Sách » Thể loại khác » Chuyện về hoa lan

Hồng Lan phiêu lưu ký

 

 
Tôi sinh ra và lớn lên trong một cái chai thủy tinh trong suốt. Cùng chung một lứa với tôi chừng 50 chục chị em cùng sinh một lượt.

Chúng tôi chen chúc trong chiếc chai chật hẹp, đường bán kính chỉ rộng chừng 12 phân. Không gian của chúng tôi là một khoảng hình chóp nón cao khoảng 20 phân. Nắp chai đóng kín mít cho nên không khí ngột ngat, tù túng lại thêm chỗ ỏ chật chội làm cho chi em chúng tôi cãi vã suốt ngày. Lá đan lá, rễ quấn lấy nhau, ra đụng vào chạm làm sao chúng tôi không chí chóe và cãi cọ cho được. Vả lại lời ra tiếng vào, chuyện nọ chuyện kia, bình phẩm người này mập phì, người kia ốm nhom ốm nhách hay lắm lời nhiều chuyện vốn là bản tính của chúng tôi mà. Được một cái thức ăn, thức uống đầy đủ không phải tranh chấp hay phải lấy sức người sỏi đá cũng thành cơm. Khí hậu lại ấm áp và không mưa không gió cho nên chúng tôi lớn như thổi. Tuy vậy có những cô em sinh sau, nở muộn lại bị những bà chị lấn át cho nên còi cọc, còm nhom đáng thương hại. Riêng tôi, tôi ở vào khoảng trung bình chẳng ốm mà cũng chẳng mập, thon thon mình liễ. Tôi cũng chằng phải là kẻ ít lời mà cũng không bị liệt vào hàng mồm loa mép giải, chua ngoa, đanh đá. Nhan sắc cũng chẳng mặn mà chim sa cá lặn nhưng cũng chẳng đến nỗi ma lem, ma luốc như quỷ dạ xoa.

Một hôm người ta đập vỡ cái chai và lôi cổ chị em chúng tôi ra ngoài. Cô chị cả to lớn khỏe mạnh thường ăn hiếp các em được một cái cù ngoéo móc vào bụng lôi ra trước tiên và dần dần đến lượt các chị em tôi. Tôi là người thứ 13 bị lôi cổ ra, cho nên từ nay cứ gọi tôi là Thập Tam Cô nương cho tiện. Họ trồng chúng tôi vào trong một thứ đất hỗn hợp không mịn màng như ở trong chai và chẳng có mùi chuối, mùi dừa nhưng lâu ngày đã mất mùi thơm chỉ còn một mùi ung ủng làm cho chúng tôi đôi khi lợm giọng. Đang ở trong chai nay được ra ngoài sinh sống, không khí thoáng đãng làm chúng tôi tưởng chừng như bay bỗng trong không gian. Mỗi đứa chúng tôi có một khoảng vườn riêng biệt chừng 9 phân vuông. Thế là từ nay mỗi đứa một nhà, một vườn hết còn tranh giành hơn kém. Người ta cho tôi và 7 chị em nữa vào trong một khay nhựa có nhửng ô nhỏ và 8 khay lại đặt trong một mẹt. Đưa mắt nhìn quanh, họ hàng nhà tôi ở đâu ra, sao mà nhiều thế. Không phải là chỉ có trên 40 chị em tôi vì trong khi di tản chiến thuật vài cô em bé bỏng bị gẫy thân, dập lá thế là bị quăng vào thùng rác. Chị em tôi được xếp ngay cạnh mấy trăm chiếc khay gồm các chị em cùng một trang lứa cho nên tổng số lên đến cả trăm ngàn người.

