Sách » Tôn Giáo » Đạo Thiên Chúa » Cuộc đời Chúa cứu thế Giêsu

Phần 1

Quãng Ðời Mai Ẩn - Bà  Sẽ  Sinh  Một  Con  Trai

Jêrusalem, châu thành hoa lệ của xứ Balêtin (Palestine) Một trong những điểm kỳ quan nhất thành này là tòa nhà cao ngất. Ðó là Thánh đường nguy nga, nằm duỗi trên những dẫy cột đồ sộ bằng cẩm thạch muôn màu óng ả, lác đát dát bằng vàng và ôm ấp cái đỉnh lâu cũng bằng vàng.

Cung điện quí giá đó, toàn dân coi là nơi cực linh thiêng, khói hương phải luôn luôn nghi ngút bên cạnh những hàng nến sáng, để tượng trưng lòng trung thành và tôn kính vô biên.

Trong thâm cung đền Thánh đó, chìm mờ trong ánh sáng vàng nhạt một gian nhà hình chữ nhật, dài 20 thước tây, rộng 10 thước. Gian nhà đặc biệt này quen gọi là Cung Thánh. Ở giữa Cung Thánh nổi lên một bàn thờ phủ bằng vàng. Bên hữu bàn thờ, có một chân nến vàng 7 ngọn cung kính đứng đối diện với cái bàn nhỏ dát vàng bên kia, trên đó có 12 chiếc bánh tế không men, biểu hiệu 12 đại tộc Do Thái.

Cung Thánh là nơi tôn nghiêm thánh thiện. Chỉ có vị chủ tế được vào mỗi ngày 2 lần để dâng hương, ngoài ra không ai được lai vãng đến.

Theo tục lệ dân, trong 12 đại tộc Do Thái, chỉ có đại tộc Lêvi được đặc quyền chủ việc tế lễ. Nhưng thời gian qua, số người trong đại tộc Lêvi đã nhân thừa ra nhiều và phân ra nhiều chi tộc khác nhau, mỗi chi tộc lại chia ra làm tiểu tộc. Có thời kỳ, nguyên một chi tộc ông Aarong (Aaron) đã gồm 24 tiểu tộc, và mỗi tiểu tộc có từ 2000 đến 3000 người. Như vậy một thầy đạo trưởng trong suốt đời của ngài, có lẽ chỉ được chủ tế một lần là hết sức. Nên lần đó thầy rất lấy làm vinh hạnh và thường cảm động vô biến.

                                                            ***

Thời gian thấm thoát.... Ðột nhiên đã đến lượt tiểu tộc Abia đóng vai chủ tế. Và một ông già lẫm liệt uy phong đã được trúng cử dâng hương trong đền Thánh.

Ðó là ông già Giacaria (Zacharia) Ông đã kết nghĩa sắt cầm với bà Ysave (Elizabeth) một quí nhân thuộc dòng tộc Aarong làm thầy thượng phẩm từ đời ông Môi Sen (Mose)

Hai ông bà cùng hợp duyên hợp tính, sống với nhau trong tình kính Chúa ái nhân và thi nhau giữ lề luật Chúa cách cẩn thận tỉ mỉ không ai bắt bẻ được. Nên hai ông bà được Thánh Kinh khen là lương thiện và công chính. Nhưng trong cảnh thanh bình, vợ chồng hòa thuận, một vẻ buồn như vấn vương ngày đêm, vì hai ông bà đã cao tuổi mà con cái vẫn hiếm! Bà Ysave hằng ao ước nhưng không được diễm phúc làm mẹ. Thế mà theo quan niệm Do Thái, tủi thay những cặp vợ chồng không con! Những cặp vợ chồng không may ấy đáng khổ nhục, vì thiếu kẻ nối dòng trong ngày Chúa Chúa Cứu Thế ngự đến. Tuy nhiên hai ông bà vẫn siêng năng cầu nguyện, xin Chúa cho một người con, mặc dầu thời gian vẫn tàn nhẫn qua, râu ông mỗi ngày mỗi trắng xóa, tóc bà mỗi ngày mỗi bạc thêm, cả hai mỗi ngày mỗi xa hy vọng làm cha mẹ.

