chưa biết rõ Chúa Cứu Thế là Aùnh Sáng siêu nhiên đã xuất hiện ở cõi trần. Ngài động lòng thương họ và thấy cần phải mạc khải cho họ chính Ánh Sáng đưa tới hạnh phúc đích thực, nên Ngài bước lên nơi cao và tuyên bố:

   --Ta là Ánh Sáng thế gian. Ai theo Ta, người ấy không đi trong tăm tối, nhưng sẽ được sáng và được hướng dẫn đường đời.

  Nghe lời đó, bọn Biệt Phái hiểu ngay Ngài muốn xưng mình là Chúa Cứu Thế, vì theo lời tiên tri dạy ( Lời tiên tri Isaia) Chúa Cứu Thế là Ánh Sáng thế gian. Họ cho là Ngài quá bạo lời và phản đối lại:

    --Ông đã lỗi lời . Ông tự làm chứng cho mình, chứng đó đáng ai tin?

  Chúa đáp lại:

    --Quả thực, nếu chỉ có Ta làm chứng cho Ta, các người có chỗ mà phản đối. Nhưng có một vị khác đã làm chứng về Ta, và chứng đó rất thật. Các người hãy nhớ lại, các người đã phái những ủy viên đến với ông Gioan Tẩy Giả, vì các người coi Gioan Tẩy Giả như một hải đăng chiếu sáng để hướng dẫn các người. Thế chính Gioan đã làm chứng về Ta.

Kế đến, Ta còn có chứng mạnh hơn chứng của Gioan nữa. Ðó là những phép lạ Cha Ta đã cho Ta làm. Quả thực, Cha Ta đã làm chứng về Ta qua những phép lạ đó. Sau nữa, giả thử chỉ có Ta tự làm chứng cho Ta, chứng của Ta vẫn thật và vẫn đáng tin, vì Ta biết mình bởi đâu mà đến và sẽ đi đâu.

  Lời Ngài muốn nói: Chứng của Ngài rất đáng tin vì những lẽ: Thứ nhất vì không phải có một mình Ngài làm chứng cho Ngài, nhưng có cả Gioan Tẩy Giả làm chứng nữa. Thứ hai nói theo pháp lý, cần phải có hơn một người làm chứng mới có giá trị, nhưng về phương diện tiên tri lại khác. Tiên tri là sứ giả của Chúa Trời, có quyền vượt trên khả năng của loài người, nên chẳng ai trong loài người có đủ thẩm quyền làm chứng cho tiên tri. Vì thế các tiên tri đã phải làm phép lạ để làm chứng chức vụ của mình, chức vụ làm sứ thần Thiên Chúa. Vậy Ðức Giêsu đã làm biết bao nhiêu phép lạ để minh chứng cho Ngài rồi. Như thế chứng của Ngài chẳng đáng tin sao? Hơn nữa chính Cha Ngài là Nguyên thủy và Cứu cánh của Ngài, do vậy Ngài biết mình bởi đâu mà đến và sẽ đi đâu. Vậy bằng ấy chứng vĩ đại không đủ chứng thực sứ mạng của Ngài ư?

  Chúa còn phán tiếp:

    --Ta biết Ta bởi đâu mà đến và sẽ đi đâu. Nhưng các người chẳng biết được thế. Các người chỉ biết xét đoán theo xác thịt, theo hình thức của pháp lý. Còn phần Ta, Ta không thế. Nhưng nếu Ta phải xét đoán, sự xét đoán của Ta rất công bình, vì không phải một mình Ta xét đoán, nhưng Ðấng đã sai Ta cùng xét đoán với Ta. Ấy vậy trong luật các người có chép rằng: Hai người làm chứng là chứng thật. Thế trong trường hợp của Ta, chính Ta làm chứng cho Ta và Cha Ta cũng làm chứng cho Ta nữa. Vậy chứng đó chẳng đáng tin sao?

  Nghe Ngài nói tiếng “Cha Ta” mãi, mấy người Biệt Phái hỏi rằng:

    --Cha ông ở đâu?

  Chúa đáp:

    --Nhưng các người có nhận biết Ngài đâu, cũng như các người chẳng nhận biết Ta nữa

Vì các người có nhận biết Ta, hẳn các người cũng nhận biết Cha Ta....

  Quả thật cả buổi tối hôm nay, một buổi tối sáng rực bởi muôn ngọn đèn chói lói. Chúa đã thuyết giảng một chân lý rất cao xa. Ngài thuyết giảng một cách rất rõ rệt và hiên ngang trong chính nơi gần Kho Bạc của Thánh đường. Ngài thuyết giảng trước mặt toàn dân, và trước mặt của bọn đối phương ghê gớm. Tuy nhiên giờ của Ngài chư đến, nên chẳng ai dám bắt Ngài. Trái lại nhiều người trong dân còn tin Ngài là khác nửa.

Ðiều  Kiện  Làm  Môn  Ðệ....

  Sau tuần Lễ Trại, Chúa Giêsu bỏ thành Jêrusalem và đi giảng ở xứ Giuđêa. Bấy giờ danh tiếng Chúa đã lừng lẫy khắp nơi, nên có nhiều người đến xin làm môn đệ.

  Một hôm Chúa đang đi đường với một đoàn tín hữu rất đông, chợt có một Luật sĩ đến trình Ngài rằng:

    --Lạy Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin theo Thầy.

  Tuy thuộc phe Biệt Phái, nhưng nhà Luật sĩ này là một người thông thái, tính tình cao thượng, thẳng thắn đơn sơ và nhiệt thành. Ông tin chắc Chúa là vị Cứu Thế của muôn dân, nên ông đã tự nguyện xin làm môn đệ của Ngài mà không đòi điều kiện. Cử chỉ của ông làm Chúa rất vui lòng và làm cho đám dân theo Ngài rất cảm kích. Nên Chúa nhận lời ông. Nhưng ông đã quen sống trong cảnh dễ dàng sung túc, nhà cửa lịch sự, nên Chúa khuyên dụ ông phải nên tập đời sống khổ hạnh, dẫu không có nơi ăn chỗ ở tử tế và phải trôi dạt nay đây mai đó cũng phải vui vẻ hy sinh. Ngài phán:

    --Nhưng Ta nói trước cho con hay: Con cáo có hang, con chim có tổ, nhưng Con Người không có chỗ để tựa đầu.

  Ði ít bước nữa, Chúa lại gặp một thanh niên cũng muốn theo Ngài. Chúa nhìn yêu và phán:

    --Hãy theo Ta.

  Nhưng người thanh niên đó ngập ngừng rồi thưa lại:

    --Lạy Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã.

  Thanh niên đó thưa như vậy, nhưng có lẽ sự thực cha anh chưa chết, vì anh còn muốn ở lại gia đình để coi sóc cha cho hết tuổi già, để lo xong việc tống táng đã rồi sẽ theo sau. Ý muốn của anh thật là hiếu nghĩa và rất chính đáng. Tuy nhiên cũng có những trường hợp có thể giao việc đó cho người khác được và phải theo ơn Thiên triệu ngay kẻo gia đình sẽ làm trở ngại, nhất là lúc việc truyền đạo đang khẩn cấp. Nên Chúa dạy:

    --Không! Hãy để cho người chết chôn cất những người chết của họ. Còn phần con, hãy theo Ta ngay. Hãy đi giảng Tin Mừng của Nước Chúa.

  Cũng lúc ấy, một người khác nữa đến thưa với Chúa rằng:

    --Lạy Thầy, tôi muốn đi theo Thầy. Nhưng xin Thầy cho phép tôi về từ biệt gia quyến của tôi trước đã.

  Người thứ ba này coi bộ thật thà nhưng do dự. Chúa biết rõ nếu để anh ta về, hẳn tình thương nồng nhiệt của gia đình sẽ làm anh ta hết nghị lực và ý chí. Nên Ngài dạy anh ta phải theo ngay. Nhân thấy một người đang cày ruộng ở bên đường. Chúa mượn đó một tỷ dụ để phán dạy:

    --Người nào bắt tay cầm cày mà cứ còn trông lại đàng sau, người đó không thể làm việc của Nước Trời được.

    Những lời Chúa phán với ba người trên đây, đã tỏ rõ cái tinh thần cao cả các tông đồ của Ngài phải có. Tinh thần đó đòi nhiều hy sinh thật, nhưng ảnh hưởng của Chúa đã ăn sâu vào lòng người. Nên dầu biết sẽ phải chịu những hy sinh rất lớn, số người xin theo làm môn đệ Ngài càng thêm đông và dân chúng ngưỡng mộ Ngài, theo Ngài từng đoàn từng lũ. Thấy đó là cơ hội tốt để tuyên bố một điều kiện thiết cần cho những người muốn theo đạo lý của Ngài, trong trường hợp nghĩa vụ tôn giáo và gia đình va chạm nhau. Chúa quay nhìn mọi người và phán bảo:

    --Ai muốn theo Ta mà không quý Ta hơn cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả tánh mạng nữa, người đó không thể làm môn đệ của Ta và chẳng xứng với Ta. Các người chớ nghĩ rằng theo Ta là sống bình tĩnh và ăn của ngọt. Không đâu. Ta đã xuống trần để chiến đấu. Ta đã mang đến một thanh gươm. Nên vì Ta, những phần tử trong gia đình sẽ phân ly nhau, ba người sẽ chia rẽ với hai người, hai người sẽ đối nghịch với ba người ; chia rẽ giữa cha với con trai, giữa mẹ với con gái, giữa mẹ chồng với con dâu. Phải, chính vì Ta người ta sẽ gặp thấy đối phương ngay trong gia đình mình. Vậy các người hãy nhận định rõ, hãy suy nghĩ nhiều, đừng ảo tưởng, đừng bồng bột. Các người muốn xây một cột tháp ư? Các người phải bắt đầu trù liệu các phí tổn và tính xem có đủ tài lực để hoàn thành không? Chẳng vậy lúc đặt chân móng rồi mà không thể hoàn thành, các người sẽ bị người ta chế diễu: Kìa có kẻ đã khởi sự xây mà không thể làm trọn việc!...

  Vậy các người hãy nghĩ kỹ.... Các người hãy tưởng tượng, có một ông vua nào phải tuyên chiến với một ông vua khác, mà không khởi sự ngồi bàn tính, xem mười ngàn quân của mình có thể đương đầu với một đối phương có hai mươi ngàn quân không? Hẳn là ông vua đó phải bàn tính rất kỹ. Vì nếu thấy mình yếu và đối phương hãy còn ở xa, hẳn ông sẽ sai sứ giả đi cầu hòa. Vậy các người hãy nghĩ kỹ. Ai trong các người muốn làm môn đệ của Ta, người ấy phải sẵn sàng từ bỏ những cái làm cho lòng mình còn vấn vương. Người ấy phải bền chí kiên gan, phải chấp nhận mọi hy sinh, nếu cần, phải đặt tôn giáo lên trên gia đình, Thiên Chúa lên trên tính mạng, có thế mới mới không bán đồ nhi phế và mới xứng làm môn đệ của Ta.

Bảy  Mươi  Hai  Môn  Ðệ....

   Tuy Chúa đòi các người muốn theo Ngài những điều kiện hy sinh rất khó, nhưng số người đó vẫn gia tăng. Kết quả ấy làm Chúa hả dạ và một ngày kia, biết rõ tâm hướng của họ, Chúa chọn lấy bảy mươi hai người làm môn đệ, để cùng với 12 Tông Ðồ đi giảng giáo ở khắp xứ Giuđêa.

  Chúa sai các ông  ấy đi từng hai người một vào các thị trấn và các làng mạc mà Ngài sẽ thân hành đên. Chúa cũng ban cho các ông ấy nhiều huấn dụ cùng quyền làm phép lạ như trước kia Ngài đã ban cho các tông đồ khi con ở xứ Galilêa. Qua được mấy tuần, các ông trở về báo cáo những kết quả thu lượm được. Các ông sung sướng vì đã chữa được nhiều bệnh tật. Nhất là các ông ngạc nhiên vì chữa được cả những người bị quỷ ám. Các ông thưa với Chúa rằng:

    --Lạy Thầy, khi chúng con nhân danh Thầy truyền lệnh, cả những quỷ dữ cũng tuân phục chúng con.

  Chúa tán thưởng:

    --Phải! Thầy đã thấy Satan tự trời rơi xuống như tia chớp. Thầy đã ban cho các con được quyền bước trên rắn rết và bọ cạp... Các con  đã mạnh thế hơn địch thù, và không có gì phải sợ nữa.

  Nhưng Chúa cũng không quên nhắc các ông bài học khiêm nhường: Chớ tự phụ vì quỷ thần đã lụy phục, nhưng phải đội ơn Ðức Chúa Cha, Ðấng đã ban những đặc quyền và sẽ trọng thưởng ở trên thiên quốc.

  Chúa phán tiếp:

    --Tuy nhiên, các con đừng kiêu hãnh vì quỷ thần đã lụy phục các con, nhưng các con hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên Thiên quốc.