Bên cạnh chiếc mẹt của chúng tôi là một chiếc mẹt khác đựng những chậu cây già cằn cỗi đã đơm bông kết trái chỉ còn chiếc cuống hoa trơ trọi nực cười. Trong số những cây này có một cây tuy già nua tàn tạ nhưng sao lại có những đường nét giống chị em tôi như đúc. Hỏi thăm xa gần mới biết đó là bà mẹ thân sinh ra chị em chúng tôi. Mẹ tôi cho biết:

Bà nội sinh ra mẹ chúng tôi ở miền rừng núi hoang vắng, bên bờ suối trong và khu rừng thưa thớt thuộc tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Có người thắc mắc hỏi tại sao lại có chuyện kỳ lạ: bà nội làm sao sinh ra mẹ tôi được? Phải là bà ngoại mới đúng chứ? Xin thưa rằng chúng tôi thuộc về một loài hoa không có cha, ông mà chỉ có bà có mẹ. Bởi vì tạo hóa sinh ra, cấu trúc của bông hoa lan đã có sẵn nhị đực ở trong đó cho nên chỉ nhờ ong bướm giúp chúng tôi thụ phấn kết quả và lưu truyền nòi giống.

Họ hàng nhà tôi đến lập nghiệp ở khu vực hoang dã này có lẽ đã mấy trăm năm rồi. Chúng tôi sống một cuộc đời bình dị yên lành cùng với cỏ cây khác, ít khi tiếp xúc với loài người hay thế giới bên ngoài. Một vài con nai, con hoẵng dừng chân uống nước cũng chẳng thèm đề ý đến thứ cây cỏ thấp lè tè, lá cứng và lại nham nháp vô vị. Vài thổ dân đi qua đôi khi cũng dừng chân ngắm mấy bông hoa dại mầu hồng hồng mong manh lung linh trong nắng sớm. Có một người ngắt một bông gài lên mái tóc của một thiếu nữ mình trần với nước da rám nắng.

Thế rồi sau đó chẳng bao lâu, một đoàn người ào ào vào rừng đào xới và họ hàng nhà chúng tôi bị bứng lên cho vào bao tải không chừa lớn nhỏ. Từ bà cụ già gần đất xa trời cho đến đám con nít hãy còn thò lò mũi xanh cũng không bị bỏ sót. Con người sao mà dã man, độc ác đến như vậy. Họ dồn chúng tôi vào những bao tải chật hẹp đến ngộp thở rồi đóng vào thùng chở đi. Mẹ tôi mấy lẫn ngất sỉu, khi tỉnh giậy thấy mình nằm ở một nơi xa lạ, mà con người cũng nói nhí nhăng, nhí nhố không tuy cùng ngôn ngữ với người Việt. Nhờ đặc tính Thông thiên ngữ trời ban cho nên chúng tôi hiểu biết tiếng nói của mọi loài sống trên thế gian.

Thì ra họ mang chúng tôi bán sang Trung quốc qua cửa khẩu Lào Cay với giá từ 1-3$ một ký khoảng 200 cây. Sau đó họ chia chúng tôi làm nhiều nhóm, nhóm bán cho Đài Loan, nhóm đi Nhật Bản. Mẹ tôi và bà nội tôi thuộc nhóm thứ nhất cùng với khoảng ba, bốn chục ngàn người khác, còn nhóm đi Nhật bản ít hơn.

Họ mang bà tôi và mẹ tôi và những người khác ra trồng trên một mảnh đất khác lạ. Khi đó mẹ tôi còn nhỏ vẫn còn bám cứng lấy bà tôi không chịu rời. Tuy không phải là chỗ ở lý tưởng nhưng vì bản năng sinh tồn nên chúng tôi cũng đành phải chấp nhận quê hương thứ hai.