                                                                ***

Nhưng đã đến ngày dâng hương trong đền Thánh. Một ngày cảm động biết bao!

Sáng hôm ấy người ta thấy tiến đến Ðền thờ một ông già râu trắng, đường hoàng trong bộ lễ phục, áo dài đến tận gót, thắt chẽn lại ở ngang ngực với cái dải rộng, màu sặc sỡ và thêu rất tỉ mỉ công phu. Ông đi chân không, đầu đội mũ cao vành, bước đi nhịp nhàng kính cẩn. Thình lình một tiếng chiêng vang lên, hòa điệu với bản nhạc gần đấy.

Cảm động đến run lên, ông lướt nhẹ qua đám dân tiến vào cung Thánh. Ðồng thời hai vị phó tế lùi gót lại và để một mình ông cầu nguyện.

Trong trường hợp đặc biệt có một không hai này, ông tha thiết xin Chúa nghe lời dân, sai Chúa Cứu Thế xuống. Ông cũng xen thêm lời cầu khẩn nữa, là xin cho bạn mình được sinh con. Ông biết lắm, có con như mình là cả một đặc ân, chỉ có Chúa ban mới được. Và với một con, gia đình ông sẽ hoàn toàn an vui đẹp đẽ.

Ông già vẫn cầu nguyện....

Ông sấp mình xuống, ông chỗi dậy, ngửa mặt lên. Thốt nhiên, mắt ông bắt gặp một hiện  tượng lạ lùng ở bên hữu bàn thờ về phía chân nến 7 ngọn. Một Thiên Thần đã hiện ra sáng láng! Ông run sợ, nhưng Thiên Thần dịu dàng nói với ông:

  "Hỡi Giacaria đừng sợ “

 "Lời ông cầu khẩn đã được chấp nhận, và bạn (vợ) ông là bà Ysave sẽ sinh cho ông một con trai “

"Ông sẽ đặt tên cậu là Gioan, cậu sẽ là nguồn vui cho ông và nhiều người sẽ reo mừng trong ngày sinh của cậu, vì cậu là vĩ nhân trước mặt Chúa. Cậu sẽ không uống rượu hay bất cứ một chất gì có gây say sưa ; Chúa Thánh Thần sẽ thánh hóa cậu ngay lúc còn trong lòng mẹ.“

"Cậu sẽ hướng dẫn nhiều con dân Íchriên ( Israel) về với Chúa. Cậu sẽ nhiệt liệt phụng sự Chúa và đi theo con đường Êlia đã vạch thuở trước, để tạo nên những người nhân đức như tổ phụ ngày xưa, và uốn những kẻ cứng lòng qui thuận lẽ phải, để toàn dân sẵn sàng trong ngày Chúa ngự đến “.

Thiên Thần nói rõ ràng. Nhưng hoặc chưa định thần được hoàn toàn, hoặc chưa nắm chắc trong tay được người con như đã từng nắm chắc chòm râu bạc, ông già rụt rè thưa:

 “Làm cách nào để nhận biết điều đó? vì thực tôi đã già và bạn tôi cũng đã quá kỳ sinh con “

Lời thưa có vẻ nghi nan và thiếu rõ rệt. Quả thực ở đây không phải là Thiên Thần hiện ra lần đầu. Lịch sử Ðạo cũ đã thuật lại nhiều trường hợp thiên thần hiển hiện cùng các thánh tổ. Ông già lại là bậc thông hiểu Kinh Thánh, hẳn ông không thể hồ nghi được về sự thiên thần hiển hiện, là vì ông còn ngờ sự mệnh của thiên thần.

Thiên Thần ra bộ trách mắng:

"Ðáng lẽ ra ông tin ngay lời tôi mới phải, vì tôi là Thiên Thần Giabiên ( Gabriel) được hầu cận trước tòa Thiên Chúa. Chính Ngài đã sai tôi đến báo tin mừng cho ông. Thế mà ông không tin. Vậy này đây, ông sẽ bị cấm ngôn cho đến ngày con ông ra ánh sáng, để chứng thực lời tôi đã nói với ông “.