  Nói tới đây Chúa cũng mừng vì trong cuộc giáp chiến đầu tiên với đoàn môn đệ của Ngài, quỷ dữ đã bị bại và Nước Trời đã có kết quả đẹp đẽ ngay từ  bước sơ khai, nên Ngài ca ngợi Ðức Chúa Cha đã cho cả những người quê kệch dốt nát biết đạo lý của Ngài và mạc khải thêm về Ngài nữa. Ngài tán tụng Ðức Chúa Cha:

    --Lạy Cha là Chúa tể của trời đất, Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu những điều đó với những kẻ tự coi mình là thông minh tài giỏi và đã tỏ ra cho những người bé nhỏ...

Vâng , lạy Cha, và đó là ý muốn của Cha.

  Rồi Ngài nhìn đoàn môn đệ và dân chúng mới đến và mạc khải về Ngài:

   --Cha Ta đã trao cho Ta mọi sự, Ngài nhận biết Ta và chỉ có Ngài biết Ta một cách hoàn toàn, cũng như chỉ có Ta là Con Ngài biết Ngài một cách hoàn toàn, và những kẻ được Con Người mạc khải cho. A! Thật hạnh phúc cho các con, vì các con đã được nghe và xem, chính những việc các tiên tri và nhiều người đạo đức ước ao nghe và xem mà không được.

  Trong đám dân mới đến, một số đông thuộc giới cần lao. Họ là những người bị ách sinh kế đè nặng trên vai, và hằng ngày phải gò lưng xuống đất cũng chưa tìm đủ lương ăn. Thế mà bọn Biệt Phái còn muốn làm cho ách nặng của họ càng nặng thêm, muốn bịa đặt ra từng nghìn thứ thủ tục phiền phức khiến cho đời sống tôn giáo không thể thực hiện. Nên Ngài thương hại số phận của đám dân, Ngài ban lời an ủi và dạy họ phải theo Ngài để tìm ra con đường sống:

    --Hỡi các con, những người phải vất vả và vác gánh nặng, các con hết thảy hãy đến với Ta. Ta sẽ bổ sức lại cho...Hãy mang ách của Ta trên mình và hãy làm môn đệ của Ta vì Ta là người khiêm nhường và hiền hậu. Ách của Ta êm ái và gánh của Ta nhẹ nhàng. Ta sẽ làm cho linh hồn của các con an nghỉ.

 Hai  Giới  Răn  Là  Một

NGƯỜI  THÂN  CẬN  CỦA  TA....

   Một ngày kia dân chúng theo Chúa đi về phía đông thành Jêrusalem, một vùng núi cao, có thể trông thấy lưu vực sông Jordan và mấy thành phố nhỏ, nhất là thành Giêricô một thị trường rất thịnh vượng. Khoảng giữa đường từ Jêrusalem đến Giêricô có một nơi nguy hiểm, hành khách dễ gặp nạn. Nơi đó hay có những tên cường bạo đón đường cướp bóc. Vì thế để tránh họa, hành khách thường tổ chức đi từng đoàn mới vững chắc.

  Hôm ấy Chúa đã lên đường được một lúc lâu. Ngài yên lặng như đang bận tâm về một ý nghĩ, mặc dầu dân chúng nhao nhao bàn tán với nhau. Bỗng nhiên một Luật sĩ đến hỏi Ngài:

    --Lạy Thầy, tôi phải làm gì để được sống vĩnh viễn ở bên kia thế giới?

  Chúa hỏi lại:

    --Thế trong luật dạy làm sao? Ông đọc thấy điều gì?

  Ông ta thưa:

    --Con hãy kính mến Thiên Chúa của con, hết lòng, hết linh hồn và hết sức con.

  Chúa đáp lại:

    --Phải lắm  Ðó là giới răn thứ Nhất, nhưng cũng còn giới răn thứ Hai nữa, giới răn rằng: Con hãy yêu người thân cận của con như chính mình con, và đó cũng là giới răn quan trọng.

  Luật sĩ xác nhận:

    Vâng! Thưa Thầy, đúng thế! Vừa phải kính mến Chúa hết lòng hết sức, hết trí khôn, vừa phải yêu người thân cận như mình vậy. Và điều đó còn trọng hơn cả những lễ vật và hy sinh.

  Chúa áp dụng:

    --Ông thưa phải lắm. Thế ông hãy làm như vậy và ông sẽ được sống vĩnh viễn. Ông đang ở trong con đường đưa lên Nước Trời.

  Nhưng muốn chữa thẹn, ông ta lại thưa với Chúa:

    --Lạy Thầy, nhưng ai là người thân cận của tôi?

  Chúa biết, theo thuyết chủng tộc của Do Thái, người thân cận chỉ là dòng dõi ông Abraham, còn ngoài ra toàn là người ngoại, người thù địch. Vì thế họ có bổn phận phải ghét những người ngoại ấy, Chúa muốn đánh đổ chủ nghĩa độc ác đó, nên nhân dịp tiện

Ngài kể một dụ ngôn để giảng cho viên Luật sĩ biết, người thân cận không phải chỉ là con cháu Abraham, nhưng là hết thảy những ai cần ta giúp đỡ, không phân biệt chủng tộc hay địa vị, không phân biệt phong tục hay tôn giáo. Ngài kể dụ ngôn:

    --“Có một hành khách bỏ Jêrusalem xuống Giêricô, dọc đường ông bị sa vào tay bọn cướp. Bọn này bóc lột và đánh đập ông tàn nhẫn rồi bỏ đi, để ông nửa sống nửa chết ở giữa đường. Bấy giờ có một trưởng tế đi qua đường đó. Nhưng trông thấy người bị nạn, thầy thản nhiên đi qua. Tiếp đến một thầy phụ tế của Thánh đương cũng đi qua đó. Thầy này trông thấy người bất hạnh và cũng đi qua. Sau cùng có một người thuộc xứ Samaria, một người bị khai trừ khỏi chủng tộc Do Thái, cũng đi qua nơi xảy ra tai nạn. Người này vừa trông thấy người mắc nạn liền động lòng thương. Ông xuống lừa, lại gần an ủi và đổ dầu lẫn rượu vào các chỗ bị đánh đập, rồi băng bó cho thương nhân và vực nạn nhân lên lưng lừa, đưa vào hàng quán và săn sóc. Sáng hôm sau ông lấy trong bao ra hai đồng bạc trao cho chủ quán và dặn rằng: Xin ông săn sóc người này, phí tổn thêm bao nhiêu nữa, lúc trở về tôi sẽ hoàn lại cho ông. Dặn xong, ông từ biệt nạn nhân và chủ quán, rồi lại lên đường.”

  Kể dụ ngôn xong, Chúa nhìn viên Luật sĩ và hỏi:

    --Thế trong truyện người ngộ nạn này, ông nghĩ ai trong ba người hành khách biệt nhận ra người thân cận của mình hơn?

  Luật sĩ thưa:

    --Cố nhiên là người biết thương kẻ ngộ nạn.

  Thấy viên Luật sĩ đã nhận ra ý Ngài, nghĩa là người thân cận là hết thảy những ai cần sự giúp đỡ, không phân biệt quốc tịch và nòi giống, không phân biệt chủ nghĩa và màu da. Chúa vui mừng nhìn viên Luật sĩ và thân mật bảo ông:

    --Thế ông hãy về thi hành như vậy.

Cách  Thức  Cầu  Nguyện...

     Từ ngày được theo hầu Chúa, các tông đồ thấy Ngài cầu nguyện luôn luôn. Nhiều lúc đang khi cầu nguyện nét mặt Ngài tỏa sáng tâm hồn Ngài dường như bay về một thế giới khác, một thế giới mầu nhiệm xa xôi. Thấy thế các ông muốn học cách Ngài cầu nguyện. Một ngày kia, vừa lúc cầu nguyện xong, các ông cùng đến bên Ngài và một ông mạnh bạo thưa Ngài rằng:

    --Thưa Thầy , xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện như ông Gioan đã dạy các môn đệ của ông.

  Chúa tỏ vẻ ưng thuận lời xin đó lắm. Ngài vui mặt và phán bảo:

    --Khi cầu nguyện, các con đừng kể lể như thói người ngoại giáo. Họ nghĩ rằng cần phải nhiều lời mới được chấp nhận. Nhưng các con chớ bắt chước họ, vì Cha các con đã biết trước các con cần gì.

  Ý Chúa muốn dạy: Người ngoại giáo chỉ nghĩ đến hình thức bên ngoài thôi. Họ lầm tưởng phải nói nhiều mới được việc, nói nhiều dường như một nguyên nhân sinh công hiệu. Nhưng các con đừng lầm tưởng thế. Cầu nguyện tệ hại nhất là ở lòng thành thật và tin cậy kính mến. Nhưng tâm tình này sâu xa nồng nhiệt, lời kinh càng dễ được chấp nhận. Vậy khi cầu nguyện các con hãy tận tình tín nhiệm vào Cha của các con. Ðấng đã biết trước mọi sự.

  Chúa lại cũng biết, khi cầu nguyện, người ta thường hay xin ơn nọ ơn kia và rất ít nghĩ đến vinh danh và công việc của Chúa. Xin ơn, đành là một điều tốt thật, nhưng nó cũng có tính cách vị kỷ làm cho người ta dần dần chỉ nghĩ đến mình và không lo đến việc của Chúa. Ðó là một thái độ thiếu cao thượng và ít đẹp đẽ. Vì thế Chúa lại dạy các tông đồ một thể thức cầu nguyện, một thể thức rất ý nghĩa, nâng linh hồn lên cao, để người ta nghĩ đến Chúa trước rồi trình bày những nhu cầu sau .

  Chúa dạy các tông đồ cầu nguyện rằng:

   --“Lạy Cha chúng con là Ðấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển

   --Triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

   --Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày

   --Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.

   --Xin đừng để chúng con xa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.”

            (Mathêu: 6: 9 – 13)

  Thế là Chúa đã dạy các tông đồ – và qua các tông đồ, tất cả các giáo hữu...một lối cầu nguyện theo hai quan niệm sau đây:

  Quan niệm thứ nhất: Phải xin cho thánh danh Thiên Chúa được thiên hạ nhận biết mến yêu và phụng sự, phải xin cho Nước Cha  tức là Uy quyền của Chúa hay là Giáo Hội Ngài sẽ lập được lan rộng khắp nơi., được thống trị trong cả thế giới nhất là trong các linh hồn ; phải xin cho thánh ý Cha được mọi người ở dưới đất tuân phục cách hoàn hảo cũng như các thánh ở trên trời hằng tuân phục.

  Quan niệm thứ hai: Sau khi hướng lòng về Chúa, người ta có thể xin ơn nọ ơn kia cho mình theo thứ tự như sau: Xin cho được đủ của để nuôi mình hằng ngày ; xin Chúa tha nợ tội lỗi, cái nợ tội lỗi đã làm phiền lòng Chúa ; xin Chúa cứu khỏi những chước cám dỗ bất kỳ bởi đâu và cả những sự dữ, những tai ương ở trần gian nữa.

  Hai quan niệm ở trên đây phải luôn luôn được di dưỡng bằng những tâm tình tin cậy yêu mến của người con đối với người Cha. Nên người cầu nguyện phải coi Thiên Chúa là Cha, một người Cha trên hết các người Cha. Vì thế để làm sống lại những tâm tình đó, mỗi người khi cầu nguyện, người ta phải kính cẩn và vui mừng đọc lên những lời rất ý nghĩa:  “Lạy Cha chúng con ở trên trời.......”

  Ngoài hai điều kiện rất cần cho việc cầu nguyện như đã nói trên, lại còn một điều khẩn thiết nữa, ấy là phải kiên tâm nhẫn nại và chờ đợi, đừng có nản lòng, đừng có nóng nảy bắt Chúa phải nhận lời ngay. Nên Chúa lại mượn mấy dụ ngôn nữa để chỉ dạy. Ngài phán:

    --Và nữa, các con xử trí thế nào với bạn hữu của các con? Giả thử nửa đêm người nọ đến nói với người kia rằng: Bạn ơi cho tôi vay ba tấm bánh, tôi có người quen mới tới nhà, mà không có gì thiết đãi cả. Nếu người kia ở trong nhà đáp lại: Ðừng làm rầy tôi cửa đóng rồi, con cái của tôi đã vào giường với tôi, tôi không có thể dậy để làm theo ý muốn của anh, xin anh miễn cho. Nhưng người bạn cứ đứng lỳ ở ngoài cổng, cứ kêu ca. Lúc ấy các con nghĩ phải xử trí cách nào? Thầy bảo thật các con, lúc ấy người ta không muốn giúp tình bạn hữu, người ta cũng phải dậy và đem bánh ra cho, kẻo cứ bị quấy rầy và mất cả ngủ.

  Các tông đồ phì cười cho là rất phải. Chúa kể luôn một dụ ngôn vắn nữa:

    --Các con hãy nghe câu chuyện nhỏ này: Trong thành kia, có một quan án tham tàn, không đếm xỉa đến lề luật và tín ngưỡng. Cũng trong thành ấy lại có một bà quả phụ. Bà này đến thưa với ông rằng: Xin ngài biện hộ cho tôi, vì tôi bị kẻ thù truy tố. Một thời gian lâu, quan án kia không chấp nhận và không muốn nghe gì nữa. Nhưng bà quả phụ cứ kêu ca không ngừng, cứ nhai đi nhai lại một điều nài nẵng mãi. Sau cùng quan án kia ngán quá. Ông tự nhủ: Con mẹ này làm ta loạn cả óc vì chuyện của nó. Thôi, đành rằng ta không sợ Chúa Trời và bất cần đến pháp lý, nhưng ít ra ta cũng phải giúp và xử việc nó cho xong, kẻo nó cứ quấy mãi, cứ lai nhai làm điếc cả tai.