Cuộc đời trôi nổi của bà và mẹ tôi chỉ tạm dừng ở nơi này mấy tháng cho đến một hôm 2 người lạ mặt, mũi lõ, tóc nâu đến xem. Họ nâng lên, hạ xuống, họ lật mặt lá và bàn tán sôn sao. Cuối cùng họ cho mẹ tôi và vài người vào trong thùng giấy đóng kín, mẹ tôi chỉ nghe thấy tiếng ầm ầm như thác đổ. Trong thùng tối om cho nên mẹ tôi cũng chẳng rõ là đêm hay ngày. Khi có ánh sáng lọt vào mẹ tôi thấy mình đã ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Đây là một gian nhà rộng mênh mông chứa đầy là những giàn, giá chậu mẹt to nhỏ khác nhau. Chung quanh toàn những cây khác lạ chưa bao giờ thấy. Hoa to, hoa nhỏ xanh, tím, đỏ vàng đủ mầu hình thù trông thực dị thường.
Chưa kịp ngắm nghía, họ đã quăng họ hàng nhà tôi vào một chiếc thùng nước mùi hôi không sao tả siết. Họ bảo là để sát trùng làm cho chúng tôi gần như chết ngộp. Mấy tháng sau, một đoàn người phần đông mang kính trắng gọng vàng nói năng có vẻ thức giả đến thăm. Chủ nhân ông nói mấy câu giới thiệu và người này cầm lên xem xét và nói quả quyêt là đúng, người khác hãy còn nghi ngờ. Sau đó một người lôi từ trong xách tay ra một xác cây đã được ép khô. Họ nâng bà tôi và mẹ tôi lên so sánh. Trong câu chuyện của họ, bà tôi nhớ lại câu chuyện khi xưa do các cụ tứ mấy đời có nhắc lại.

Họ kể rằng xưa kia vào năm 1913 có một quân nhân sau khi mãn nhiệm kỳ ở Việt Nam mang về Pháp quốc một khóm lan lạ lùng: cánh hoa trắng hồng, Ở giữa có một cục u mầu hồng sậm, huơng thơm nhẹ. Khóm lan này sau được chia ra làm 3 nhánh. Nhánh thứ nhất mang sang vườn hoa Hoàng Gia Anh Quốc, nhóm thứ 2 một người Nhật bản mua về. Nhánh thứ ba nuôi trồng tại Pháp. Sau một thời gian cả 3 nhánh đều chết. Vườn hoa Hòang gia đem cây ướp khô, còn người Nhật ngâm vào trong ruợu. Nhánh thứ 3 không thấy nói tới, nhưng các nhà thám hiểm và thực vật người Pháp và trên thế giớii đổ sang Việt Nam tìm cây lan đó nhưng không thành công vì người quân nhân đã qua đời vì bệnh sốt rét ngã nước.

Năm 1922 gì đó, nhà thám hiểm người Pháp tên là Poilane vào khu rừng hẻo lánh giáp giới Nha Trang và Đà Lạt đã thấy những bông hoa xinh đẹp lạ thường cho nên đã đánh một cụm mang về Pháp quốc cho một nhà bác học xem xét. Người ta nói rằng khi nhà bác học này nhìn thấy cây lan, mà ông tin rằng đã tuyệt tích giang hồ. Quá mừng rỡ, ông lên cơn đau tim và chết ngay khi còn cầm cây lan trên tay, cho nên mặt trái của lá cây lan tím sậm như máu.

Chuyện này chẳng có biết đúng hay không nhưng sau đó tài liệu ghi chép rằng: khóm cây này đuợc giao cho cho ông Delenat, người quản thủ vườn cây của thành phố Paris (Fleurite Municipal de la ville de Paris). Năm 1924 bông hoa đầu tiên nở ra trong bầu trời lạnh giá của nước Pháp. Bông hoa này mầu sắc hài hòa đượm vẻ Á Đông đã làm cho giới thưởng lãm ngạc nhiên, trầm trồ khen ngợi và người ta lấy tên ông Delenat để đặt cho cây lan: Paphiopedilum delenatii). Năm sau cây này lại nở hoa giúp cho ông Mornay, người kế nhiệm chiếm một giải thưởng cao quý của nước Pháp (Certificate de Merité avec felicitations). Sau đó họ chia cây lan ra làm nhiều nhánh, nhưng vì thể chất vốn dĩ yếu đuối lại thêm thổ nhưỡng và khí hậu khác biệt nên cây lan chết dần, chết mòn. Chỉ có một nhánh do tổ hợp Vacherot & Lecoufle biết cách nuôi trồng nên đã đơm bông kết trái, gieo hạt nẩy mầm. Nhưng thời bấy giờ kỹ thuật cấy giống và nuôi trồng còn thô sơ cho nên rất ít người đủ tiền và đủ sức nuôi dưỡng. Bởi vì vào thời đó giá một cây lan tương đương với một gia tài vào bậc trung lưu.