Ông già Giacaria chưa kịp phân trần, Thiên Thần đã vút biến đi. Và một thảm trạng còn lại với ông đang lo sợ bối rối. Từ lúc đó ông hóa ra câm!  Ông bị phạt vì đã không mau mắn lấy lại một tiếng “vâng” thưa lại với sứ thần của Thiên Chúa.

Nhưng bù lại, một nguồn vui sướng đã trào lên lòng ông, vì mắt ông đã thấy thiên thần hiển hiện và tai ông đã được nghe tên cậu con trai tương lai yêu quí của ông. Ông kính cẩn và cảm động ghi kỹ những lời:

  "Ysave sẽ sinh cho ông một con trai “

  "và Gioan là tên người con trai ấy “

                                                                  ***

Ở ngoài dân chúng chờ đợi ông đã mỏi. Từng nghìn cặp mắt trố vào cửa nhà thờ. Người ta bắt đầu sốt ruột và khó chịu. Từ phía nọ tới phía kia rầm rầm lên những câu:

-         Sao ông chủ tế này chậm chạp thế?

-         Gớm ông già đạo đức có khác!

Cũng có người láu lỉnh:

- Thôi, đích rồi, hay chừng ông cụ không con, lại cầu tự đấy. Cụ cần phải xin con trai!..

Người ta đang kháo nhau rầm rộ, thì bóng ông già ở trong cung Thánh hiện ra. Nhưng ông có những cử chỉ khác thường. Toàn thân ông lộ vẻ bối rối, ông không làm chủ được mình, và hình như ông vất vả lắm mới nhớ được phải ban phép lành cho dân. Ông giơ tay lên và cố sức đọc lời lễ nhạc. Nhưng lạ! Lưỡi ông như dính chặt lại trong cổ...

Nhiều người đoán chừng ông già mới chứng kiến một việc lạ lùng trong cung Thánh, có lẽ là một sự hiển hiện ly kỳ.

Từ ngày ấy ông già phải làm hiệu ra dấu để tỏ bày ý muốn.

Cuối tuần ... phiên chủ tế  thuộc tiểu tộc Abia kết liễu. Tuy với tình trạng điếc câm, ông già Giacaria sung sướng âm thầm trở lại nhà ở làng Anhkarim ( Ain-Karim) cách Jêrusalem nửa dặm.

Và không bao lâu, bà Ysave cảm thấy nặng nề.Bà hiểu mình đã có thai.Bà mừng rỡ hết sức, luôn luôn mong đến ngày sẽ được làm mẹ, trong năm tháng bà không ra khỏi nhà. Bà chúc tụng Chúa luôn luôn:

“Chúa nhân từ quảng đại! Người đã cứu tôi khỏi cái nhục không con trước mắt thế gian”

Tôi  Xin  Vâng

KHUÊ PHÒNG TỊCH MỊCH CỦA TRINH NỮ RỘN TIẾNG CHÀO CỦA NAM NHI

Tháng sáu năm ấy, năm bà Ysave thụ thai. Thì ở góc trời Nagiaret ( Nazareth) một trinh nữ đang cầu nguyện.

Ðột nhiên một Thiên Thần hiện đến.

Người trinh nữ đó tên là Maria  ( Mary)

Cô là một thiếu nữ  xuân xanh trạc chừng mười lăm. Công, dung, ngôn, hạnh, bề nào cô cũng nổi danh một cách tuyệt vời. Thân phụ cô là cụ ông Gioan Kim ( Joakim) và cụ bà là Anna, thuộc dòng tôn thất của minh hoàng Ðavít ; nhưng cả về danh vọng lẫn gia nghiệp, đã trụt xuống bậc trung lưu. Trong các chị em họ của cô, Thánh Kinh ghi tên  hai bà là Ysave vợ ông Giacaria và bà Maria mẹ ông Giuse và  ông Giacóp.

