Sách » Kinh Doanh » Chuyên đề về quyền sở hữu trí tuệ

THẢO LUẬN BÀN TRÒN: Việc thực thi, một ưu tiên của tất cả các quốc gia

THẢO LUẬN BÀN TRÒN: Việc thực thi, một ưu tiên của tất cả các quốc gia

Nhiều quốc gia đã thông qua những đạo luật phức tạp bảo vệ sở hữu trí tuệ nhằm gia nhập các hiệp định hoặc các tổ chức quốc tế và khu vực. Với việc làm đó, một quốc gia đã có được bước đi quan trọng đầu tiên. Tuy nhiên, việc ban hành các đạo luật đơn thuần không giúp cho một quốc gia thực thi hiệu quả các quyền của chủ sở hữu. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng những cơ chế thực thi thích hợp.

Tại sao việc thực thi một cách hiệu quả lại thường chậm chễ hơn thời điểm đạo luật đã bắt đầu có hiệu lực? Đâu là những rào cản của việc thực thi? Liệu tất cả hay chỉ một số ít các quốc gia sẽ được hưởng những ích lợi của việc thực thi?

Văn phòng các Chương trình Thông tin Quốc tế (IIP) thuộc Bộ Ngoại giao đã mời một nhóm các chuyên gia của Chính phủ Hoa Kỳ đã thảo luận những câu hỏi trên và những vấn đề khác liên quan đến việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ (IPR). Được điều hành bởi Berta Gomez và sau đó là một tác giả-nhà biên tập cao cấp của Văn phòng An ninh Kinh tế thuộc IIP, cuộc thảo luận bàn tròn có sự tham gia của: Michael Smith, cố vấn luật sư của Văn phòng thực thi thuộc Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Thương mại Hoa Kỳ (USPTO); Jason Gull, luật sư tại tòa của Phòng Tội phạm Máy tính và Sở hữu Trí tuệ, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ; và Joseph Howard, cố vấn luật sư cao cấp thuộc bộ phận Quyền Sở hữu Trí tuệ, Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ, Bộ An ninh Nội địa.

Theo các chuyên gia này, việc thực thi hiệu quả các quyền sở hữu trí tuệ nên là một ưu tiên của tất cả các quốc gia tìm kiếm sự tăng trưởng kinh tế và sự tham gia đầy đủ vào nền kinh tế thế giới. Sau đây là nội dung cuộc thảo luận của họ.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Trước hết, việc thực thi hiệu quả nên được đặt vào đâu thì thích hợp trong chiến lược tổng thể về sở hữu trí tuệ?

SMITH: Khi mà nền kinh tế thế giới phát triển và các nền kinh tế phụ thuộc nhiều hơn vào thông tin thuộc sở hữu của công nghệ cao, thì tầm quan trọng của việc bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ cũng tăng lên.

Khi Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu thương mại bắt đầu tiến hành việc đào tạo ở nước ngoài năm 1997, điểm nhấn chính là việc gợi ý cho các quốc gia soạn thảo những đạo luật phù hợp với các điều khoản của Hiệp định về các Khía cạnh Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ của Tổ chức Thương mại Thế giới (TRIPS). Theo thời gian, điểm nhấn đã được chuyển từ các đạo luật này sang những gì mà hàng ngày các quốc gia thực tế đang làm. Chúng tôi nhận ra rằng nhiều quốc gia có các đạo luật trong sách vở phù hợp với Hiệp định TRIPS, song còn rất nhiều việc phải làm để thực thi những quyền này ở các khu vực biên giới và trong các hệ thống tòa án dân sự và hình sự.

Khi mà tác quyền, thương hiệu thương mại và sáng chế trở nên ngày càng quan trọng hơn đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, thì lợi ích của chúng ta trong việc bảo vệ những quyền đó ở nước ngoài cũng tăng lên. Và những chủ sở hữu người Mỹ hoặc người nước khác trên khắp thế giới sẽ không muốn đầu tư vào những quốc gia, nơi mà hàng ngày, tác quyền, sáng chế, nhãn hiệu thương mại và bí mật thương mại không được bảo vệ thích đáng.

GULL: Theo quan điểm của chúng tôi ở Bộ Tư pháp, việc làm điều hòa các luật sở hữu trí tuệ trên thế giới thông qua các điều ước quốc tế, thậm chí là từ Công ước Berne, là quan trọng nhằm xác định quyền của các tác giả, nhà phát minh và các công ty đối với sản phẩm của họ. Chúng tôi muốn được chứng kiến các quốc gia đi đến một thỏa thuận chung về những quyền này nên như thế nào.