  Chúa kết luận:

    --Vậy các con hãy nhận xét lối lập luận của viên quan án. Các con không tin rằng Thiên Chúa là Ðấng rất nhân từ sẽ nhận lời những kẻ nghĩa thiết đêm ngày hằng khẩn nguyện Ngài ư? Thầy bảo các con, chắc chắn Ngài sẽ nhận một cách mau chóng. Vậy các con hãy kiên tâm bền chí trong lời cầu nguyện. Hãy xin thì sẽ được ; hãy tìm thì sẽ thấy ; hãy gõ thì cửa sẽ mở. Bởi vì ai xin người ấy sẽ được, ai tìm người ấy sẽ thấy ; ai gõ cửa, cửa sẽ mở ra. Tóm lại cần phải cầu nguyện luôn luôn. Kìa trong các con có người cha nào, khi con xin bánh, lại ném cho cục đá ư? Hay nó xin con cá, lại cho nó con rắn thay vì con cá? Hoặc nó xin quả trứng, lại cho nó con bọ cạp sao?  Thật không thể thế được. Vậy nếu các con dầu là những người độc ác đi nữa, cũng còn biết cho con cái của các con những sự lành, thì phương chi Cha của các con Ðấng ngự ở trên trời, Ðấng chí thiện, chí mỹ, càng biết ban cho các con những sự các con cần đến. Vậy các con hãy cầu xin, cầu xin với một lòng tín nhiệm, tín nhiệm của người con đối với người Cha Chí Thánh và vô cùng quảng độ.

  Sau cùng, người cầu nguyện phải ở khiêm nhường trước mặt Chúa phải cậy nhờ vào lòng quảng độ của Chúa, chứ đừng cậy vào công nghiệp của mình, đừng cho mình là đạo đức đáng được Chúa nghe, và đừng khinh chê người khác, cho dầu đối với con mắt thế gian, người đó bị coi là người tội lỗi. Thế nhưng cái lối kiêu hãnh “cậy công mình và khinh dể người khác” đó. Chúa thấy ở nơi nhiều người, nhất là nơi các Trưởng tế và Biệt Phái. Nên trước khi kết thúc bài dạy về cách thức cầu nguyện, Chúa còn kể lại cho các tông đồ một truyện sau đây:

    --Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người Biệt Phái và một người thu thuế. Người Biệt Phái y phục lịch sự, tiến lên gần Cung thánh, đứng thẳng người và hiên ngang, thỉnh thoảng trông lại đàng sau xem có ai để ý đến cách trang nghiêm bệ vệ và tín mộ của mình không? Hắn cầu nguyện với Chúa những lời sau đây: Lạy Chúa, Ðấng chí cao! Tôi tán tạ Chúa về sự tôi không phải như những người khác ; họ là những người trộm cướp, bất công và tà dâm....nhất là tôi không phải như người thu thuế đứng dưới kia chẳng hạn. Tuy luật chỉ buộc ăn chay mấy ngày trong một năm, nhưng tôi giữ chay một tuần hai lần, và hết thảy những cái tôi tậu được, tôi dâng một phần mười vào Ðền thánh.

Trong khi đó, người thu thuế đứng ở cuối Ðền thờ, không dám ngửa mặt nhìn lên, khiêm nhường đấm ngực và cầu nguyện: Lạy Chúa, Ðấng chí cao, xin đoái thương tôi, xin tha thứ cho tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi khốn nạn.....

  Kể xong chuyện, Chúa kết luận:

    --Ta bảo thật các con, khi nguyện xong trở về nhà, người thu thuế đã được thánh hóa hơn người Biệt Phái kia. Vì ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống. Và ai tự hạ mình xuống, sẽ được tôn lên. Các con hãy nhận định, Thiên Chúa chẳng mắc nợ với ai. Nên các con hành động có kết quả đến đâu cũng chỉ là làm việc bổn phận. Các con hãy giả thử, ai trong các con có người đầy tớ giúp việc. Khi đứa đầy tớ đó đi cày bừa, hay đi chăn súc vật về, theo tục lệ, các con có phải bảo nó rằng: Nhanh lên, đến ngồi bàn mà ăn không?

Hẳn là không. Trái lại phải chăng các con sẽ bảo nó rằng: Hãy dọn cho ta ăn bữa tối, hãy thắt lưng và giúp ta ăn xong đã, rồi ngươi sẽ ăn sau? Và trong trường hợp người đầy tớ làm theo lệnh của chủ như vậy, người chủ có mang ơn gì với đầy tớ không? Hẳn cũng không. Vậy các con cũng thế, khi các con đã chu toàn mọi bổn phận của các con rồi, các con cũng hãy nói: Chúng tôi chỉ là đầy tớ của Ðức Chúa Trời, chúng tôi chỉ đã làm việc phận sự của chúng tôi.

   --Hỡi các con, các con hãy ở khiêm nhường, luôn luôn coi mình là đầy tớ vô ích. Các con có ở khiêm nhường, lời cầu khẩn của các con mới dễ được chấp nhận. Các con cũng ghi lòng tạc dạ điều này: Khi nào các con hợp nhau đông người mà cầu nguyện, mà xin với Chúa Cha một ơn gì, chắc chắn Người sẽ ban. Bởi vì ở đâu có hai hay ba người nhân danh Thầy mà họp lại, Thầy sẽ ở nơi đó, sẽ ở giữa họ, và Cha Thầy sẽ ban phát mọi ơn..

 

 Một  Tội  Khó  Ðược  Tha....

  Một ngày kia, người ta đem đến cho Chúa một người bị tà thần ám ảnh và vừa mù vừa câm. Tình cảnh khốn nạn của người này làm Chúa cảm động. Ngài giơ tay trừ quỷ, làm cho người kia thấy rõ và nói được ngay. Phép lạ uy hùng và tức khắc đó làm dân chúng sửng sốt quá, họ nhiệt liệt ca ngợi Chúa và bảo nhau rằng: Thật chưa hề thấy sự lạ thế trong dân tốc Israel! Giêsu hẳn phải là con vua Ðavít là vị Cứu Thế thiên hạ đợi trông.

  Nhưng từ sau tuần lễ trại đến giờ, bọn Biệt Phái đã thâm thù với Chúa. Ngài đi đâu, họ sai một số Luật sĩ lợi hại theo dõi ở đó để phá ảnh hưởng của Ngài. nên hôm nay đang lúc dân chúng nhiệt liệt ca tụng Chúa, họ đã công khai ra mặt chỉ trích Ngài, họ nói to cho cả dân nghe:

    --Có gì lạ đâu mà phải bỡ ngỡ với ca tụng!. . . . Ông ta đã làm gì để trừ quỷ, chúng tôi biết cả rồi. Ông ta bị quỷ tướng là Beelzebul ám, rồi ông ta nhờ quỷ tướng đó mà trừ các quỷ...

  Lời phản bác của bọn Biệt Phái có một ý nghĩa rất lợi hại. Beelzebub là Thần Ruồi của dân ngoại giáo, những người Do Thái đã mỉa mai gọi trại là Beelzebul, nghĩa là “thần của đống phân” Vậy nói “ông ta bị Beelzebul ám” tức là ném vào mặt Chúa một lời thóa mạ quá thô lỗ. Và sự thực một hiệu quả rõ rệt, là sau lời thô lỗ đó, cả dân chúng sững sờ im lặng, không ai dám nói nữa. Nhưng Chúa đã thấu rõ ác ý của bọn Biệt Phái, và đã nghe lọt những lời quá thô lỗ của họ. Ngài bộc lộ bằng những lời đanh thép sau đây:

    --Các người hãy giải thích cho Ta nghe, tại sao Satan lại có thể trừ được Satan. Ta bảo thật, nước nào nội bộ chia rẽ, nước đó sẽ bị diệt vong. Thành nào có nội loạn, những nhà trong thành ấy sẽ làm mồi cho lửa chiến tranh, cái này sẽ sụp đổ trên cái nọ. Và gia đình nào thiếu hòa khí bên trong, những phần tử của gia đình ấy sẽ chia rẽ. Vậy nếu Satan tự nó phản mình và chia rẽ, nước nó còn đứng vững và tồn tại làm sao được?......

Các người bảo ta nhờ Beelzebul mà trừ quỷ! Nói thế thực là bậy! Thế ta hỏi các người, những con cái của dân tộc các người nhờ ai mà trừ quỷ .. ( Chúa nói thế, vì Trưởng tế cũng đọc kinh và dâng lễ vật để trừ quỷ và một đôi khi cũng làm bớt phần nào ảnh hưởng của tà thần.)

Vì thế Ta bảo thật, chính con cái các người sẽ làm quan tòa xét xử các người...Các người phải nhận xét và phục thiện chứ! Nếu Ta nhờ Ngón Tay Thiên Chúa và Thần Lực của Ngài mà trừ quỷ, thì đó là dấu hiệu quyền thống trị của Chúa Trời đã đến tận giữa các người rồi....Các người xét nghĩ: Khi người ta khỏe mạnh và có vũ khí hẳn hòi để giữ nhà tài sản của họ sẽ được bảo đảm. Nhưng nếu có một người khác mạnh hơn, đến bất thình lình và thắng được họ, hẳn người khác đó sẽ trói họ lại, rồi sẽ cướp vũ khí của họ, sẽ chiếm đoạt tài sản của họ và mang đi. Vậy Ta trừ được quỷ dữ và diệt được ảnh hưởng của nó thế nào, nếu Ta không mạnh hơn nó và thắng nổi nó. Ta bảo thật, Ta đã thắng. Và ai muốn thắng phải cộng tác với Ta, vì ai không về bên Ta, người ấy phản nghịch với Ta, và ai không hành động với Ta, người ấy không thâu được kết quả của mình.

  Chúa càng phê phán, tội của Biệt Phái càng rõ rệt là quái ác và đáng phạt. Tội của họ là cố ý mù quáng, cố ý phủ nhận sự thật, cố ý cho điều Thiện lá Ác điều Ác là Thiện, cố ý cho phép lạ Chúa mới làm là việc của Beelzebul. Ðó thật là tội phạm tới Chúa Thánh Thần, một thứ tội hầu như không thể tha thứ được. Nên Chúa lại phán:

    --Quả thực, Ta bảo các người: Hết mọi tội, kể cả những tội lộng ngôn phạm đến Con Người cũng sẽ được tha. Nhưng tội phạm đến Chúa Thánh Thần, sẽ chẳng được tha. Người phạm tội đó, sẽ bị án phạt đời đời, vì họ không chịu mở cửa lòng để hối lỗi ăn năn

  Sau cùng để, để kết thúc, Chúa kể một dụ ngôn ám chỉ về dân Do Thái, một dân càng ngày càng lâm cảnh khốn nạn bởi những kẻ cầm đầu đã cố tình mù quáng. Ý chính của dụ ngôn là ví dân Do Thái như tòa nhà bị quỷ chiếm cứ. Ðã có lần quỷ bị đuổi. Cái lần ấy là ngày giờ Chúa đến cứu chuộc, xua trừ các quỷ. Nhưng bọn Do Thái không tin Chúa Giêsu, không muốn giữ đạo của Ngài, nên quỷ lại trở về với nhiều (bảy) quỷ khác để chiếm lại, và phen này tòa nhà đó càng khốn nạn hơn, nghĩa là dân Do Thái sau Chúa càng khổ cực hơn trước.

  Chúa kể:

    --Khi ác thần ra khỏi người kia, nó đi lang thang khắp nơi hoang vắng. Nó đi tìm chỗ nghỉ mà không tìm được. Bấy giờ nó tự nhủ: ta sẽ trở lại nơi ta đã ở. Nó trở lại thật và thấy nhà cũ bỏ không, sạch sẽ và trang hoàng lịch sự. Nó liền đi tìm bảy quỷ dữ khác dữ hơn nó. Rồi chúng ập vào nhà chiếm cứ, làm cho người kia càng bị khốn nạn hơn xưa!

  Chúa nhìn về Biệt Phái và kết luận:

    --Ấy lớp người độc dữ này cũng bị số phận như vậy!

  Lời Chúa kết luận làm đối phương phẫn uất hết sức. Nhưng họ chịu cắn răng không đáp lại được. Còn dân chúng như cảm thấy mình được Chúa thương tình bào chữa, họ lại phấn khởi nhiệt liệt hoan hô Ngài. Trong những tiếng hoan hô đó, người ta nghe rõ tiếng khen ngây thơ của một thiếu phụ rằng:

    --Phúc thay dạ cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú mớm.