Bên Trung Ðông có tục kết hôn rất sớm. Thân phụ cô Maria đã nhận gả cô cho một người thợ mộc tên là Giuse ( Joseph) Ðó thật là môn đăng hộ đối...Ông Giuse thuộc hoàng tộc Ðavít, nhưng nay cảnh huống cũng như cô Maria, cửa nhà thanh bạch, làm chỉ đủ ăn, không có gì dư dật. Trong tục lệ Do Thái, trước lễ thành hôn thì có lễ đính hôn. Lễ này có vẻ long trọng và chính thức lắm  ( Theo tục Do Thái sau khi đính hôn, hai người đã coi nhau như vợ chồng, chỉ khác là về ăn ở chung với nhau, nhưng hai bên đã phải chịu những bổn phận làm vợ làm chồng. Vì thế lễ đính hôn quan trọng hơn lễ thành hôn, và con cái sinh ra trong thời kỳ đính hôn, cũng coi như là con chính thức.) Nên đính hôn rồi, đôi bên có quyền dùng tiếng  “vợ chồng "gọi nhau.

Một ngày đẹp trời kia, họ hàng hai bên tề tựu đông đủ, ông Giuse mặt đỏ khác thường, đã tiến ra tuyên bố cách e thẹn trước mặt mấy chứng tá với cô Maria "Từ nay cô kết bạn với tôi "và dúi vào tay cô ít tiền để bảo đảm lời đính ước. Rồi cả hai uống chung một cốc rượu, để rơi tuột cốc rượu xuống dưới chân ; chỉ nghĩa là không ai dùng cốc đó nữa. Từ ngày ấy hai đời sống kết thành một và hai quả tim hòa nhịp yêu nhau để đợi ngày mở tiệc thành hôn sung sướng.

Cô Maria đã đính ước với ông Giuse ở Nagiarét, nhưng cô vẫn ở nhà cha mẹ và theo đời sinh hoạt đã quen ; lý tưởng của cô là mến Chúa yêu người, công việc của cô là giúp đỡ cha mẹ, quét dọn, thêu thùa, nấu ăn. Bây giờ cô lại mang thêm một bổn phận nữa, là phải yêu quí hết sức và trung thành với bạn Giuse. Nên cô càng siêng năng cầu nguyện để cả hai linh hồn cùng hòa hợp trong điệu đàn kính ái.

Ngày kia cô Maria triền miên cầu nguyện trong khuê phòng tĩnh mịch. Cô cầu nguyện rất sốt sắng, có lẽ sốt sắng nhất đời. Cô năn nỉ xin Chúa thương tình nhân loại, sai Chúa Cứu Thế xuống. Phòng đó là nơi thâm kín, duy có một cửa sổ hẹp đem chút ánh sáng vào. Cô đang cầu nguyện, bỗng nhiên xảy đến một trạng thái lạ: Trừ ra một chút ánh sáng vẫn thuộc hàng ngày, có những làn quang tuyến khác thường từ trên chảy tràn xuống một cách như reo vui. Phòng cô sáng rực, hiện rõ hình một nam nhi đang đầm mình trong ánh sáng.

Nam nhi đó là Sứ thần Gabriel. Ngài là một thần cao cấp trong phẩm thiên thần được vinh dự hầu cận trước tòa Thiên Chúa. Trước đây mấy tháng, chính Ngài đã đem tin mừng cho ông già Da-ca-ri-a.  Nay lại được đặc cử mang tin vĩ đại hơn, Ngài sung sướng lắm, Ngài nghiêng mình kính cẩn chào cô Maria:

"Kính mừng Bà đầy ơn Thánh “

"Thiên Chúa ở cùng Bà “

"Bà phúc đức hơn mọi người nữ “

Lời thiên thần có nghĩa "kính chào và ca tụng " Ngay từ bé, cô Maria vốn là cô gái rất ngoan, kiều mị và cao thượng, khiến ai cũng phải yêu mến kính nể.