Tuy nhiên, nếu thực thi không hiệu quả, những đạo luật này về cơ bản sẽ chỉ là những lời hứa suông. Việc thực thi một cách hiệu quả các đạo luật này là cần thiết để các tác giả, nhà phát minh có thể đưa ra những quyết định hợp lý về việc liệu họ có nên xuất bản, công bố hay phát minh một thứ gì đó hay không.

Trong vài năm gần đây, việc thực thi đã trở thành một vấn đề quan trọng hơn nhiều. Một loạt các yếu tố, kể cả những tiến bộ trong việc vận chuyển đường thủy, trong công nghệ, viễn thông và Internet, đã tạo nên những thị trường ngày càng mang tính quy mô toàn cầu.

Khi mà những hàng hóa hữu hình có thể di chuyển qua biên giới dễ dàng và với chi phí rẻ, thì các vấn đề về sở hữu trí tuệ cũng coi như được “xuất khẩu”. Chẳng hạn như hàng giả được sản xuất tại Đông Á đã trở thành một vấn nạn từ lâu nay. Song việc sản xuất hàng giả như vậy còn trở thành một vấn nạn thậm chí lớn hơn vì các sản phẩm trở nên rẻ hơn và dễ dàng được chuyên chở tới nhiều nơi trên thế giới.

Internet cho phép việc thông báo ngay lập tức những thông tin trên thế giới gần như miễn phí. Vì vậy, bên cạnh hoạt động tích cực mà công nghệ này mang lại, người ta đang sử dụng Internet để xâm phạm ồ ạt quyền sở hữu trí tuệ. Vấn nạn này đang tăng lên khi khu vực kỹ thuật số của nền kinh tế đang lớn mạnh tại Hoa Kỳ và những quốc gia khác.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Ông nói rằng những tiến bộ trong việc chuyên chở làm cho hàng hóa di chuyển dễ dàng hơn qua biên giới. Liệu đây có phải là một rào cản đối với việc thực thi hiệu quả?

HOWARD: Có lẽ rào cản lớn nhất đối với việc thực thi hiệu quả chính là sự thiếu hiểu biết một cách đầy đủ giá trị của các quyền sở hữu trí tuệ của mọi quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế.

Tôi đã diễn thuyết tại một số nước, và người ta đã hỏi tôi: “Tại sao tôi phải làm điều đó? Tại sao chúng ta lại đang bảo vệ những quốc gia và những nhà sản xuất giàu có - những người nắm trong tay những quyền sở hữu trí tuệ này?”.

Câu trả lời của tôi là: thứ nhất, nếu đất nước của bạn được quản lý bởi pháp quyền và đã ký kết những điều ước quốc tế nào đó, thì việc tôn trọng các cam kết này là bắt buộc. Thứ hai, khi đất nước bạn xây dựng các khu vực kinh tế của riêng mình, trong đó những nhà sản xuất, nhà phát minh hoặc thợ thủ công đang tạo ra những tài sản trí tuệ, thì điều quan trọng là bạn trao cho họ giá trị đầy đủ của những quyền của họ.

Nhiều khi, người ta không thừa nhận rằng việc bảo vệ sở hữu trí tuệ là quan trọng đối với việc tạo thêm việc làm - điều dẫn tới sự tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống tốt hơn. Nếu bạn không tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ, sẽ không có ai muốn đầu tư vào đất nước của bạn. Bạn sẽ không thu hút được vốn đầu tư nước ngoài mà bạn cần để cải thiện đời sống của người dân trong đất nước bạn.

Một khi người dân coi trọng giá trị của pháp quyền, thì rõ ràng là nó không chỉ làm lợi cho các nước giàu.

GULL: Tôi cũng được khán giả nước ngoài hỏi rằng: “Tại sao lại bảo vệ sở hữu trí tuệ trong khi tất cả là nhãn hiệu Hoa Kỳ hoặc của các quốc gia giàu có? Tại sao tôi lại phải vâng lệnh của những công ty Hoa Kỳ này?” Câu trả lời là, cũng giống như cách mà các chủ sở hữu nhãn hiệu thương mại bảo vệ nhãn hiệu của họ, các quốc gia cũng cần cố gắng để thực thi IPR nhằm bảo vệ danh tiếng của chính quốc gia mình.