  Lời khen ngây thơ đó nhắc Chúa nhớ tới Mẹ Ngài và làm hiện lộ trên mặt Ngài một vẻ cảm động kính yêu. Tuy nhiên lời khen đó còn thiếu sót, vì Ngài biết Mẹ Ngài thực đáng khen bởi đã ở trọn lành và tin phục thánh ý Chúa hơn là bởi sinh ra Ngài. Nên vẫn với nét mặt cảm động, giọng Ngài càng cảm động hơn, Ngài phán:

    --“Những kẻ nghe và vâng lời Ðức Chúa Trời càng có phúc hơn.”

 Ngài  Nặng  Lời  Trách  Ðối  Phương...

    Bọn Biệt Phái tức bực và tìm cách hại Chúa. Tuy nhiên không phải hết mọi người Biệt Phái đều như vậy, vì cũng có người có thiện cảm với Chúa.

  Một ngày kia, khi Chúa giảng dạy xong, một người Biệt Phái mời Chúa về dùng bữa ăn trưa tại gia đình. Chúa nhận lời đến và đã ngồi ăn. Nhưng Ngài không giữ thủ tục “rửa tay” trước khi ăn. Nên chủ nhà và những khách ăn tỏ vẻ bỡ ngỡ....Thấy vậy Chúa liền mượn dịp, nói đến sự trong sạch bên trong cần hơn bên ngoài, và giảng về bổn phận phải chú trọng đến sự khiết tịnh của tâm hồn hơn đến sự khiết tịnh của thể xác.

  Chúa phán:

    --Ngày các người Biệt Phái! Các người quả các người chú trọng đến việc lau chùi chén đĩa mà không để ý xem của ăn ở trong đĩa có phải là của cướp hoặc gian tham khộng? Hay hoặc rượu trong cốc có làm cho người uống phải say không? Thế mà việc để ý đến những cái bên trong ấy mới là thiết yếu. Các người chỉ nhìn cái mặt ngoài! Ðáng tiếc! Cái bên trong, cái tâm hồn mới thực là quan hệ chứ. Ðấng đã làm sự bên ngoài lại chẳng làm sự bên trong ư? Quả thực Thiên Chúa coi những tâm hướng linh hồn trọng hơn sự khiết tịnh của chén đĩa. Hãy làm phúc những cái bên trong chén đĩa thì mọi sự sẽ nên trong sạch.

  Mấy người Biệt Phái lẩm bẩm làm Chúa càng phải nói mạnh. Ngài mắng họ:

    --Hỡi Biệt Phái, thật tội nghiệp các người! Các người nộp đủ phần mười bạc hà, hồi hương và hương thảo vào Ðền thánh. Nhưng các người đã quên điều quan hệ là đức công bình và tình yêu Thiên Chúa. Những giới răn trọng nhất trong Lề Luật như Mến Chúa, Yêu Người, các người đã bỏ quên! Các người đã chú trọng đến những cái tầm phào nhỏ mọn, như lọc một con ruồi ra khỏi ly nước, nhưng các người lại nuốt con lạc đà ấy là bỏ qua những bổn phận tối hệ.

    Hỡi Biệt Phái, thật tội nghiệp các người! Các người giống như mồ mả quét vôi trắng, bề ngoài có vẻ đẹp, nhưng ở trong đầy xương người chết và mọi giống nhớp nhơ. Quả vậy bề ngoài đối với người ta, các người có vẻ đạo đức thánh thiện, nhưng kỳ trung, các người giả hình gian dối.

    --Hỡi Biệt Phái, thật tội nghiệp các người! Các người xây bia để kỷ niệm các tiên tri, các người hiển dương công nghiệp của các thánh chịu tử đạo. Các người làm như thế để nói rằng: Nếu ta sống vào đời cha ông ta, hẳn ta đã chẳng hùa theo họ mà giết các vị đó. Nhưng một trật với các người cũng tự nhận là con cháu những người đã giết các tiên tri, và các người còn mưu định phạm một gớm ghê hơn tội giết các tiên tri nữa. ( Chúa nói ám chỉ về tội họ định giết Ngài là Chúa các tiên tri) Thật các người sẽ đổ đầy tràn cái lường tội lỗi của cha ông các người. Và quả thật, Ðấng biết mọi sự  đã nói rất đúng về các người:

“Ta sai nhiều tiên tri và môn đệ đến với chúng, nhưng trong số những sứ giả đó, người bị chúng giết, người bị chúng đóng đinh, người bị chúng bách hại! Một ngày kia chúng sẽ phải thưa lại về máu vô tội đã đổ tràn ra ở dưới đất, từ máu ông Abel cho đến máu ông Giacaria mà chúng đã giết giữa Cung thánh và bàn thờ. Và Ta quyết với các người tất cả những điều ấy sẽ xảy đến.”

 Nghe Chúa mắng trách Biệt Phái, mấy người Luật sĩ muốn phản kháng lại. Dè đâu họ cũng bị Ngài nặng lời quở mắng nữa. Nét mặt Ngài càng nghiêm khắc và giọng Ngài thẳng nhặt như giọng quan tòa đọc bản cáo trạng tội lỗi của Luật sĩ và Biệt Phái. Vẫn giọng đanh thép, Ngài khiển trách họ:

    --Hỡi những Luật sĩ, khốn nạn cho các người nữa! Các người chất những gánh nặng không thể vác được lên vai người khác, còn chính các người, các người không muốn động đến bằng đầu ngón tay! Các người giữ chìa khóa lề luật cho các người và chận lối vào Nước Trời trước mặt các người khác. Các người không vào nước đó, và các người cũng chẳng muốn cho ai vào nữa. Hỡi Luật sĩ và Biệt Phái giả hình! Khốn nạn cho các người!

  Chúa phải mắng họ thế, vì sự thực họ đã bịa đặt những nghi thức làm biến thể cả Chúa, làm đảo lộn cả tinh thần lề luật, và làm mất cả tình yêu đối với Chúa cùng đối với người đồng loại. Những nghi thức ấy rất nhiều, rất vụn vặt và vô cùng phức tạp không ai có thể giữ nổi. Nên Chúa đã gọi những nghi thức ấy là những gánh nặng không thể vác được và tố cáo họ là những kẻ cản đường vào Nước Chúa, là những kẻ giả hình, bám riết vào cái vỏ tôn giáo để mưu sinh.

  Ðang khi Chúa khiển trách Biệt Phái và Luật sĩ, dân chúng đến nghe Ngài mỗi lúc mỗi đông, họ chen chúc nhau xô đẩy để lại được gần Ngài, và họ sung sướng vì thấy Ngài can đảm quở mắng một bọn đối phương rất có thế lực, hay lên mặt khinh thị và ức hiếp dân. Nhân dịp đó, Chúa cũng bảo cho dân phải đề phòng trước cái họa giả hình đầy xảo trá của Luật sĩ và Biệt Phái. Ngài nói:

    --Luật sĩ và Biệt Phái là những người thay thế ông Môi Sen để dạy Luật và Tôn giáo, vậy các điều họ dạy, các người hãy nghe theo, nhưng đừng bắt chước việc của họ, vì họ không hành động theo điều họ nói. Họ là những kẻ giả hình, chỉ cốt sao được người ta chú ý. Họ thích mặc áo thụng dài và mang tua thật rộng cho người ta xem. Họ thích đi lại ngoài đường phố để được người ta chào. Trong những đám tiệc, họ ưa chuộng chỗ ngồi cao, cũng như trong các hội đường, họ thích những ghế nhất và muốn được mọi người xưng tụng là “Tôn Sư”. Họ còn giả cách đọc kinh lâu, để hòng nuốt cả tài sản của những người đàn bà góa. Nhưng thật khốn cho họ, họ sẽ bị án phạt rất khủng khiếp!

  Càng nói đến tội của đối phương, Chúa càng thấy cần phải can đảm để tố giác những tật xấu của họ để dân thấy rõ và xa tránh. Ngài nhìn thẳng vào đối phương và mắng:

    --Hỡi Luật sĩ và Biệt Phái, khốn nạn cho các người! Các người không ngại chạy khắp trên đất dưới biển để khuyên một người ngoại giáo tin theo đạo. Nhưng lúc nó đã theo rồi, các người lại dùng đảng phái làm cho nó trở nên con cái hỏa ngục và xấu gấp hai các người!

    --Khốn cho các người là những kẻ hướng đạo mù tối! Các người bảo: Ai chỉ Cung thánh mà thề, thì không hệ ; nhưng ai chỉ vàng ở Cung thánh mà thề, thì phải giữ. Ôi ngu dại và tối tăm chưa! Cái nào trọng hơn? Vàng hay Cung thánh là cái làm cho vàng nên thánh? Các người bảo rằng: Ai chỉ bàn thờ mà thề, thì không hệ ; nhưng ai chỉ của lễ ở trên Bàn thờ mà thề, thì phải giữ. Ôi mù quáng chưa! Cái nào trọng hơn? Của lễ hay bàn thờ là cái làm cho của lễ nên thánh? Ta bảo thật: Hễ ai chỉ Bàn thờ mà thề, là chỉ cả Bàn thờ, cả mọi cái để trên Bàn thờ mà thề ; cũng như ai chỉ Cung thánh mà thề là chỉ cả Cung thánh cả Ðấng ngự ở đó mà thề. Lời thề đó đều phải giữ. Cũng thế nữa: Ai chỉ trời mà thề là chỉ tòa Thiên Chúa, chỉ Ðấng ngự trên ấy mà thề. Lời thề đó cũng phải giữ, vì nó nhận Thiên Chúa là vị chứng giám.

  Ðể kết thúc, Ngài mắng họ một câu vô cùng nặng nữa:

    --Hỡi loài rắn độc! Như vậy các ngươi có thể  thoát khỏi án phạt của hỏa ngục làm sao được?

  Bài giảng hôm nay có nhiều câu nặng thật, nhưng Chúa đã được dân nhiệt liệt hoan hô, vì họ thấy cần phải có những lời nặng nề hay hơn thế nữa, mới dẹp được một phần nào tính ngông cuồng, giả trá và kiêu hãnh thái quá của Biệt Phái và Luật sĩ. Bởi thế họ mừng vì những kẻ lên mặt dạy đời đã được một bài học đáng kiếp.

  Trái lại, và cái dĩ nhiên là Biệt Phái và Luật sĩ tức giận Ngài hết sức. Và từ đây, họ ra sức đàn hặc bắt bẻ Chúa, và cùng tìm mọi cách để phản lại Ngài, nhất là làm cho Ngài mất ảnh hưởng đối với dân và bị truy tố trước pháp lý....

Các  Con  Ðừng  Sợ...

Biệt Phái và Luật sĩ là những người có thế lực mạnh và ảnh hưởng lớn, tới nỗi, dù biết họ giả hình và đáng ghét, cũng chẳng có ai, dầu là một nhân viên cao cấp của chính phủ, dám nói động đến họ. Thế mà Chúa đã nặng lời trách mắng họ. Nên các tông đồ sợ lắm. Các ông chỉ lo rồi đây họ sẽ báo oán Ngài và những người theo Ngài một cách độc ác. Thấy vậy Chúa phải tìm lời an ủi các ông, nhưng đồng thời Ngài cũng nói rõ  các ông sẽ phải chịu khổ cách này hay cách khác vì Ngài. Tuy nhiên, không bao giờ nên lo sợ quá đáng làm mất cả tín nhiệm vào Ðức Chúa Cha. Chúa phán:

    --Các con hãy nên nhớ rằng trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được bằng thầy, tớ được ngang với chủ, đã là đẹp khá rồi. Vậy nếu người ta gọi chủ là Beelzebul thì người ta cũng sẽ xử không đẹp với những người thuộc hạ của ông. Tuy nhiên, các con đừng sợ, vì chẳng có gì dấu kín mà chẳng tiết lộ. Ðiều Thầy bảo các con trong nơi tối, điều Thầy rỉ tai các con trong phòng kín, các con có thể nói trắng ra, các con có thể tuyên giảng trên mái thượng mà chẳng phải sợ.

   --Các con đừng sợ! Ðịch thù của các con có mạnh lắm, cũng chỉ có thể giết được xác các con thôi. Còn linh hồn của các con, họ chẳng thể hại được. Thầy bảo thật, các con chỉ phải sợ Ðấng có thể hại được cả xác cả hồn các con trong hỏa ngục.

    --Các con đừng sợ! Các con hãy xem đoàn sẻ kia, chúng chẳng đáng giá gì, người ta bán chúng mỗi đôi chừng một xu thôi. Tuy nhiên, Thiên Chúa cũng lo đến chúng và chẳng có con nào rơi xuống đất mà không do Ngài. Cả những sợi tóc trên đầu các con cũng vậy, đã được đếm tất cả. Vậy các con đừng sợ, các con còn có giá trị hơn những con chim sẻ kia nhiều.

    --Trong trường hợp người ta điệu các con ra trước hội đường và những kẻ cầm quyền, các con cũng đừng băn khoăn sẽ phải nói gì để chữa lỗi. Thầy bảo thật, trong trường hợp ấy, chính Chúa Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói những gì. Ngài sẽ soi sáng và sẽ nói qua miệng các con. Cũng trong trường hợp ấy, ai xưng Thầy ra trước mặt người ta, Thầy cũng sẽ xưng nó ra trước mặt Cha Thầy ở trên trời. Và ai phủ nhận Thầy trước mặt người ta, Thầy cũng phủ nhận nó trước mặt Cha Thầy ở trên trời.