Thường thường một nữ nhi bắt đầu tiếp xúc với người ngoài, hay có tính tò mò ; đối với bạn nhiều hơn tuổi, hay giả hình và nói dối. Rồi cùng đi với thời luân chuyển, tính hồn nhiên biến đi, nhường chỗ cho sự e thẹn, và có khi là ganh tị ghen ghét v..v.. Nhưng tất cả những tính tình ấy không bao giờ lảng vảng tới linh hồn cô Maria. Bất chấp thời gian và hoàn cảnh, cô cứ luôn luôn là cô gái hồn nhiên và thẳng thắn. Hồn nhiên như làn hương trước gió hiu hiu, và thẳng thắn như dẫy cột trụ trong Ðền Thánh. Cô sống trong thế gian nhưng không vương vấn tình thường của thế gian. Lòng của lúc nào cũng tươi thắm như hoa hồng, và hồn cô trinh bạch như bông huệ. Cô xa lánh tất cả những gì kiểu cách hư hoa, là đê hèn ích kỷ. Ai ác cũng mặc, ai cười cũng kệ. Ngày lại ngày, cô chỉ chuyên chú leo mau những bậc thang nhân đức.

 

Tâm hồn cao thượng giầu đạo hạnh ấy đã đem lại cho cô sở thích đắm mình trong Thánh Kinh và câu nguyện. Ngày ngày suy gẫm Thánh Kinh, cô hiểu rõ hơn ai hết rằng ; vị cứu tinh của muôn dân không phải hiểu theo nghĩa vật chất binh bị. Theo quan niệm của cô, Chúa Cứu Thế sẽ không mài gươm sửa kiếm để chặt gẫy ách đô hộ La Mã, Ngài cũng không đem thiên binh vạn mã đi chinh phục thế giới. Chúa Cứu Thế sẽ đến, phải rồi. Nhưng sứ mệnh của Ngài là hướng dẫn thế gian bằng ngọn đuốc sáng của sự thật và sưởi ấm lòng người bằng lửa mến yêu, để xây dựng hòa bình trên nền móng công bình chính trực.  Hiểu biết như vậy, nên cô rất mong đợi Chúa Cứu Thế đến, và những giờ cầu nguyện, cô luôn luôn xin Thiên Chúa sai Ðấng Cứu Thế xuống thế gian. Ðáp lại ý nguyện ấy, Thiên Chúa đã nghe lời cô, và thật giờ đây, sứ thần của Ngài nghiêng mình kính cẩn chào cô:

Kính mừng Bà đầy ơn Thánh, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi người nữ.

Nhưng thoạt nghe lời Thiên Thần chào, cô Maria khiếp sợ ...

Là trinh nữ trác việt, chí khí hiên ngang, cô không sợ vì  bị chìm dưới làn quang tuyến mới lạ, hay vì bắt gặp một nam nhi trong ánh sáng. Nhưng thiên thần ca tụng cô và chỉ nói đến vinh quang cao cả, mà cô lại vốn tính khiêm cung tột bực, nên nghe lời khen, cô lạ lùng, bỡ ngỡ... Cô yên lặng suy nghĩ và chưa hiểu ra sao. Nhưng từ trên luồng ánh sáng, thiên thần đã khuấy động bầu khí tịch mịch của khuê phòng bằng những lời cam đoan và an ủi:

   "Nhưng thưa Bà, xin đừng sợ, vì Bà đã được ơn nghĩa với Chúa “.

Rồi không để mất một giây, thiên thần trình bày ngay với cô việc vô cùng vĩ đại có một không hai trong lịch sử:

  "Bà sẽ trở nên mẹ và sẽ sinh một con trai, quý danh là Giêsu. Ðó là một thiên đồng siêu vị, vì Ngài chính là Con Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai vàng vua Ðavít là Tổ phụ Ngài. Và Ngài sẽ là vị đại hiển vinh của thế giới, nước Ngài trị sẽ không có thời hạn và biên cương “.

 Thiên thần đã mạc khải việc Chúa Cứu Thế giáng sinh. Cô Maria cũng hiểu như vậy, vì lời thiên thần hợp khít với lời tiên tri trong Cựu Ước mà cô đã nhập tâm.