Một nhãn hiệu thương mại chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu. Nó mang những thông tin về danh tiếng của nhà sản xuất và của sản phẩm. Nếu như chủ sở hữu của một nhãn hiệu thương mại nào đó bắt đầu cho ra đời những sản phẩm chất lượng kém, mọi người sẽ ngừng mua sản phẩm đó. Danh tiếng vì thế sẽ suy giảm.

Để khuyến khích đầu tư, bạn cần một thể chế pháp lý hiệu quả bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền sở hữu trí tuệ. Một quốc gia có thể xây dựng hình ảnh nhãn hiệu của riêng mình thông qua việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả. Ngược lại, những quốc gia thờ ơ với việc thực thi IPR sẽ phải phải chịu hậu quả về danh tiếng và môi trường đầu tư.

SMITH: Một rào cản quan trọng khác đối với việc thực thi hiệu quả là việc thiếu ý chí chính trị. Sẽ rất khó khăn cho các cơ quan thực thi coi những vấn đề này là quan trọng và đáng được dành những nguồn lực để giải quyết khi thiếu vắng ý chí chính trị bắt đầu ngay từ cấp cao nhất của chính phủ.

Khi USPTO tiến hành các trợ giúp kỹ thuật, chúng tôi đã cố gắng giải thích vì sao việc thực thi lại quan trọng đối với nền kinh tế địa phương. Ví dụ như, âm nhạc địa phương không chỉ là vấn đề di sản văn hóa bản địa, nó là vấn đề bản quyền liên quan đến yếu tố kinh tế đối với các ngành công nghiệp địa phương. Đặc biệt là ở châu Á, chúng tôi đã nhận thấy có một sự liên kết giữa khả năng đưa ra các cơ chế thực thi hiệu quả của một quốc gia với sự tăng trưởng của lĩnh vực âm nhạc do các nghệ sĩ địa phương sáng tác.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Nhưng chính phủ sẽ đưa ra những biện pháp thực thi hiệu quả như thế nào một khi nó đã quyết định làm vậy?

GULL: Mặc dù ý chí chính trị rõ ràng là quan trọng, song điều đó không có nghĩa là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chỉ đơn thuần là vấn đề thuyết phục các tầng lớp trên trong chính phủ rằng đó là một vấn đề quan trọng và rằng những nghị định của họ sẽ dẫn tới việc thực thi ở cấp cơ sở.

Về mặt nhận thức của công chúng, chính phủ cần bảo đảm được việc công chúng đồng ý rằng sở hữu trí tuệ đáng được bảo vệ. Quan điểm của Michael về âm nhạc bản địa là một quan điểm rất hay.

Tất nhiên, nhiều sản phẩm ăn cắp bản quyền là bản sao của những sản phẩm của các công ty Hoa Kỳ, như các phần mềm của Microsoft hay các đĩa CD của các ngôi sao nhạc pop Hoa Kỳ, mà sau đó được bán ở nước ngoài. Nhưng nếu một quốc gia để cho nạn ăn cắp bản quyền không được kiểm soát, thì những ngành công nghiệp của chính nó như âm nhạc, phim ảnh hoặc phần mềm cũng sẽ phải chứng kiến việc những sản phẩm của mình bị ăn cắp bản quyền cùng với các sản phẩm của Hoa Kỳ. Do các nhà sáng tạo âm nhạc, phim ảnh hay phần mềm trong nước có xu hướng ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường trong nước họ để kiếm sống, nên nạn ăn cắp bản quyền ở mức độ cao sẽ gây hại nhiều nhất đối với chính các nhà sản xuất trong nước.

Nạn ăn cắp bản quyền có thể còn làm cho các ngành công nghiệp trong nước gặp khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với các công ty lớn nước ngoài. Ở những quốc gia nơi mà mọi loại CD, DVD hay phần mềm đều sẵn có chỉ với giá 1 đến 2 đô-la mỗi đĩa, thì các hãng phim và nhà sản xuất địa phương sẽ cảm thấy rất khó khăn trong việc cạnh tranh dựa trên cơ sở giá cả với các phần mềm ra đời từ Thung lũng Silicon hay những tác phẩm điện ảnh lớn của Hollywood.

