Sách » Thể loại khác » Chuyện về hoa lan

Dendrobium và công dụng cổ truyền


 

Phỏng theo Dendrobium and its relatives do
Bill Lavarack, Wayne Harris và Geoff Stocker
Nhiều người gọi chung các giống lan Dendrobium là Hoàng thảo, như vậy chỉ đúng với những cây có hoa mầu vàng mà thôi. Bởi vì Dendrobium có đủ sắc trắng, tím, hồng, đỏ, cam v.v... vì vậy xin tạm gọi là Đăng lan cho gần giống với cách phát âm quốc tế.

Đăng lan là một loài lan khá đông đảo, trên thế giới có trên 1000 giống, theo báo cáo mới nhất của giáo sư Leonid Averyanov,Việt Nam có khoảng 110 giống. Ngoài việc cung cấp hương sắc cho đời, Đăng lan còn được dùng trong rất nhiều lãnh vực khác nhau. Từ đời nhà Hán (200 năm trước Thiên chúa giáng sinh và 200 năm sau) Đăng lan đã được dùng như là một dược liệu. Người Trung hoa và ngay cả Nhật Bản, Đại hàn, Tây tạng và Đài loan đều gọi dược liệu này là Shih-hu gồm khoảng 20 giống phần đông thuộc giống D. nobile (Thạch hộc). Shih-hu có nghĩa là "Đá sống" hàm ý cây này rất cứng cát, sống lâu. Theo Đông y người ta cho rằng cây lan này là một vị thuốc bổ dương tăng thêm sức mạnh tình dục và trường thọ, cho nên đến bây giờ vẫn còn thông dụng. D. nobile có chất alkaloid và đặc biệt chất dendrobine được dùng trong y dược.

Tại Mã lai những cây Dendrobium bản địa coi như là có năng lực thần bí dùng làm bùa tái hợp cho những cặp tình nhân, gây can đảm cho những kẻ săn đầu người, làm cho con chó săn thêm thính mũi hoặc dùng để xua đuổi tà ma. Họ còn dùng cây D. crumenatum (Thạch hộc, Bạch câu, Tuyết mai) làm thuốc bổ. Lá cây Dendrobium được người Tân tây lan (Papua New Guinea) dùng để gói bánh mặn. Thổ dân tại quần đảo Andaman cắt thân cây lan này ra làm cà vạt. Tại miền bắc Queensland thân cây D. discolor được xẻ ra làm vũ khí, trong khi đó tại Phi Luật Tân, thân cây D. heterocarpum phơi khô dùng làm giây lưng để giữ chiếc khố quấn ngang thắt lưng. Họ cũng dùng thân cây D. crumenatum bện thừng và đan mũ, D. heterocarpum để trang trí quần áo, thân cây D. polytrichum để đan rổ rá. Nước ép từ thân cây D.affine được người ở Arnhem Land và Groote Eyland dùng làm thuốc hãm mầu trang trí trên vỏ cây hay trên đá dùng cho lễ hội. Nước cây này có thể hòa thẳng vào với mầu vẽ hoặc quét lên trên để cho mầu khỏi phai..

Ở Nam Dương, thân cây của những giống Dendrobium nguyên thủy như D. acuminatissimum, D. bilfateD. macrophyllum được dân chúng dùng trong việc đan lát rổ rá hoặc đan ghế ngồi. Tại nhiều nơi khác như quần đảo Solomon, bán đảo Cape York, quần đảo Torres Strait, Irian Jaya, Molucas, v.v... người ta đem cây Dendrobium ra phơi nắng hay hơ trên lửa. Phần ngoài của thân cây có mầu vàng được tước ra để đan chiếu, vòng đeo tay, cung tên hay các vật dụng sơ khai như quần áo, đồ trang sức, đồ cúng lể hay tang ma v.v... Tại Sulawesi và Kalimantan thân cây Diplocaulobium utile được chẻ ra và phơi khô cho có mầu vàng để trang trí cho các vật dụng nhỏ như giỏ hay hộp đựng xì gà. Vì sự hiếm quý, cho nên ở Sulawesi các thảm, chiếu hay đồ đan bằng giống lan này chỉ dành riêng cho hoàng gia hay các nhà quý tộc.Trong khi đó tại Nhật Bản D. moniliforme được coi như biểu hiệu của sự trường thọ và dùng cho việc trang trí các đền đài.