Theo lời tiên tri đó, Chúa Cứu Thế sẽ giáng sinh vào dòng tộc của minh hoàng Ðavít. Nên những người thuộc dòng tộc hoàng gia đều đã có tham vọng làm cha mẹ hay bà con thân thuộc với Chúa Cứu Thế. Nhưng riêng với cô Maria, cô đã đặt mình vào một trường hợp đặc biệt.

Say mê đức khiêm cung, cô đã bỏ ý định trở nên người mẹ, để một đàng xa hẳn cái cao vọng sinh Chúa Cứu Thế và đàng khác lại có thời gian thong thả để hiến mình làm tôi mẹ Thiên Chúa. Nhất định ôm ấp cái vinh dự làm tên nô tỳ vô danh như vậy, cô đã gắng sức tu thân tích đức và chuyên cần ăn chay cầu nguyện để xin Chúa Cứu Thế ngự đến. Nói rõ rệt hơn, cô đã khấn ở đồng trinh trọn đời. Cô đính ước đấy. Nhưng cô đã tỏ cho Giuse ý định và lời khấn của cô. Và may mắn quá, cũng như cô, Giuse cùng nuôi một ý nguyện. Ông cũng khấn ở đồng trinh trọn đời và chỉ ước ao được phụng sự Thiên Chúa một cách triệt để. Và trong chỗ đó, cả hai chỉ áp dụng một hình thức bên ngoài của Luật Cũ, để che dấu một sự vô cùng cao quý bên trong là chí khí ở trinh khiết trọn đời. Cả hai ước định ở bậc vợ chồng, nhưng với tâm hướng coi nhau như anh em, chỉ có thế. Mục đích của hôn nhân là để sinh con và tương thân tương ái. Ở đây cả hai đều gạt bỏ mục đích trước mà chỉ chú trọng đến mục đích sau. Ðó là trường hợp duy nhất trong lịch sử nhân loại, và Chúa đã dùng trường hợp đó để che mắt dân Do Thái về sự mầu nhiệm Chúa Cứu Thế giáng sinh ( theo ý kiến nhiều tác giả, để che dấu cả ma quỷ)

 Thiên thần đã kính chào và đề nghị, nhưng cô Maria vẫn lặng yên chưa thưa lại. Thiên Thần cũng đợi chờ cung kính. Thấy Chúa mở lượng hải hà yêu nhân loại thiết tha, cô Maria cũng xúc cảm và dạt dào sung sướng. Cô nghĩ, nếu đẹp ý Chúa mà trở nên người Mẹ, cô đâu dám từ. Nhưng ý định ở đồng trinh vẫn hiện lên trong lý trí, nên theo đà hồn nhiên và thánh thiện, cô xin thiên thần giải thích:

  Nhưng việc đó làm sao được? Vì tôi đã khấn và quyết ở đồng trinh “

Câu đáp từ đó, lời lẽ đơn giản nhưng ý nghĩa sâu xa. Ðã khấn ở đồng trinh, nghĩa là không bao giờ ăn ở với người nam nữa. Như thế còn sinh con làm sao được?

Nhưng với trí khôn sáng chói như mặt trời, thiên thần đã hiểu ngay và suy phục. Ngài chịu diễn giải:

  "Thưa Bà! Bà sẽ có thai mà vẫn còn đồng trinh. Vì trong trường hợp này không phải bởi người nam, nhưng bởi Ðấng Toàn Năng làm phép lạ vĩ đại cho Bà chịu thai. Bà sẽ sinh một Thánh Tử, và Thánh Tử đó chính là Con Thiên Chúa. “

Ý nghĩa lời thiên thần như sau: Chúa Toàn Năng có thể làm được phép lạ nổi nhất về bên Thiên Chúa, là tự hạ làm người, thì Ngài cũng có thể làm được phép lạ nổi nhất về đàng nhân loại là cho trinh nữ chịu thai mà còn đồng trinh. Nói cách khác, một Ngôi Thiên Chúa có thể trở nên con cái một người mà không mất bản tiùnh Thiên Chúa, thì đối lại, một người cũng có thể trở nên Mẹ Thiên Chúa mà không mất đức đồng trinh. Theo luật thường, người nữ phải ăn ở với người nam mới có thể sinh con. Nhưng ở đây, vì Chúa sẽ làm phép lạ, nên không cần người nam. Một mình trinh nữ sẽ chịu thai và sinh con, cũng tự như hạt lúa mì, một mình nó có đủ cả âm dương để khai hoa kết quả.