Thật mỉa mai là những quốc gia muốn tránh sự tràn lan của hàng hóa Mỹ lại chính là những quốc gia có thể cân nhắc tăng cường việc bảo vệ sở hữu trí tuệ của họ. Điều đó, về lâu dài sẽ phục vụ cho ngành công nghiệp địa phương thông qua việc cho phép nó tăng trưởng và thông qua khuyến khích đầu tư.

Nếu như công chúng đồng lòng với việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, thì các nhân viên cảnh sát cũng sẽ rất hăng hái đóng cửa những cửa hàng trên phố bày bán hàng giả và hàng ăn cắp bản quyền. Các công tố viên sẽ hăng hái theo đuổi các vụ kiện bởi vì họ sẽ không phải đối mặt với sự tức giận của công chúng. Các thẩm phán sẽ hăng hái hơn trong việc đưa ra các hình phạt ngăn chặn như phạt tù hoặc phạt tiền.

HOWARD: Điều đặc biệt quan trọng đối với một quốc gia là có một cơ chế mà thông qua đó, một chủ sở hữu nước ngoài có thể thu hút sự chú ý của cơ quan có thẩm quyền đối với một vấn đề và có cơ hội nhận được sự thực thi nhân danh mình. Điều này sẽ giúp họ vượt qua được sự trì trệ vốn sẽ tồn tại nếu thiếu một cơ chế như vậy. Nó cũng khuyến khích chính quyền thực thi các quyền nữa.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Ông có thể nói thêm về việc đào tạo hay diễn thuyết mà ông tiến hành ở nước ngoài?

HOWARD: Tôi đã tới một số quốc gia khác, xem xét hoạt động lập pháp và nói chuyện với người dân về những gì chúng tôi làm. Tôi giải thích rằng, nếu bạn không có các nguồn lực để có một cơ sở dữ liệu về tất cả các quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xâm phạm, sẽ là hợp lý khi tối thiểu bạn có một cơ chế để người ta có thể thu hút sự chú ý của bạn. Nhiều quốc gia đã cho rằng đó là điều hữu ích.

Cục Hải quan Hoa Kỳ cũng đã thi hành những lệnh ngăn chặn (lệnh mang tính ràng buộc pháp lý, ngăn cản những hàng hóa bị tố cáo là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vào Hoa Kỳ) do Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) ban hành. Chỉ trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ mà chúng tôi ghi nhận, thông tin về các lệnh ngăn chặn do USITC ban hành được đưa vào các mô-đun để chuyển tới các nhân viên làm việc trực tiếp. Bản mô-đun IPR dành cho công chúng có thể dễ dàng được tiếp cận qua trang web http://www.cbp.gov. Bạn chỉ cần nhấp chuột vào mục “quick link” trong trang đó để có thông tin về “Sở hữu Trí tuệ” và ở trang tiếp theo vào mục “Intellectual Property Rights Search (IPRS)”. Trang web cũng bao gồm rất nhiều thông tin về các chương trình của chúng tôi về thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại khu vực biên giới.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Và đây chính là trường hợp mà công nghệ mới thực sự giúp ích cho việc thực thi?

HOWARD: Đúng vậy. Nhưng như các bạn đồng nghiệp của tôi vừa chỉ ra, người ta cần phải muốn thực hiện điều đó. Đó là điều thiết yếu.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Ông có ví dụ nào về các quốc gia mà ông thấy có những tiến bộ và sự quan tâm ngày càng tăng đối với việc bảo vệ IPR?

HOWARD: Tôi đã ở Ai Cập vào thời điểm người ta đang bàn về các vấn đề thực thi IP và những người mà tôi trò chuyện nói rằng họ muốn có một hệ thống hải quan giống như ở Hoa Kỳ. Có vẻ như là tất cả mọi người trên thế giới đều nhìn vào chính phủ của chúng ta để có được những chỉ dẫn trong những vấn đề nhất định nào đó. Trong một số trường hợp, có thể họ không thích những gì chúng ta nói, nhưng họ lại cởi mở trong việc xem xét những gì chúng ta cần phải nói.

SMITH: Tôi cho rằng hầu hết các quốc gia đều đồng ý rằng hệ thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở các khu vực biên giới của Hoa Kỳ là một trong những hệ thống hiệu quả nhất trên thế giới. Tuy nhiên, có rất nhiều thứ được thực hiện tại Hoa Kỳ lại không mang tính thực tế đối với hầu hết các quốc gia. Chắc chắn là các quốc gia đang phát triển và kém phát triển nhất không có được những nguồn lực mà Chính phủ Hoa Kỳ có được. Hầu hết các quốc gia khác cũng không có nhiều trạm kiểm soát biên giới như Hoa Kỳ.