 Thoát  Ly  Tài  Sản..

XỬ  DỤNG  TIỀN  TÀI...

     Thái độ hiền hòa của Chúa đã lôi kéo dân chúng đến với Ngài, và người ta xin Ngài giải thích trường hợp này hay trường hợp khác.

   Một hôm Ngài đang giảng, bỗng có người trong đám thính giả đến xin Ngài xử cho một việc rắc rối về chuyện chia gia sản. Người đó thưa:

    --Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi phải chia gia tài cho hợp lý.

  Hẳn đây là trường hợp người anh kia quá tham lam đã lạm chiếm số gia tài của ông cha để lại. Nên người bị thiệt thòi mới kêu lên như thế. Tuy nhiên quyền xét xử theo pháp lý thế tục lại không thuộc xứ mạng của Ngài, nên Chúa nói rõ rệt Ngài không xử.

  Chúa nói:

    --Cái đó không phải việc của Ta. Ai đã đặt Ta làm quan án hay trọng tài những việc như thế?....

  Tuy nhiên lúc người đó trở bước, Chúa cũng mượn dịp, giảng cho dân về tinh thần thoát ly của cải. Ngài giảng:

    --Các con phải ý tứ, đừng hà tiện, đừng dính líu của cải đừng coi tiền tài là nền tảng và mục đích của đời sống.

  Rồi Ngài kể một dụ ngôn sau đây:

    --Các con hãy nghe dụ ngôn này ; Có một người phú quí, ruộng đất phì nhiêu, tới mùa thu được rất nhiều hoa lợi. Bấy giờ người đó tự nghĩ bụng rằng: Tôi sẽ làm gì cho hết của? Tôi không còn chỗ để lúa nữa. Rồi người đó tìm thấy giải quyết này: Tôi sẽ phá những lẫm cũ đi và sẽ xây lại những lẫm mới to hơn, để tôi có thể quây lúa  và để đồ đạc ở trong. Sau đó tôi sẽ nhủ linh hồn tôi rằng: Bây giờ tương lai đã vững, của cải đã nhiều, mi có thể nghỉ ngơi yên hàn, mi hãy ăn hãy uống, hãy sung sướng vui chơi. Nhưng đến đêm. Ðức Chúa Trời cảnh cáo người đó rằng: Thằng khờ dại, chính đêm nay mày sẽ chết, linh hồn mày sẽ bị gọi về. Vậy những của cải của mày  đã tích trữ để cho ai?

  Kể xong dụ ngôn, Chúa kết luận:

    --Kẻ bị cảnh cáo trong ngụ ngôn là hình ảnh những người lo tích trữ cho nhiều tiền bạc mà chẳng lo đến một thứ của giá trị trước mặt Thiên Chúa, ấy là những việc thiện, những việc có giá trị đối với đời sau.

  Tới đây, Chúa quay nhìn đoàn môn đệ và nói riêng với các ông. Ngài dạy các ông phải hoàn toàn tín nhiệm vào Thiên Chúa, vì Thiên Chúa sẽ lo liệu mọi nhu cầu cho những người làm việc của Nước Trời. Ngài dạy đoàn môn đệ:

    --Thầy bảo thật với các con, các con đừng quá lo về của ăn áo mặc. Các con biệt mạng sống còn trọng hơn của ăn và thân xác còn quý hơn áo mặc. Các con hãy coi đàn chim trên trời kia. Chúng không gieo vãi, không gặt hái, không xây lẫm chứa hay hầm kho, nhưng Ðức Chúa Trời nuôi dưỡng chúng. Vậy mà các con còn giá trị hơn đoàn chim kia biết dường bao! Các con hãy nhận xét: Ai trong các con bởi suy nghĩ mà có thể kéo dài mình ra được một tấc không? Vậy nếu các con không thể làm được một việc không đâu như thế, sao các con còn băn khoăn áy náy về những việc khác? Các con hãy coi những bông huệ ngoài đồng kia. Chúng không làm việc, cũng không kéo chỉ, không dệt.

Vậy mà, Thầy bảo thật các con, vua Solomon có phục sức lộng lẫy đến đâu, cũng không được như một trong các bông huệ đó. Thế nếu cây cỏ ngoài đồng, nay còn mai phải nhổ bỏ vào lửa, mà Ðức Chúa Trời còn trang phục cho như vậy, thì phương chi Ngài càng lo liệu cho các con!...Ôi các con còn ít tin dường nào!

    --Vậy các con đừng băn khoăn, đừng bối rối, đừng ái ngại rằng: Chúng tôi sẽ ăn gì, uống gì và lấy gì mà mặc? Không! Tất cả những cái đó, các con hãy để cho người ngoại giáo tìm tòi lo lắng. Còn phần các con, Cha các con đã biết những cái các con cần dùng. Vậy các con chỉ phải lo Nước Trời được tiến triển rồi mọi cái khác không tìm cũng sẽ đến. Thầy bảo thật, các con đừng lo đến ngày mai, vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Cái khó ngày nào đủ cho ngày ấy. Các con đừng nghĩ mình là đoàn chiên nghèo mà sợ, vì Cha các con, Ðấng có lòng quảng độ, đã ban Nước của Ngài cho các con. Vậy các con đừng nghi ngại. Các con có gì hãy đem bán đi mà bố thí, các con hãy sắm lấy những túi tiền không hay mục, những kho tàng không thể cạn, những kho tàng của Nước Trời, nơi trộm cắp không thể bén mảng đến và mối mọt không làm tiêu hao được. Những kho tàng ấy mới đáng để ý, hợp như lời ngữ ngôn rằng: Kho tàng của con ở đâu, lòng con cũng ở đó.

  Nghe Chúa giảng về tinh thần thoát ly của cải, ông Phêrô mừng thầm, vì ông nghĩ, ông và các bạn đã thực hiện được tinh thần đó. Chính ông và các bạn của ông đã bỏ thuyền, bỏ chài lưới để theo Ngài và hiện nay chẳng có tiền bạc gì trong tay. Ông đoán hẳn rồi đây Chúa sẽ dành một phần thưởng nào cho ông và các bạn ông. Nên ông hỏi Chúa:

    --Lạy Thầy, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con có được lợi gì không?

  Chúa trả lời:

    --Thầy bảo thật, đến ngày sống lại, ngày tưng bừng trong đời sống mới, khi Con Người ngự trên tòa vinh hiển, các con là những người theo Thầy, các con sẽ được ngồi trên 12 tòa để xét xử 12 đại tộc Israel. Và nữa, ai bỏ cửa nhà, anh chị em, cha mẹ, con cái, ruộng đất vì danh Thầy, người ấy sẽ được lợi gấp trăm ở đời này, sẽ được hạnh phúc cả trong lúc bị bách hại và sau này sẽ được sống muôn đời. Thầy bảo thật, có nhiều kẻ được những địa vị nhất ở đời này, sẽ là những kẻ bét nhất ở đời sau. Và trái lại, có nhiều người ở bậc thấp nhất ở đời này, sẽ là những người cao quý nhất ở đời sau.

  Những phần thưởng trọng hậu Chúa nói trên đây kích thích các tông đồ lắm, cũng lúc ấy, một chàng thanh niên đến hỏi Chúa về điều kiện phải có để được sống đời đời. Thanh niên đó sụp xuống lạy Chúa và trình bày rằng:

    --Lạy Thầy nhân hậu, tôi phải làm gì để được sống đời đời?

  Chúa thấy những người chung quanh đó ngạc nhiên, vì thanh niên đó xưng hô Ngài là “nhân hậu” một lối xưng hô không quen dùng, lại có vẻ “kiểu cách và dua nịnh”. Thế mà Chúa vẫn giảng phải ở “đơn sơ và khiêm nhường” đừng ưa nịnh hót. Ngài sợ kẻo dân hiểu lầm Ngài, tưởng Ngài có thể đi ngược lại điều đã giảng, cũng muốn được dua nịnh tâng bốc. Nên Ngài bảo người thanh niên rằng:

    --Sao lại gọi Ta là nhân hậu? không có ai là nhân hậu, trừ ra có một Thiên Chúa thôi....

  Nhưng xét điệu bộ người thanh niên đã có lòng thành thực, muốn tìm biết điều kiện để được sống vĩnh viễn. Nên Chúa lại dạy anh ta:

    --Ðể được sống muôn đời, ngươi hãy giữ các giới răn. Những giới răn ấy ngươi đã biết: chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ tà dâm, chớ hại người, chớ làm chứng dối, hãy thảo hiếu cha mẹ và yêu người thân cận như chính bản thân.

  Người thanh niên thưa:

    --Thưa Thầy, tất cả những điều răn đó, tôi đã giữ từ ngày còn nhỏ. Thế tôi còn phải làm gì thêm nữa hay không?

  Chúa nhìn chàng thanh niên, tỏ tình âu yếm và phán bảo:

    --Ngươi chỉ còn thiếu một sự để được trọn lành: Ngươi hãy về nhà, bán hết gia tài đi và phân phát cho người nghèo. Làm thế ngươi sẽ được một kho tàng quý giá ở trên trời ; rồi ngươi hãy đến đây và theo Ta.

  Nhưng nghe Ngài phán thế, người thanh niên buồn rầu, vì anh ta giàu, có nhiều đất ruộng và lợi tức. Anh ta có ngờ đâu Ngài lại dạy phải bán tất cả đi để theo Ngài, nên anh ta buồn bã rút lui...

  Thái độ của chàng thanh niên làm Chúa tưởng đến lớp người giàu và tham của. Lòng họ bám chặt vào của cải, tôn thờ của cải, đáng lẽ ra của cải giúp họ làm việc thiện ; nhưng trái lại, của cải đã nên dịp tội cho họ, đã ngăn trở họ bước vào đường trọn lành.

Nên lúc chàng thanh niên bỏ đi, Chúa buồn rầu nhìn các môn đệ và phán một sự thật đáng sợ rằng:

    --Ðó các con xem, người giàu vào nước Thiên Ðàng thực khó khăn thay! Các con ơi!

Thầy bảo thật: Con lạc đà chui qua lỗ kim có lẽ còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời!

  Nghe Chúa dạy thế các tông đồ ngạc nhiên không hiểu. Thời ấy tôn giáo đi đôi với phú quý giầu sang. Các thượng tế đồng thời cũng là những đại chủ nhân ông, dân coi sự thịnh vượng về vật chất như là ơn lành Thượng Ðế đổ xuống trên đời sống thánh thiện.

Nói cách khác, người giàu được coi là bạn thân của Thượng Ðế, và có nhiều điều kiện để vào Thiên đàng. Thế mà ở đây Chúa lại phán: “ Người giàu vào Thiên đàng thực khó khăn thay! và con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Ðức Chúa Trời!” Như vậy nghĩa là gì? Các ông thực không hiểu. Các ông quay nói với nhau:

    --Nếu vậy, còn ai sẽ được cứu rỗi?

  Nhưng lời Chúa phán trên đây chỉ là cách nói tượng trưng thôi, còn người giàu vẫn có thể vào Thiên đàng. Vì với ơn Chúa giúp, người ta có thể không tham lam, không hà tiện, lại biết cách dùng tài sản để giúp đỡ xã hội và người nghèo. Do vậy người ta có thêm phương tiện để được cứu rỗi. Nên Chúa nhìn các tông đồ đang bỡ ngỡ và phán:

    --Ðối với người ta, điều kiện đó không thể được. Nhưng đối với Ðức Chúa Trời lại có thể, vì Ðức Chúa Trời làm được hết mọi sự.

  Nhân dịp Chúa cũng kể một dụ ngôn “Người quản lý bất trung” ngụ ý để dạy những người theo Ngài phải biết khôn ngoan, phải lo xa cho đời sống tương của linh hồn, cũng như người quản lý kia biết lo xa cho đời sống vật chất của hắn. Chúa kể dụ ngôn:

    --Một phú ông kia trao việc quản trị tài sản cho một viên quản lý. Nhưng viên quản lý này đã bị tố cáo nơi ông về tội biển thủ tiền bạc. Bấy giờ ông đòi viên đó đến bảo: Ta đã nghe nói về công việc của anh không được thẳng thắn, vậy anh hãy thanh toán công việc của anh, Ta sẽ cho anh nghỉ, anh không thể làm quản lý ở nhà ta nữa. Bấy giờ người quản lý nghĩ bụng: Chủ tôi không cho tôi làm quản lý nữa, vậy tôi làm gì được bây giờ?

Cày cuốc không quen ; đi ăn mày tôi xấu hổ. Nhưng người đó đã tìm được giải quyết. Anh ta nói thầm rằng: À, nhưng tôi cũng đã biết tôi phải làm gì và sẽ xếp đặt thế nào để một khi tôi bị loại khỏi sở quản lý, người ta sẽ tiếp nhận và nuôi tôi. Sau đó, anh ta gọi các khách nợ của chủ đến. Những người này vừa đến vừa sợ sẽ phải nộp thêm hoa lợi.