Rồi hình như muốn bảo đảm lời mình nói, thiên thần lại báo thêm một tin vui:

  "Thực ra chẳng có gì mà Thiên Chúa không làm được. Ngay như bà Ysave là chị họ của Bà, dẫu đã già quá tuổi mà cũng sẽ sinh con. Nên chính người mà xưa nay thiên  hạ vẫn chê là muộn mằn, son hiếm ; thì ba tháng nữa sẽ được vinh dự làm mẹ ".

Lời đề nghị và giải thích của thiên thần đã chấm dứt.

Lúc ấy—nói theo các thần học giả—trên trời và dưới đất  hình như bám vào một giây phút đợi chờ, cái giây phút tùy ở sự định đoạt của Trinh Nữ với tiếng “có” hay “không” để giữa Thiên Chúa và nhân loại sẽ lóe ra một tia sáng giao hòa, giữa trời và đất sẽ bắc một cầu thang cứu rỗi...

Về phần cô Maria, một đàng thấy cửa trời rộng mở, nguồn từ bi của Chúa trào chảy xuống dương gian ; một đàng khác cũng hiểu thánh ý Chúa muốn cô chịu thai mà còn đồng trinh trọn vẹn, nên cô vui mừng hết sức, phó mình trong tay Chúa và quy thuận ý trên. Tuy nhiên , bây giờ phải trả lời cho thiên thần, mà trong trường hợp này trả lời không phải dễ. Nhưng rồi nhờ đức khiêm nhường tột bực, và sẵn trí khôn sâu sắc, cô đã tìm được câu trả lời rất đơn sơ gọn gàng nhưng sâu sắc ngay chính trong nhơn đức khiêm nhường và khôn ngoan:

  "Này tôi là tôi hèn của Chúa. Tôi xin vâng như lời Người dạy “.

Lời thưa của cô có ý nghĩa rất sâu “Này tôi” là tiếng thốt ra tự đáy lòng. Nó biểu lộ tâm tình người dưới sẵn sàng chịu mệnh lệnh người trên. Ở đây chỉ nghĩa cô hết lòng vâng mệnh lệnh Chúa, như em bé trao mình vào trong tay người mẹ. Cô muốn vâng lời Chúa một cách hoàn toàn, không giữ lại một mảy may tư ý.

“Này tôi là tôi hèn” Cô vâng lời vì cô vốn coi mình là một tôi hèn, là nữ tỳ vô danh của Chúa. Nên trong lời thưa, tự nhiên cô xưng mình là tôi tá, cho dẫu trước đây mấy phút, Thiên thần đã chào cô là phúc đức, được Chúa ngự trị trong lòng luôn luôn.

Theo các Thánh, trong các cách đẹp lòng Chúa, vâng lời là hợp ý Người hơn hết, và trong mọi nhân đức, khiêm nhường là khó hơn cả. Lời thưa vắn tắt của cô Maria đã bao trùm tất cả những cái "hơn hết "ấy một cách hoàn toàn đầy đủ.

Và đồng thời với lời thưa khiêm tốn của cô. Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thai trong lòng cô. Ngài đã làm một phép lạ vô cùng vĩ đại, mà các thần học sĩ quen gọi là "phép lạ nhập thể "nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa mặc lấy nhân tính bao gồm linh hồn và thể xác của loài người.

Lời thưa của cô Maria quả là đầy đủ và đã được thực hiện. Lời thưa vừa dứt, Thiên thần Gabriel hiểu sứ mệnh “truyền tin” của mình cũng đã hết, Ngài nhẹ nhàng biến đi.

Những làn quang tuyến không thấy nữa. Khuê phòng cô Maria lại trở về tĩnh mịch với chút ánh sáng mờ do cửa sổ hẹp, vây quanh lấy cô đang cầu kinh ngây ngất.