Thế rồi chiến tranh chống Pháp xẩy ra, tiếp theo một cuộc chiến tranh chủ nghĩa huynh đệ tương tàn. Núi rừng Việt Nam là nơi bọm rơi đạn nổ, mìn bẫy giăng gài chẳng ai dám vào rừng tìm măng, kiếm nấm còn nói gì đến chuyện săn lùng hoa thơm cỏ lạ. Năm 1975 từ khi hòa bình trở lại quê hương chúng tôi, những khách Âu Châu từ Nga Sô, Hòa lan, Bỉ, Đan mạch, Đức v.v... đều sang tìm kiếm tông tich ho hàng chúng tôi. Khi trước Poilane muốn dấu diếm nơi tìm được hoa lan để giữ nguồn lợi cho riêng mình, bởi vì vào đầu thập niên một cây lan có giá trị bằng một căn nhà, cho nên khi ông ta chết không ai biết đến gốc gác họ hàng nhà tôi ở đâu cả.

Nhưng rối vào khoảng đầu thập niên 1990 người ta lại thấy chúng tôi lại xuất hiện trên thị trường hoa lan tại Đài Loan,Nhật bản, Âu châu và Hoa Kỳ. Điều tra ra mới biết rằng vài nhà xuất cảng ở Đà Lạt thường gửi những cây lan đất Cymbidium aloifoliumCymbidium bicolor, Dendrobium nobile sang Đài loan để làm dược liệu. Họ cũng gửi theo một vài cây lan khác để làm mẫu và sau đó họ hàng chúng tôi bị nhóm thương gia này thuê người vào khu vưc dọc con sông Liêng Lý, gần vùng núi Hòn Giao cách thị trấn Nha Trang chừng 50 cây số về phía tây. Chúng tôi bị săn lùng, đào tận gốc, bứng cả cụm không còn chừa một con đỏ. Tất cả những giống lan ở Việt Nam bị đem ra khỏi rừng, khỏi nước.

Người ta ước lượng nhóm thương gia này đã xuất cảng trước sau khỏang 6 tấn lan đủ loại. Nhưng về sau này cứ nhìn theo tấm ảnh kể trên, không ai có thể biết số phận họ hàng nhà lan chúng tôi thảm hại chẳng hơn mớ rơm mớ rạ. Nhóm thương gia này chẳng biết gì về giá trị của loài lan trên thị trường quốc tế. Họ thuê người vào rừng với một giá rẻ mạt và đem bán chúng tôi cho những người Đài Loan với giá từ 1$ đến 3$ một ký lô. Có lẽ đối với họ giá như vậy họ đã được lời quá nhiều, nhưng họ biết đâu các thương gia Đài loan bán ra gấp mấy trăm lần như vậy. Bởi vì mỗi ký có khoảng 200 cây mỗi cây bán ra 3-4$ và vào thời đó người mua thuờng phải trả từ 30-40$.

Giáo sư Leonid Averyanov được chính phủ Nga Sô cử sang nghiên cứu về cây cỏ Việt Nam từ trước khi có cuộc chiến tranh và sau đó được hội Địa dư quốc gia National Geographic của Hoa Kỳ và hội Hoa lan tại San Diego trợ cấp sang Việt Nam nghiên cứu vế các giống nữ hài. Nghe thấy tin trên, Averyanov vội đến tận nơi để tìm hiểu. Sau khi giáo sư Leonid Averyanov công bố việc này trên tờ nguyệt san Orchid magazine của Hội Hoa Lan Hoa Kỳ dân chỏi lan Việt Nam và ngoại quốc đổ đi tìm nhưng không sao thấy bóng. Do đó cây lan Paphiopedilum delenatii ở Saigon lúc bấy giờ giá tứ 100 U.S$ trở lên.