Nhưng không. Trái lại anh hỏi khách nợ thứ nhất rằng: Ông nợ chủ tôi bao nhiêu? Người ấy đáp: Dạ 100 thùng dầu. Anh ta thân mật bảo người mắc nợ ; Ông hãy đưa khế ước ra, nhanh lên, ngồi xuống đây và viết lại, chỉ có 50 thùng thôi. Rồi anh ta lại hỏi người khách nợ thứ hai: Phần ông, văn tự thế nào? bao nhiêu? Người này đáp: 100 tạ lúa. Anh ta cũng thân mật bảo: Ðược rồi, ông lấy văn khế ra và viết 80 thôi. Ðến lượt các người khách nợ khác, anh ta cũng áp dụng cái kế hoạch hạ giảm như vậy.

  Việc gian lận này, sau đã đến tai ông chủ. Ông biết rõ người quản lý của ông gian phi bất nghĩa.

  Và về điểm đó ông cảm thấy bất bình, muốn giam ngay kẻ gian phi vào ngục tối. Nhưng mặt khác, ông cũng nhận định và khen người quản lý bất nghĩa kia biết tháo vát, biết hành động khôn ngoan, biết lo xa cho những ngày mai sắp đến.

  Kể xong dụ ngôn, Chúa kết luận:

    --Quả thật, trong những công việc của họ, con cái đời này khôn khéo hơn những con cái của sự sáng.

  Chúa quay nhìn dân chúng như để dạy cho họ một khuyến dụ. Ngài lại phán:

    --Vậy Thầy bảo thật, các con hãy dùng tiền bạc...một thứ hay sinh tội ác...cách khôn khôn ngoan. Các con hãy xử dụng nó làm việc thiện, để giúp đỡ những người nghèo, để mua lấy những bạn hữu, những bạn hữu thế lực, ngõ hầu ngày nào các con phải bỏ thế trần, họ sẽ đón nhận các con vào Thiên quốc.

  Những điều Chúa vừa phán trên đây về cách xử dụng tài sản hợp với dân chúng đến nghe hơn là hợp với các tông đồ, vì các tông đồ sẽ đi giảng đạo với hai bàn tay trắng, chứ không được mang của cải. Tuy nhiên một mặt khác, các ông cũng phải rút ở dụ ngôn trên đây một bài học thiết thực, ấy là trong lúc thi hành bổ phận quản lý các linh hồn, các ông phải cần mẫn chính trực, chớ có biếng lười sơ xuất, kẻo lại phải bị loại như người quản lý kia. Bởi vậy trước khi dứt lời, Chúa còn dặn các tông đồ như sau:

    --Ai trung tín trong những việc nhỏ, người ấy cũng trung tín trong những việc trọng đại. Ðối lại, ai bất trung trong những việc nhỏ, người ấy cũng bất trung trong những việc lớn. Vậy nếu các con bất trung trong việc xử dụng tiền tài, mà tiền tài chỉ là vật sở hữu của linh hồn, thì còn ai dám phó thác cho các con coi sóc những của đích thực và vĩnh viễn mãi, ấy là linh hồn của người ta? Các con hãy ghi vào dạ điều này: Chẳng ai có thể một trật làm tôi hai chủ ; vì hoặc họ sẽ ghét người này mà quý mến người kia, hay hoặc họ sẽ quyến luyến người này mà coi thường người kia. Thầy bảo thật: Các con không thể một trật làm tôi Thiên Chúa và Tiền Tài được, vì cả hai rất khác nhau, khác nhau xa lắm....

Nhà  Ðại  Phú  Và  Ông  Lagiarô...

    Nghe Chúa giảng người giàu khó được cứu rỗi, tụi Biệt Phái cười khảy và miệt thị Ngài. Là những người đam mê của cải, họ vẫn quan niệm rằng: Tiền tài, sức khỏe, sống lâu và số may trên đời là những phần thưởng của thánh thiện, những phần thưởng quý giá Ðấng Giavê dành cho những người thân nghĩa của Ngài. Bởi thế họ đã coi thường lời Chúa giảng và chế nhạo: Ừ! cứ để cho ông ta nói cho sướng miệng....Giả thử là người giàu, hẳn ông đã ca tụng lớp người phú quý, nhưng ông ta nghèo, một đồng xu không dính túi! Mà nghèo, nên mạt sát người giàu, cái đó có lạ chi. Cái đó chỉ chứng tỏ ông ta không phải là thân nhân của Thượng Ðế, nên đã bị Thượng Ðế đày vào cái “số kiếp không tiền.”

  Nhưng bọn Biệt Phái đã lầm một cách khốc hại, đành rằng tiền tài sức khỏe sống lâu và số may trên đời là những ơn lành của Chúa. Nhưng không phải mọi người thánh thiện đều được hưởng những ơn lành ấy đâu. Cũng có những người lành phải chịu khổ cực ở đời, và cũng có những người tội lỗi, những kẻ giả hình nhân đức được giàu sang. Vì thế Chúa mắng lại tụi Biệt Phái:

    --Các người dám tự phụ là thánh thiện trước mặt người ta ư? Thiên Chúa đã biết thâm tâm của các người. Ngài tởm gớm vì thấy các người kiêu hãnh....

  Rồi Chúa kể một dụ ngôn, ngụ ý bảo cho họ biết: Những người giàu ích kỷ, chỉ biết hưởng một mình, không nghĩ đến người nghèo khổ chung quanh và không biết lo đến việc linh hồn, sau này sẽ bị trọng phạt trong ngục lửa!  Ngài kể:

   --Xưa có một người đại phú quen mặc áo vải gai bóng nhẵn và khoác áo vóc màu hồng, thích xa hoa, thường nhật dùng những cao lương mĩ vị. Trong khi đó, ở cổng nhà ông có một người hành khất tên là Lagiarô. Người này mình mẩy đầy ung nhọt, nằm kêu rên và khao khát được có những thứ ở trên bàn người đại phú kia rơi xuống để mà ăn cho đỡ đói, nhưng chẳng ai cho, và chẳng ai nhìn đến, chỉ trừ mấy con chó đến ngửi hơi và liếm qua mụt nhọt.

  Nhưng rồi thời gian qua, người hành khất nghèo khó tắt thở và được các thiên thần đón lên trời đặt bên cạnh ông Abraham. Ðến lượt người đại phú kia cũng chết. Xác ông được người ta mai táng linh đình, nhưng hồn ông rơi xuống hỏa ngục. Trong hỏa ngục này, người đại phú chịu phạt cực khổ lắm. Một lần kia, đang lúc chịu cực hình, người đó ngửa mặt lên trông thấy ở tận đàng xa, ông Abraham đang hưởng hạnh phúc và ở cạnh ông có cả Lagiarô nữa. Bấy giờ người đó kêu lên rằng:

    --Lạy tổ phụ Abraham, xin thương đến tôi, xin sai ông Lagiarô thấm đầu ngón tay vào nước, để nhỏ xuống làm mát lưỡi tôi một chút, vì tôi chịu khổ trong lúc này đến cực độ rồi!

  Nhưng ông Abraham đáp lại:

    --Ớ con, con hãy nhớ rằng trong đời con, con đã được của cải, còn Lagiarô đã phải khổ cực luôn luôn. Bây giờ Lagiarô được an ủi ở đây và con phải chịu cực là phải lẽ lắm rồi. Vã nữa, giữa chúng ta và con còn cách nhau một vực sâu rộng lớn không thể nào vượt qua được....

   Bấy giờ người đại phú kêu rằng

    --Lạy tổ phụ Abraham, vậy xin Ngài hãy sai ông Lagiarô về nhà tôi để dạy bảo cho năm anh em tôi khỏi phải sa xuống chốn cực hình này.

  Nhưng ông Abraham lại trả lời:

    --Không! Chúng đã có luật ông Môi Sen và lời dạy của các tiên tri, chúng chỉ phải nghe lời các vị ấy.

  Người đại phú thưa lại:

    --Không! Lạy tổ phụ Abraham. Nhưng nếu có người chết về nói với chúng, chúng mới tin và chịu cải thiện đời sống, mới hối lỗi ăn năn.

  Ông Abraham trả lời lại:

    --Nếu chúng chẳng nghe ông Môi Sen và các tiên tri, ắt chúng cũng chẳng nghe người chết sống lại.

   Với bài dụ ngôn trên đây, quả Chúa đã dạy rõ rệt về sự khẩn thiết phải giúp đỡ người nghèo và về đức công bình của Chúa đối với người lành và người dữ. Ðức công bình tỏ ra quyết liệt, nhất là ở thế giới bên kia. Chúa dạy dụ ngôn này, mục đích để cho Biệt Phái suy nghĩ và tìm ra ở đó một bài học, một con đường hối cải, ngõ hầu được nhờ ơn cứu rỗi Ngài mang đến. Nhưng ngược lại, càng ngày Biệt Phái càng ghét Chúa và sau cùng đã cố tình diệt Ngài cho xong.

 (Hơn nữa câu chuyện dụ ngôn Chúa kể trên, cũng là để cảnh tỉnh những  người giàu có mà hay thờ ơ trước những kẻ nghèo khổ cần phải được giúp đỡ.)

Một  Cuộc  Biểu  Tình  Ðẫm  Máu...

   Sau một thời gian giảng ở các thị trấn và làng mạc của xứ Giuđêa, Chúa lại trở về Jêrusalem để dự lễ Thánh Hiến Ðền Thờ.

  Trong dịp lễ này, xảy ra một chuyện bi đát làm chấn động mọi người Do Thái. Số là nhờ lúc dân hội về đông đúc, một nhóm thanh niên quá khích đứng dậy biểu tình, hô những khẩu hiệu có ý nghĩa đả đảo người La Mã. Tiếng hô có vẻ quyết liệt và vang đi xa. Toán quân lính ở đồn Antonia về phía bắc Ðền thờ thấy vậy, vội báo cho Tổng trấn Philatô, ông này tưởng là dân nổi loạn, liền thẳng tay đàn áp. Ông ra lệnh cho quân lính tràn vào Thánh đường, gặp ai giết người ấy. Kết quả một số người chết và một số người bị trọng thương!

 Cử chỉ ác bạo này làm dân vô cùng phẫn uất. Nhưng rồi biết mình chưa thể đối lại với võ lực, họ cũng phải nuốt giận chịu lui, trong lòng nguyền rủa quân khát máu...và cầu khẩn Chúa Cứu Thế chóng đến để cứu dân Người...

  Câu chuyên bi đát đó, Chúa cũng biết, nhưng dầu vậy, mấy người ở bên Chúa cũng thuật lại cho Ngài nghe, và họ còn nói rõ những người bị sát hại hôm ấy là những người thuộc xứ Galilêa. Những người ấy quả là những vị tử đạo và đã hòa máu mình và máu các tế vật. Nhưng nghe xong câu chuyện, Chúa không tỏ thái độ gì về chính trị cả, Ngài chỉ tiếc vì việc đã xảy ra và nhân dịp này Ngài giảng về việc sám hối:

  Ngài dạy rằng:

    --Các người tưởng những người Galilêa bị giết ấy đã phạm những tội ác hơn hết những người Galilêa khác phải không? Ta bảo thật, không phải như vậy. Không phải mọi người lành đã thoát chết, và không phải mọi người dữ đã gặp nạn. Tuy nhiên các người hãy ý tứ: Nếu các người không sám hối ăn năn, các người sẽ bị vận nạn, có khi bị diệt nữa. Xưa kia tháp Silôê sụp đổ đè chết mười tám người, thế những người ngộ nạn đó có phạm tội hơn những người khác bấy giờ đang ở Jêrusalem không? Hẳn không? vậy nếu không mau sám hối, các người cũng sẽ chết như vậy cả.

 

Tính  Cách  Người  Chăn  Chiên...

   Bấy giờ đang là tuần lễ Thánh Hiến Ðền Thờ, thành Thánh Jêrusalem tưng bừng không kém gì dịp lễ Trại. Tuy nhiên cuộc đàn áp đẫm máu hôm trước đã làm cho dân phải suy nghĩ nhiều. Hôm ấy thời tiết lại sang Ðông, từng cơn gió lạnh đến làm vơi sự náo nhiệt bên ngoài....Lòng dân mơ ước một vị Cứu Thế, nhưng là một vị Cứu Thế biết xử dụng cung tên, giơ cao thanh kiếm để báo thù và thống trị.

  Ngày hôm ấy Chúa cũng lên dự lễ ở thánh đường, Ngài bách bộ dưới trụ quan Salomon

Dân chúng xúm đến quanh Ngài như để tìm một lời an ủi. Nhưng một số những địch thù của Ngài lại muốn lợi dụng, hỏi Ngài rằng:

    --Thưa Thầy, Thầy còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu Thầy là Ðấng KiTô, là Ðấng Cứu Thế, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết?