Các cơ quan hải quan ở các quốc gia này cần phải quyết định việc làm thế nào để sử dụng một cách tốt nhất những nguồn lực mà họ có. Trong các chương trình hỗ trợ kỹ thuật ở nước ngoài, Văn phòng Sáng chế sử dụng điều đó như một điểm khởi đầu để khuyến khích việc tuân thủ các quy định của một quốc gia theo Hiệp định TRIPS. TRIPS đưa ra các chuẩn mực tối thiểu, chẳng hạn như việc thiết lập một hệ thống mà nhờ đó chủ sở hữu có thể nhận được sự thực thi các quyền của mình.

Như tôi đã nói, một quốc gia có thể tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ tối thiểu trong Hiệp định TRIPS song vẫn còn rất nhiều việc cần làm ở khu vực biên giới. Chẳng hạn như, Hiệp định TRIPS yêu cầu các quốc gia bảo vệ chống lại việc nhập khẩu hàng hóa ăn cắp bản quyền hoặc hàng hóa mang nhãn hiệu thương mại giả. Hiệp định không yêu cầu các quốc gia đưa ra sự bảo vệ tại khu vực biên giới đối với việc xuất khẩu các hàng hóa đó hoặc sự lưu chuyển của những hàng hóa đó trong phạm vi quốc gia mà chúng được xuất khẩu sau này.

Do đó, một trong những mối quan ngại đầu tiên của Chính phủ Hoa Kỳ là việc xuất khẩu hàng giả và hàng ăn cắp bản quyền từ một quốc gia sang các quốc gia khác, chẳng hạn như trong phạm vi châu Âu hoặc châu Á. Trong trường hợp đó, chúng tôi chủ trương những điều khoản “TRIPS +”. Chúng tôi đưa ra các điều khoản đó trong các cuộc đàm phán song phương như một phần trong tiến trình đàm phán các hiệp định thương mại tự do. Trong việc đào tạo, chúng tôi nhấn mạnh việc vì sao những điều khoản này thường là cần thiết nhằm có được một hệ thống thực thi hiệu quả, dù chúng không phải là những yêu cầu của Hiệp định TRIPS.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Các quốc gia có tiếp thu yêu cầu đó không?

SMITH: Đến nay đã là hơn 10 năm. Tôi nghĩ rằng, khi mà các quốc gia ngày càng cảm thấy dễ chịu hơn với những nghĩa vụ của họ theo Hiệp định TRIPS và đã có những đạo luật, thì họ cũng ngày càng trở nên dễ tiếp thu hơn.

Điều đặc biệt đáng quan tâm đối với Chính phủ Hoa Kỳ ngay thời điểm hiện tại là nạn ăn cắp bản quyền các đĩa quang (như CD, VCD, DVD, .v.v) tại các quốc gia nơi mà lượng sản xuất đã vượt quá nhu cầu cần thiết. Rõ ràng là việc sản xuất quá nhiều các sản phẩm ăn cắp bản quyền này không thể thu được lợi nhuận từ nền kinh tế địa phương, do đó chúng đang được xuất khẩu. Trong những trường hợp như vậy, chúng tôi chủ trương kiểm soát xuất khẩu tại các khu vực biên giới và có quy định về các loại đĩa quang.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Vấn đề tham nhũng có liên quan như thế nào đến IPR?

GULL: Tham nhũng là một vấn đề lớn tại nhiều quốc gia hiện đang cố gắng để thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên thế giới.

Một phần của vấn đề liên quan đến việc có bao nhiêu tiền trong các phi vụ. Khi có rất nhiều tiền trong một hoạt động phi pháp, chắc chắn có hiện tượng tham nhũng.