Mẹ tôi kể tiếp rằng mấy người khách đó ở Hoa Kỳ đến thăm Âu châu. Họ là những người yêu chuộng hoa lan nay nghe tiếng một vườn lan ở Pháp có nhiều loại lan hiếm quý cho nên ghé thăm và mua bà tôi và mẹ tôi về. Những người này rất trân quý bà và mẹ tôi nên cho vào hộp nhỏ đi theo cùng máy bay. Đén phi cảng, nhân viên quan thuế và bộ Canh nông xét hỏi giấy tờ nghiêm ngặt: nào là giấy phép nhập cảng, giấy kiểm dịch rồi lại giáy phep của cơ quan bảo vệ những giống thú hiếm quý. Nhưng tất cả đã được thông qua trót lọt.

Từ đó chúng tôi nhởn nhơ sống một cuộc đời bình thản chẳng còn sợ nắng nôi hay gió dập mưa vùi. Tất cà từ nhiệt độ, độ ảm, nước non gió máy đều đã được điều hòa qua hệ thống tự động. Thu qua, xuân tới chị em chúng tôi bắt đầu đâm chồi nẩy nụ sửa soạn nở hoa.
Một sáng đẹp trời ông chủ mang chúng tôi đến một nơi thực là ồn ào náo nhiệt. Người đông như kiến cỏ, ngó sang bên phải, bên trái phía trước phía sau chỗ nào cũng bầy bán những bông hoa xinh đẹp mỹ miều. Họ kháo nhau đây là một hoi Hoa Lan đứng vào một trong những hội lan lớn nhất trên thế giới. Người đi kẻ lai it người nhìn ngắm đám chị em chúng tôi. Có lẽ vẻ đẹp Đông phuơng ẻo lả của chúng tôi không hấp dẫn bằng mấy chị ở miền Trung Mỹ to lớn và hương sắc mặn mà.

Bỗng dưng tôi nghe thấy những âm thanh quen thuộc vang lên trong rừng âm thanh hỗn loạn này. Nhờ khả năng thiên phú chúng tôi hiểu rõ mọi thứ ngôn ngữ từ Phi luật tân, Đại Hàn, Trung hoa thậm chí từ Ba tây cho đến Anh ngữ, Đức ngữ thứ nào chúng tôi thông hiểu cho nên dù sinh đẻ ở nước ngoài chúng tôi vẫn còn nhớ được và hiểu được ngôn ngữ của quê hương. Từ lâu vốn dĩ chỉ nghe những ngôn ngữ lạ tai, nay bỗng nghe thấy tiếng mẹ đẻ chi em tôi sụt sùi cảm động. Nguồn cảm súc này chỉ có những vị nào xa quê hương đã lâu ngày, lại sống ở một vùng xa lạ bỗng dưng nghe thấy tiếng nói thân thuơng của người đồng hương mới thấu hiểu rõ tâm trạng của chúng tôi. Có lẽ những vị nào khi mới di tản đến xứ lạ quê người mới thấm thía chuyện này.

Này chị! sao bông lan này trông ngộ quá! Không biết lan của xứ nào vậy? Mình trồng liệu có sống không?
Ừ, trông thì đẹp đó nhưng mong manh quá, chắc khó trồng, mua làm gì cho phí tiền


Chúng tôi la to gần như hét vào lỗ tai mấy người thiếu phụ có lẽ đi dự Tết ở đâu rồi mang tà áo dài duyên dáng đến dự Hội Lan.