  Bọn đối phương muốn giương bẫy  bắt Chúa, họ nghĩ rằng: Nếu Ngài xưng mình là Cứu Thế, là bị báo thù và thống trị, hẳn Ngài sẽ bị La Mã hành tội. Trái lại nếu Ngài chối Ngài thì sẽ buộc vào tội đánh lừa dân. Nhưng biết rõ ác ý của họ, Chúa không trả lời thẳng vào câu hỏi. Ngài chỉ nhân dịp đó tuyên bố một chân lý hệ trọng, để những linh hồn ngay thẳng biết rõ Ngài là ai. Ngài phán:

    --Ta đã nói với các người rồi mà các người có muốn tin đâu? Những việc Ta làm nhân danh Cha Ta, đã làm chứng về Ta đủ lắm. Nhưng các người không tin, vì các người không thuộc về đoàn chiên của Ta. Các chiên của Ta nhận biết tiếng Ta và theo Ta. Ðối lại Ta cũng nhận biết chúng và bảo đảm cho chúng một đời sống vĩnh cửu. Ta sẽ chẳng để chúng phải chết đời đời, và chẳng ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta. Quyền Cha Ta đã ban cho Ta rất trọng đại, và chẳng ai cướp được quyền đó khỏi tay Cha Ta, Cha Ta và Ta, Chúng Ta là một.

  Chúa phán tới đây, bọn Biệt Phái nhao nhao phản đối và một số dân chúng cũng hùa theo. Họ cho là Ngài phạm tội lộng ngôn, dám xưng mình bằng Thiên Chúa. Họ nhặt đá toan ném Ngài, nhưng họ dọa nhiều hơn là dám bạo động. Phần Chúa, Ngài đứng yên không chạy. Ánh mắt uy nghi của Ngài làm thái độ hỗn xược của họ bị chặn đứng lại. Rồi Ngài hiên ngang hỏi họ:

    --Ta đã làm biết bao việc lạ để chứng tỏ cho các người, vì lòng đại lượng của Cha Ta, thế việc gì các người muốn ném đá Ta.

  Họ đáp lại:

    --Không phải vì một việc lạ mà chúng tôi định ném đá ông, nhưng chỉ vì ông dám lộng ngôn, ông là người mà dám xưng mình là Thiên Chúa!

  Ðể bác bẻ họ đã buộc cho Ngài phạm tội lộng ngôn. Chúa trưng lời của Thánh vịnh 81

và giải thích:

    --Trong Thánh vịnh có lời chép về những thẩm phán rằng: Ta đã nói: Các người là những vị Chúa tể. Vậy nếu Thánh Kinh đã gọi những người được Thiên Chúa dạy, là những vị Chúa tể  (mà Thánh Kính không thể sai) thì tại sao các người có thể buộc tội lộng ngôn chính người Thiên Chúa đã thánh hóa và sai xuống trần, chính người làm Khâm sai Thiên Chúa và dám nói: Ta là Con Thiên Chúa? Các người hãy xét lại coi, các người hãy nghị luận hợp lý.

  Trước lời phản bác hợp lý của Chúa, bọn đối phương cụt hứng. Họ tức giận nhưng không tìm ra lẽ để chữa thẹn.

  Còn dân, dân nhiệt liệt hoan nghênh Chúa và tỏ lòng ngưỡng mộ. Cử chỉ đó làm Chúa lại cảm thương số phận của họ, họ giống như đoàn chiên không người chăn ; hay người chăn là những kẻ làm thuê, chỉ biết đến tiền công hơn là lo cho bầy chiên được ấm no yên ổn. Bởi thế, nhân dịp này Chúa lại nói rõ Ngài là vị chăn chiên đích thực, một vị chăn chiên nhân lành, biết hy sinh tính mạng vì con chiên. Ngài phán:
    --Ta là người chăn chiên đích thực và nhân lành, người chăn chiên nhân lành phải biết hy sinh tính mạng vì con chiên, còn những kẻ làm thuê không phải là người chăn chiên đích thực. Ðoàn chiên không thuộc về họ, nên vừa thấy sói rừng đến, họ bỏ đoàn chiên và trốn chạy. Vì thế sói rừng xông vào đoàn chiên, cắn chết con này, mang con kia đi, làm đoàn chiên tan tác.
Những kẻ chăn chiên kia bất lương là thế, vì chúng là kẻ làm thuê, chúng chẳng lo gì đến đoàn chiên cả. Nhưng Ta, Ta là người chăn chiên nhân lành. Ta biết đoàn chiên của Ta từng con một, và chúng cũng nhận biết Ta, sự nhận biết đó giống như sự Cha Ta nhận biết Ta và Ta nhận biết Cha Ta. Vì thế, Ta sẵn sàng thí mạng sống cho đoàn chiên Ta. Ta yêu đoàn chiên của Ta lắm, và Ta biết còn nhiều con chiên vẫn còn ở ngoài bầy. Những chiên ấy, rồi đây Ta phải đưa về để chúng nhận biết Ta, và bấy giờ sẽ chỉ có một bầy chiên với một Chúa chiên thôi. ( Chúa ngụ ý nói, Ngài sẽ đưa cả thế giới về với Ðức Chúa Cha, để làm thành một đoàn chiên vĩ đại là Giáo Hội.)

  Nhân nói đến chức vụ và bổn phận người chăn chiên, Chúa lại nhớ đến thái độ ngoan cố của Biệt Phái và Luật sĩ. Họ không coi sóc đám dân lành Chúa trao cho họ, mà họ còn cản trở dân đến với Ngài là con đường sống. Nên Chúa lại nói rõ, Ngài là cửa chuồng chiên, để ngầm bảo dân,  Ngài là con đường sống, con đường hạnh phúc, và bọn đối phương là kẻ trộm. Ngài phán tiếp:

    --Quả thực, Ta bảo các người, Ta là cửa chuồng chiên. Những kẻ đã đến trước chỉ là kẻ trộm kẻ cướp. Phải! Những kẻ không qua cửa mà vào, song nhảy tường hay lẫn lối khác mà vào, những kẻ ấy đúng là kẻ trộm kẻ cướp. Trái lại, người cứ cửa mà vào, đó là người chăn chiên, và người giữ cửa sẽ mở cửa cho người đó. Người đó sẽ lần lượt gọi chiên từng con một ra ngoài, và đoàn chiên nhận biết tiếng người chăn chiên, sẽ theo người đó. Trái lại, đoàn chiên sẽ không theo người lạ mà còn trốn chạy nữa, vì chúng không nhận biết tiếng người ấy.

  Chúa nhấn mạnh nữa:

    --Quả thực, Ta là cửa. Người chăn chiên nào qua Ta mà vào chuồng chiên, người đó sẽ được bình an, và lúc ra với đoàn chiên, sẽ tìm thấy  đồng cỏ tốt. Ngược lại, những kẻ không qua Ta mà vào, chúng chỉ là kẻ trộm. Chúng đến có ý lấy trộm và hủy diệt đoàn chiên. Nhưng chúng hãy ý tứ!....

    --Ta bảo thật, Ta đến để ban sự sống cho con chiên Ta và ban cho dư dật. Phải! Nếu Cha Ta yêu Ta, ấy là vì Ta sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đoàn chiên Ta. Nhưng Ta hy sinh rồi thu hồi lại, vì chẳng ai cướp được mạng sống khỏi Ta. Chính Ta tự ý hy sinh và tự ý lấy lại, vì Ta có quyền như thế và đó cũng là mệnh lệnh Ta nhận nơi Cha Ta.

    --Hỡi các người, các người hãy nhận xét và hiểu lời Ta. Hay nếu không thể hiểu lời Ta, các người hãy phán đoán theo việc Ta làm. Nếu Ta không làm việc của Cha Ta, các người đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta đã làm ấy là vì Ta có quyền làm, và do vậy, các người có thể nhận định rằng: Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha.

  Nghe tới đây, bọn đối phương  hiểu rõ Chúa muốn mạt sát họ, và thêm một lần nữa, Ngài xưng mình đồng bản thể với Thiên Chúa. Họ tức khí, định bắt Ngài, nhưng Ngài đã thoát khỏi tay họ.

Hãy  Về  Bảo  Con  Cáo  Ấy....

  Sau tuần lễ Thánh Hiến Ðền Thờ, Chúa Giêsu bỏ thành Jêrusalem để sang xứ Pêrêa giảng giáo. Xứ này ở bên kia sông Jordan, thuộc quyền vua Hêrôđê Antipa. Ở đây người ta đã biết danh tiếng Chúa, và sau ngày ông Gioan Tẩy Giả bị chém, danh tiếng đó đồn đi khắp nơi. Nên khi Chúa đến, dân chúng kéo đến rất đông, làm chấn động mọi giới.

  Tin Chúa đến và làm phép lạ cũng dội tới cả triều vua Hêrôđê Antipa, làm vua lo ngại, ông sợ kẻo Ngài sẽ lợi dụng lòng dân tín phục và xưng vương xứ Galilêa là xứ cũng thuộc quyền ông quản trị. Vì thế, ông cho người đi dò dư luận và quan sát hành động của Chúa. Kết quả: Mấy phái viên trở về báo cáo với những ý kiến bất đồng. Kẻ nói:

Ðó là Êlia tái sinh để dọn đường cho Chúa Cứu Thế muôn dân trông đợi. Kẻ bảo: Ðó là vị tiên tri đã trở lại cõi trần. Kẻ khác nói: Ðó chính là Gioan Tẩy Giả mà hoàng thượng xử trảm, nay đã phục sinh. Ý kiến sau này coi như hợp với ý nghĩ của nhà vua. Nên ông nói: Có lẽ đó là Gioan Tẩy Giả đã từ trong kẻ chết sống lại, vì nếu không phải thế, làm sao người đó có thể làm được những việc lạ lùng như vậy? Tuy nhiên, nhà vua vẫn còn phân vân, nên muốn gặp Ngài để tự điều tra và giải quyết lấy.


  Nhưng càng điều tra, nhà vua càng bối rối, vì nhận thấy dư luận rất xôn xao và dân chúng theo Ngài mỗi ngày một nhiều. Nhà vua lại nhớ tới cuộc biểu tình dịp lễ Thánh hiến vừa qua đã làm cho Philatô gặp khó khăn bên La Mã, cũng như việc xử trảm ông Gioan Tẩy Giả hôm xưa, đã làm toàn dân phẫn nộ căm ghét nhà cầm quyền. Thế mà theo ý nhà vua, người lạ kia còn có nhiều pháp thuật và ảnh hưởng gấp mấy ông Gioan Tẩy Giả ; nên nếu động tới Ngài, biết đâu chẳng xảy ra cuộc biến động. Vì thế, càng suy nghĩ, nhà vua càng lo!

  Nhưng rồi, Hêrôđê Antipa, con người không kém quỷ quyệt hơn Hêrôđê Ðại đế, đã tìm ra một chước thuật. Ông sai người đi dọa Chúa để Ngài Pêrêa trở về xứ Giuđêa, vì ông nghĩ, một khi trở về Giuđêa. Ngài sẽ thuộc quyền Tổng trấn Philatô, và Ngài có bạo động cách nào, chính Philatô sẽ chịu trách nhiệm. Vậy vua ủy một nhóm Biệt Phái đến thưa với Chúa cách thân mật rằng:

    --Bẩm Thầy, chúng tôi xin báo Thầy một việc rất hệ  đến Thầy. Chúng tôi được tin mật là Hêrôđê Antipa muốn giết Thầy. Thầy mau ra khỏi xứ này kẻo nguy hiểm. Thầy biết, ông ta ác lắm ; ông ta xử trảm cả ông Gioan Tẩy Giả là một đại tiên tri.

  Hêrôđê Antipa tưởng chước thuật đó, ông sẽ lượm được kết quả, sẽ đẩy lui nhà tiên tri ra khỏi xứ Pêrêa ngay. Nhưng trái lại, biết rõ mưu cơ đó, Chúa đã gọi nhà vua là con cáo, nghĩa là người quỷ quyệt và đồng thời, Ngài nói rõ “ở” hay “đi” là điều Ngài đã ấn định trong chương trình hành động, chứ Ngài không sợ nhà vua, và không ai ngăn cản Ngài được. Ngài trả lời cho những phái viên của nhà vua sai đến:

    --Hãy về bảo con cáo ấy rằng: Ta còn đuổi quỷ và chữa bệnh hôm nay và ngày mai nữa ; ngày thứ ba mới xong. Ta còn ba giai đoạn làm việc: Hôm nay, ngày mai và ngày kia, ngày kia Ta đi.  Các người phải biết “ Một vị tiên tri chịu chết ở ngoài thành Jêrusalem là điều không thể nhận được.”

  Câu trả lời của Chúa khó hiểu đối với những người không biết tương lai của Ngài. Ngài có ý nói: Hêrôđê là người quỷ quyệt, nhưng không hại được Ngài vì thời giờ của Ngài chưa đến. Ngài còn ba tháng nữa để làm việc ; tháng Ngài giảng ở Pêrêa, tháng sắp tới và tháng thứ ba nữa. Trong tháng sau cùng này, Ngài sẽ lên Jêrusalem và chịu chết ở đó. Tất cả chương trình này Ðức Chúa Cha đã ấn định. Nên từ bây giờ đến lúc ấy, mọi mưu mô quỷ quyệt để hại Ngài đều vô ích.

Khiêm  Nhường  và  Thương  Người  Nghèo  Khổ...

    Một ngày kia đang lúc Chúa còn giảng ở Pêrêa, một người Biệt Phái vị vọng mời Chúa đến nhà dùng bữa.