Trên miền cao nguyên của Papua New Guinea, nhiều giống Dendrobium nguyên thủy đã cung cấp hoa, lá và thân cây cho việc tô điểm cho thân thể. Để có sẵn cây lan người ta trồng ở ngoài vườn hay trên mái nhà. Các thiếu nữ ở Manipur cài hoa D. densiflorum ở vành tai, và dùng D. clavatum làm nước hoa. Người ở Sumatra quấn lá cây Grastidium quanh đầu vì hương thơm của nó. Phụ nữ ở quần đảo Manus nghiền nát lá lan D. crosum với dầu dừa làm một thứ nước hoa hỗn họp.

Vài thứ lá cây Dendrobium ở Tân tây lan được dùng làm thuốc ho. Tại Ấn độ D.monticolaD. ovatum dùng làm cho da được mềm mại và D. moschatum (Thái Bình) chữa chứng đau tai. Tại Mã Lai D. bifarum, D. planibulbeD. purpurum dùng để chữa trị nhiều chứng bệnh về da. Ở Tây Mã Lai và Java cây D. crumenatum được dùng để chữa chứng đau tai hay nhiễm trùng trong tai. Cây D. hymenanthum dùng để chữa bệnh phù thủng và cây D. sulbulatum được nghiền ra để trị chứng nhức đầu ở Tây Mã Lai. Lá cây D. crispatum cũng được dân Tahiti vò ra để chữa nhức dầu và làm dịu cơn đau trầm trọng. Người Phi luật tân dùng D. taurinum làm thuốc gội đầu tri chứng rụng tóc. Tại Queenland, Úc Châu người ta dùng D. discolor để làm thuốc chữa bệnh nhiễm trùng và thuốc chữa bệnh hắc lào (lác)

Một vài giống Dendrobium ở Tân Tây lan được ghi nhận là có tính chất kích thích tình dục. Những giống nguyên thủy khác như D. acinaciforme ở Ambon, D. chryseum ở Ấn Độ, D.moniliforme tại Đại hàn, Đài Loan và D. nobile ở Trung Hoa đã và đang được dùng trong mục đích này.

Chúng ta cũng đừng quên rằng ngoài những công dụng kể trên Đăng Lan còn cung cấp cho những nhà chơi lan tài tử hay thương mại những bông hoa tuyệt đẹp. Đăng lan với những loại Dendrobium, Latouria, PhalaenantheSpatulata đã được ghép lại với nhau thành ra biết bao nhiêu giống hoa lai đặc biệt cung cấp cho thị trường thương mại. Một nhóm lan lai rất thành công được goi là "Pompadour hybrids" được ghép từ cây D. bigibbum của Úc đại lợi vừa được chọn là hoa của tỉnh bang Queenland.


Ngoài ra những giống lan D. nobile "Yamamoto" đã mang lại cho người Nhật tại chính quốc và tại Hawaii một số lợi nhuận khổng lồ.

Trong chuyến viếng thăm quê nhà vào năm 2000 và 2005 kẻ viết bài đã thấy người dân bán những bó lan Dendrobium nobile như rơm, như rạ trong các chợ từ Sơn Tây lên Vĩnh Phúc Yên, Lai Châu, Lào Cai hay trên con đường đi vào đền Hùng.

Theo báo cáo của tổ chức CITIES, những năm vừa qua Việt Nam đã xuất cảng hàng trăm tấn lan này sang Đài loan, Trung quốc. Họ mua của Việt Nam với giá rẻ mạt, rồi xuất cảng đến các cộng đồng người Hoa ở khắp Á Châu với giá gấp trăm lần khi mua vào.

 

BÙI XUÂN ĐÁNG