Chúng em là hoa lan Việt Nam đó !Mua chúng em đi các chị.
Nhưng dù cho chúng em la, chúng em hét tiếng nói của chúng em chẳng lọt vào tai mấy bà chi xinh đẹp này.

Chỉ có 15 đồng bạc, bằng 3 tô phở sợ gì mà chẳng dám mua.

Ba người còn đang ngần ngừ bỗng một ông già đầu tóc bạc phơ nâng em trên tay rồi rồi bảo:

Đây là cây lan đặc hữu của quê hương chúng ta đó !
Đặc hữu là thế nào hở bác?
Đặc hữu là cây chỉ mọc duy nhất ở một nơi. Thí dụ cây lan Kim điệp của Việt Nam. Nhưng,Thái lan, Lào, Căm bốt đều có cả còn cây này thì không. Rất tiếc là cây này tuy đặc hữu nhưng lại mang tên Paphiopedilum delenatii, còn tên Việt trước đây không có, nay người ta goi lung tung là Hài hồng, Tiên Hồng ai muốn gọi sao thì gọi.


Thấy giá rẻ, ông mua một lúc hai cây để phòng hờ khi có cây chết. Ba bà kia thấy vậy hỏi cách trồng, ông nói:

Rất giản dị, đem về để vào chỗ rợp mát, tưới nước mỗi tuần 2 lần và dừng bao giờ để cho khô rễ.

Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, người Việt mình ở đâu sao mà nhiều thế. Người ta ào kéo nhau đến mua, mấy chuc chậu lan chỉ trong vài giờ đã hết. Ông chủ vườn của chúng em về nhà mang hết những cây còn lại ra bàn và hết nhẵn trong ngày đầu.

Em và cô em của em măy mắn được ông già đấu bạc mua về. Mới đầu ông để chúng em ở trong nhà kính cho hoa lâu tàn và cho chúng em quen dần với khí hậu. Trong nhá kính có khá nhiều hoa lan lạ mắt và xuyên qua tấm kính em thấy ngoài hàng hiên, ngoài vườn chỗ nào cũng có hoa lan. Bên cạnh chúng em nào Hoàng Thảo thủy tiên vàng, Thủy tiên tím, Long tu, Dã hạc, Báo hỷ, Giáng hương, Ngọc điểm v.v... Ngoài hàng hiên những khóm lan quen thuộc quê nhà như Trường Kiếm Lô hội, Trần Mộng, Hoàng phi hac, Hoàng kiến lan cũng có mặt. Thì ra ông có một bộ sưu tập gồm những cây lan Việt nam và nhiếu cây lan to lớn nghe nói mua từ bên Úc. Có lẽ ông nuôi đủ thứ hoa lan nguyên xứ từ Trung mỹ, Á châu, Uc châu cho đến Phi châu. Nhưng xem chừng tuy xa quê hương ông vẫn còn gắn bó với những gì thuộc về nguồn gốc. Vì vậy ông cưng chiều chăm bẵm chúng em hơn là những bà chị khác. Ông nói với những bè bạn đến thăm:

Lan Việt Nam tuy rằng hương sắc kém xa những giống khác, nhưng đó là gia bảo của chúng ta. Nhìn thấy cây lan thân thương quen thuộc, cây mận hồng đào Trung lương, cây buởỉ đường Biên hòa, cây nhãn lồng Hưng Yên tôi có cảm tưởng như mình vẫn sống ở quê nhà.

Nghe ông nói những lời sắt son,chung thủy đó, chúng em tuy là phận nữ nhi, cây cỏ cũng còn cảm động rơi nước mắt. Chúng em cố gắng làm cho ông vui lòng. Sau khi hương sắc phai tàn em và cô em cũng cố sinh ra cho ông hai chồi lan mới. Hy vọng những chồi lan này sẽ nở rộ trên miền đất xa lạ và sẽ làm cho ông tạm quên đi nỗi buồn xa xứ trong những tháng ngày còn lại.

 

Nguyễn thị Hồng Hài