  Trong lúc chủ khách mời nhau ngồi vào bàn, Chúa thấy một số Biệt Phái tranh nhau chiếm những chỗ cao để cầu vinh dự. Thái độ của họ làm chủ khó nghĩ và nhiều khách khó chịu bất mãn. Thấy vậy Chúa kể một dụ ngôn về cách xử thế và đồng thời dạy một bài về đức khiêm nhường. Chúa kể:

    --Khi được mời dự tiệc, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất, chỗ cao. Kẻo có người khả kính hơn ngươi cũng được mời, và chủ nhà buộc lòng phải nói với ngươi rằng: Xin hãy nhường chỗ cho người kia. Bấy giờ ngươi sẽ xấu hổ và ngồi xuống chỗ rốt hết. Vậy khi ai mời ngươi, ngươi hãy ngồi vào chỗ rốt hết, và chủ sẽ bảo ngươi rằng: Xin mời bạn ngồi lên chỗ trên kia. Bấy giờ ngươi sẽ được hạnh mặt trước các khách dự tiệc. Ngươi hãy nhớ điều này: Ai đưa mình lên, sẽ bị hạ xuống ; và ai biết tự hạ, sẽ được nâng lên.

  Ngồi xuống bàn ăn, Chúa lại nhận thấy khách được mời toàn là những người thuộc lớp quý phái, và phòng ăn lịch sự, có màn rủ chung quanh. Quang cảnh đó làm Chúa cảm thấy như Ngài bị “sung công” cho lớp trưởng giả và bị tách khỏi lớp thường dân, lớp người vất vả nghèo nàn mà Ngài luôn yêu quí. Bởi thế Ngài nói cho chủ nhà hiểu, sở dĩ Ngài đến, là chỉ vì phép lịch sự bắt Ngài phải nhận lời mời, nhưng Ngài khuyên ông mỗi khi dọn tiệc, nên mời những người nghèo túng, khổ cực, những người không lấy gì mà mời lại để ông được phần thưởng trước mặt Chúa.

  Ngài quay về phía chủ nhà và phán bảo:

    --Khi ông mời ai dùng bữa trưa hay bữa tối, ông đừng mời bạn hữu, anh em hay bà con, và những người láng giềng giàu có mà thôi, kẻo họ lại mời lại và thế là ông mất phần thưởng. Trái lại khi dọn tiệc, ông hãy mời những người nghèo khổ, tàn tật và mù què. Ông sẽ được phúc, vì họ không có gì trả lại. Hơn nữa, ông sẽ được Chúa Trời ban thưởng trong ngày những người đạo đức sống lại.

Truyện  Một  Cưới  Lạ....

  Nghe Chúa nói đến ngày người đạo đức sống lại, một người trong bàn tiệc nghĩ đến hạnh phúc vĩ đại của Nước Trời. Ông liền kêu lên như biểu lộ ước nguyện vào nước đó:

    --Ôi hạnh phúc thay người sẽ được dự tiệc trong Nước Ðức Chúa Trời!

  Chúa thấy câu nói của người đó đưa lại cho Ngài dịp tiện để giảng dạy. Ngài liền nhân cơ hội kể một dụ ngôn “Bữa Yến” để vạch rõ điều kiện vào Thiên Quốc. Ngài nhìn mọi người và đáp lại:

    --Người ta có thể ví Nước Trời như một ngự yến thịnh soạn mà một quân vương đã truyền dọn để mừng lễ cưới con mình. Nhà vua sai bộ hạ đi mời nhiều khách. Nhưng những khách được mời không tỏ vẻ quyết định. Họ đã lấy lẽ nọ lẽ kia để khước từ và tựu trung họ không muốn đến. Nhưng ngày dự yến đã gần, nên nhà vua lại sai bộ hạ đi mời khách và dặn rằng: “Hãy nói với những người đã được mời ; mọi sự đã sẵn cả, trâu bò gà vịt đã giết và đã dọn xong, vậy xin mời các ông đến dự tiệc”. Nhưng những người được mời đồng thanh xin kiếu. Người này nói: Tôi mới tậu đám đất, tôi cần phải đi coi, xin ông miễn chấp. Người kia nói: Tôi mới mua năm đôi bò, tôi phải đi thử ngay hôm nay, xin ông cho tôi kiếu. Người khác chữa mình: Tôi mới cưới vợ, tôi không thể đi được.

Nhiều người khác nữa, không coi lời mời ra sao, họ cứ đi làm, kẻ đi thăm ruộng, người đi buôn. Có những kẻ táo bạo, dám bắt lấy bộ hạ, làm sỉ nhục rồi hủy diệt nữa!

Nhà vua hay câu chuyện, liền nổi giận đùng đùng. Vua sai quân lính đi dẹp bọn sát nhân và đốt nhà của chúng.

Bấy giờ tiệc đã dọn sẵn, và giờ dự tiệc cũng đã gần. Nên nhà vua càng thịnh nộ. Vua cho gọi đám bộ hạ đến và truyền rằng: Tiệc cưới đã sẵn, những kẻ được mời tỏ ra không xứng đáng. Vậy các ngươi hãy ra ngay các nơi công trường, phố xá và mọi cửa thành, hễ gặp ai, hãy gọi vào dự tiệc ; gọi cả những người nghèo khổ, tàn tật mù lòa và liệt bại vào đây nữa.

Ðám bộ hạ hối hả ra đi, gặp ai cũng mời vào. Tuy nhiên còn thừa chỗ. Một người bộ hạ bẩm với nhà vua: Thưa bệ hạ, thần đã thi hành mệnh lệnh, nhưng hãy còn dư nhiều chỗ. Nhà vua lại hạ lệnh: Ngươi hãy ra ngoài đường và vào hang cùng ngõ hẻm, gặp ai cũng ép người vào đầy nhà Ta. Ta bảo thật: Không ai trong những kẻ được mời, sẽ được hưởng tiệc của Ta, cho dầu bây giờ họ lại muốn đến.

  Nhờ lệnh đó, một lát sau phòng cưới đã đầy khách dư tiệc. Lớp người nghèo khổ xưa nay cảm thấy sung sướng. Vì không những được dự tiệc mà còn được lãnh chiếc áo quý nhà vua ban cho. Nhưng có người bởi kiêu hãnh hoặc hiềm thù với nhà vua, không chịu nhận áo cưới và cốt vào ăn cho sướng bụng. Bởi thế, lúc ngự vào xem những người ăn tiệc, nhà vua nhận ra một người không mặc áo cưới. Nhà vua thịnh nộ bảo hắn rằng:

Anh kia sao dám vào đây mà không mặc áo cưới? nhưng người đó chỉ tráo mắt nhìn không thèm thưa lại. Bấy giờ trời đã tối khuya. Nhà vua truyền đám bộ hạ ; Hãy trói chân tay nó lại, hãy ném nó ra ngoài cửa, ra nơi tối tăm để nó nghiến răng và khóc lóc!

  Kể xong dụ ngôn, Chúa kết luận:

    --Kẻ được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn thì lại ít!

  Với dụ ngôn trên đây, quả Chúa đã muốn ám chỉ nhiều điều.

  Ðiều thứ nhất: Ngài ví Nước Trời như một tiệc cưới thịnh soạn. Nhà vua thiết tiệc là Thiên Chúa. Vua sai các bộ hạ đi mời hai lượt là Thiên Chúa sai các tiên tri trong Cựu Ước đi giảng lần thứ nhất, và sai các tông đồ trong Tân Ước đi giảng lần thứ hai. Khách được mời lần trước là bọn thượng lưu Do Thái. Nhưng họ kiêu căng và đã khước từ, khách được mời lần sau là lớp thường dân Do Thái và mọi người trong nhân loại.

  Ðiều thứ hai: Chúa ám chỉ thái độ bọn thượng lưu Do Thái, bọn này được Chúa gọi vào hưởng Nước Trời, nhưng họ bạo ngược thái quá, không những từ chối ân huệ Chúa ban, mà còn giết các tiên tri và Chúa Cứu Thế nữa. Nên Thiên Chúa để cho quân La Mã đốt phá thủ đô của họ, bắt họ phải phiêu bạt mọi nơi.

  Ðiều thứ ba: Chúa ngụ ý những ai muốn nhập đạo Ngài, muốn chịu phép rửa tội, nhất là phép Thánh Thể, phải có linh hồn trong trắng khiết tịnh. Người chịu phép Thánh Thể mà mang tội nặng, cũng ví như kẻ mặc áo dơ mà vào dự tiệc, người đó sẽ bị phạt trong hỏa ngục, nơi tối tăm và đầy tiếng nghiến răng và khóc lóc.

  Những ý nghĩa của dụ ngôn trên đây tuy sâu xa, nhưng một số Biệt Phái cũng hiểu. Họ rất tức giận vì Ngài ám chỉ vào họ và ngầm lên án thái độ của họ đối với Ngài. Tuy nhiên lúc ấy họ cũng không dám ra mặt phản đối, hay thóa mạ Ngài một cách công khai. Riêng về phía các tông đồ, mấy ông được theo Chúa đi dự tiệc, cũng không hiểu hết ý nghĩa dụ ngôn. Nhưng các ông hí hửng vì thấy Chúa có tài biện thuyết không ai sánh kịp, làm đối phương thua cuộc và không tìm ra lối thoát. Các ông rất thích dụ ngôn Ngài mới kể, và suy mãi để tìm ra ý nghĩa sâu xa của nó. Các ông sung sướng nhớ lại xưa nay mình vẫn may mắn theo tiếng gọi của Ngài. Nên các ông hy vọng rồi đây trong bữa tiệc Nước Trời, các ông sẽ có một chỗ chắc chắn.

  Một người trong các ông để ý nhất về câu “Kẻ được gọi thì nhiều, nhưng người được chọn lại ít.” Câu đó ý nghĩa làm sao, ông không hiểu. Người Do Thái vẫn chủ trương rằng: Ngoài dân tộc và nòi giống họ ra, ít người được Thiên Chúa cứu. Ông phân vân hay lời Chúa đồng điệu với ý nghĩ kia. Nên sau khi bỏ nhà người Biệt Phái trở về, ông đến xin Ngài giải thích. Ông trình rằng:

    --Lạy Thầy, phải chăng sẽ chỉ có ít người được cứu rỗi?

  Chúa nhìn ông và chậm rãi nói cho ông biết lời Ngài phải hiểu theo ý nghĩa khác, chứ không hiểu theo quan niệm người Do Thái ; Nước Trời không phải là vật độc quyền của dòng tộc Abraham, nhưng là của chung thiên hạ. Mọi người đều được mời vào nước đó. Tuy nhiên mọi người phải giữ những đều kiện thiết yếu: là gắng công nỗ lực, là cần mẫn siêng năng, chớ biếng lười, chớ tự phụ. Nhưng đáng tiếc là nhiều kẻ đã không giữ đủ điều kiện, vì thế nên người được chọn lại ít. Chúa đáp lại:

  --Cửa vào Thiên Quốc là cửa hẹp và khó vào, bởi thế ít người vào được. Phần lớn họ chỉ thích vào theo lối cửa rộng. Nhưng lối cửa ấy sẽ đem đến chỗ chết. Cửa đưa đến sự sống chật chội thay! Nhưng phải ra sức vào cửa chật chội ấy. Có nhiều kẻ vào quá muộn, họ phải đứng ở ngoài gõ cửa và kêu van: Lạy chủ, xin mở cửa cho tôi. Nhưng người chủ trả lời: Ta không biết ngươi là ai và bởi đâu mà đến. Bấy giờ họ van nài: Thưa chủ xin chủ hãy nhớ lại ; chúng tôi đã gặp chủ, đã cùng ăn uống với chủ và được nghe chủ giảng dạy ở các nơi công trường của chúng tôi. Trong ngày ấy nhiều người khác nữa còn kêu rằng “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi chẳng lấy danh Chúa mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ đó ư?” Nhưng chủ cũng trả lời rằng “Hỡi quân gian tà, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ cả. Các người hãy lui khỏi mặt Ta.” Chủ phán xong, người ta nghe thấy họ nghiến răng và khóc than điên hoảng. Nhưng cùng lúc họ bị cực hình, thì cửa lại mở ra để đón lấy những người từ bốn phương tuôn đến. Những người này được dự yến tiệc của Nước Trời, bên cạnh các ông Abraham, Isaac và Jacob.

  Chúa kết luận:

    --Quả thật, về phương diện của Nước Trời, nhiều kẻ tưởng là được đặc ân và đứng thứ nhất, đã trở nên sau rốt hết. Trái lại nhiều người bị coi là rốt hết và đáng thải hồi, đã trở nên thứ nhất.

  Với dụ ngôn trên đây, Chúa đã dạy khá rõ: Nước Trời không phải là tư sản của một dân một nước, hay một lớp người được biệt đãi có địa vị cao trong tôn giáo. Ðiều kiện vào nước đó cũng không phải là được sống đồng thời với Chúa hay được làm môn đệ Ngài. Nhưng điều kiện thiết yếu là phải hy sinh, phải cố gắng đi vào đường hẹp của Thập Giới, và phải khiêm nhường, cần mẫn làm việc bổn phận. Nói tắt, điều kiện đó hệ tại ở lòng khiêm nhường và trong trắng.

      “Ai có điều kiện đó, chắc sẽ vào số những người được chọn.”