Một khía cạnh khác của việc ăn cắp tài sản trí tuệ và việc làm hàng giả là tội phạm có tổ chức. Các băng nhóm tội phạm, cả ở nước Mỹ cũng như ở nhiều nơi khác trên thế giới, có liên quan đến việc sản xuất và phân phối hàng giả và hàng ăn cắp bản quyền với những mức độ khác nhau. Tất nhiên, việc tham nhũng của nhân viên nhà nước không chỉ xảy ra duy nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Song ở những nơi mà tham nhũng lan tràn, nó sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

SMITH: Ông đã hỏi: “Đâu là những rào cản đối với việc thực thi một cách hiệu quả?”. Tôi nghĩ điều đó phụ thuộc vào việc ông đang nói tới việc thực thi trong lĩnh vực dân sự, hình sự hay tại khu vực biên giới.

Việc thực thi mang tính hình sự và tại khu vực biên giới có thể được nhóm lại với nhau vì chúng là những hành động được chính phủ thực hiện. Về khía cạnh dân sự, đó là trường hợp một cá nhân đương tụng tới tòa dân sự để giải quyết vấn đề thiệt hại của mình.

Các rắc rối trong khu vực dân sự thì đều tương tự nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới. USPTO đã nhận thấy rằng, mặc dù rất nhiều quốc gia đã có các đạo luật và bộ luật tố tụng dân sự cho phép chủ sở hữu tới tòa và nhận được sự trợ giúp hoặc lệnh hạn chế tạm thời, song những đạo luật này lại không được áp dụng trong thực tế.

Chúng tôi cũng đã nhận thấy rằng sự đền bù thiệt hại mà tòa đưa ra thấp tới mức chúng không thực sự ngăn chặn được những người ăn cắp bản quyền hoặc làm hàng giả và không đền bù được thích đáng những thiệt hại mà chủ sở hữu đã phải chịu.

Cuối cùng, chúng tôi nhận thấy rằng, hàng hóa vi phạm và máy móc để sản xuất ra chúng không thực sự bị tiêu huỷ. Chúng có thể lại được đưa vào thị trường thương mại. Điều đó rõ ràng là không có lợi cho chủ sở hữu hay công chúng.

Về phía chính phủ, một rào cản đối với việc thực thi tại biên giới là: một công việc đòi hỏi nhiều nỗ lực. Bạn cần có những nhân viên hải quan ở biên giới - là những người tiêu dùng sành sỏi, quen thuộc các nhãn hiệu thương mại đã được đăng ký và là những người có lợi trong việc thực thi quyền của các chủ sở hữu nhãn hiệu thương mại. Bạn cũng sẽ gặp vấn đề trong việc thực thi có hiệu quả ở biên giới khi không có các thanh tra hải quan sành sỏi.

Trong lĩnh vực hình sự, một vấn đề nữa là các quốc gia ban đầu có thể đã truy tố nhiều đại lý bán hàng giả hoặc hàng ăn cắp bản quyền trên phố. Mặc dù làm như vậy có thể giúp cho trên phố không còn những kẻ vi phạm, nhưng nó không đi đến được ngọn nguồn của hoạt động này. Ở nhiều quốc gia, việc xâm phạm các quyền sở hữu trí tuệ có cơ sở là tội phạm có tổ chức. Do đó, việc sử dụng thời gian và tiền của của chính phủ một cách hiệu quả hơn có thể nên là việc sử dụng những quy định về tội phạm có tổ chức để truy tố những trường hợp này tại nơi nguồn cung cấp tài chính.

GULL: Đúng vậy. Sẽ hiệu quả hơn nếu theo sau “những con cá lớn” hơn là những con nhỏ, bởi vì bạn cắt đứt được nguồn cung. Nhìn chung, tác động lớn nhất của việc chạy theo những người bán hàng trên phố là việc nạn ăn cắp bản quyền không xuất hiện công khai trên phố nữa. Có nghĩa là, thay vì một chiếc bàn bày bán đầy các loại đĩa ăn cắp bản quyền, bạn sẽ thấy một gã có biểu hiện bán CD và DVD, và hắn sẽ bán cho bạn một bản copy hoặc một bản nhái lấy từ một xe tải hoặc một căn hộ nào đó dưới phố.

Michael đã đề cập đến tầm quan trọng của việc có những biện pháp dân sự hiệu quả. Tại Hoa Kỳ, phần lớn việc thực thi được thực hiện bởi người giữ tác quyền hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu thương mại – là những người khởi đầu các hành động. Hoa Kỳ có những biện pháp dân sự hiệu quả: khuyên răn, bắt giữ hàng giả và phạt tiền. Ở đây, người ta có được cơ hội thực tế nhận được sự hỗ trợ từ các biện pháp này, và ở nhiều quốc gia khác với nhiều cơ chế luật dân sự đã được thiết lập hơn.

Ở một số nơi, người ta chưa có được một hệ thống thực thi dân sự trưởng thành như vậy. Tại những nơi đó, ít nhất là ở thời điểm hiện tại, những cơ chế thực thi hình sự và thực thi ở khu vực biên giới là cơ hội duy nhất để làm giảm sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Ở một số quốc gia, việc tố tụng hoặc điều tra hình sự không thể được bắt đầu nếu không có khiếu nại từ chủ sở hữu. Đây là một rào cản lớn bởi vì sẽ không thực tế để một chủ sở hữu có thể khiếu nại bất cứ lúc nào. Điều đó có nghĩa là, ở một số nước, cảnh sát không được trao quyền để bắt giữ hàng vi phạm mà họ phát hiện trên phố hoặc trong một doanh nghiệp vi phạm. Chúng tôi khuyến khích các quốc gia loại bỏ đòi hỏi này, dù là nó được quy định trong luật hay là chính sách đối với cảnh sát hoặc nguyên đơn hay không.

Tương tự như vậy, một số quốc gia dựng lên hoặc duy trì những rào cản nhân tạo gây khó khăn cho việc xác định chủ sở hữu nhãn hiệu thương mại hoặc tác quyền. Tòa án có thể yêu cầu cần phải có điều trần của chủ sở hữu tác quyền thực sự, chứ không phải là chỉ trình ra giấy chứng nhận sở hữu tác quyền trên cơ sở “prima facie” (chú thích của người biên tập: tiếng La-tinh có nghĩa là nhìn thoáng qua, thoạt nhìn) do một văn phòng về quyền tác giả cấp. Thủ tục rườm rà này có thể cản trở việc thực thi hiệu quả. Những điều vụn vặt như vậy vẫn thường tồn tại thậm chí sau khi nhiều bước đi quan trọng, chẳng hạn như việc tham gia Hiệp định TRIPS, đã được hoàn thành.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Sự tham gia của chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng như thế nào?

HOWARD: Chương trình Hải quan và Bảo vệ biên giới Hoa Kỳ phụ thuộc nhiều vào các chủ sở hữu - những người đã đăng ký - để cung cấp cho chúng tôi thông tin về những rắc rối có thể xảy ra. Thường thì các chủ sở hữu có thể biết được ngày mà hàng hóa vi phạm sẽ đến, cảng nào hay con tàu nào, hay là hình thức chúng du nhập vào nước Mỹ. Điều đó giúp cho chúng tôi tập trung được các nỗ lực và không lãng phí những nguồn lực có hạn của chúng tôi.

Người nắm giữ các quyền sở hữu trí tuệ cũng có thể tự giúp mình thông qua việc thông tin cho người tiêu dùng hiểu rằng không nên đưa ra tất cả các quyết định chỉ dựa trên cơ sở giá cả. Hàng giả có thể được bán với giá thấp hơn, nhưng có thể sẽ không có những đặc trưng như sản phẩm thật, hoặc nó có thể không an toàn hoặc không bền. Tương tự như vậy hay thậm chí còn quan trọng hơn là, bạn sẽ không nhận được hỗ trợ mà lẽ ra bạn sẽ nhận được từ nhà sản xuất nếu như sản phẩm bị lỗi.

CHỦ TỌA CUỘC HỌP: Liệu cơ quan y tế có thẩm quyền có đóng vai trò trong việc nói cho người tiêu dùng biết rằng hàng giả có thể không an toàn hoặc nguy hiểm?

GULL: Tại Hoa Kỳ, có nhiều đạo luật Liên bang và nhiều cơ quan bảo vệ chống lại những loại hàng giả có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe. Việc bán thuốc giả qua mạng Internet, như loại thuốc Viagra giả do “những kẻ làm hàng giả” quảng cáo qua thư điện tử, là vi phạm các đạo luật Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm liên quan đến an toàn dược phẩm, cũng như là vi phạm quy định nhãn hiệu thương mại Liên bang. Đó cũng có thể là sự vi phạm luật pháp ở 50 bang khác nhau.

Khi xuất hiện một thứ hàng giả, khó có cách nào để truy tìm ra đúng kẻ đã sản xuất ra chúng. Ví dụ như rượu giả hiện phổ biến ở nhiều quốc gia Đông Âu. Khi rượu thật không đáp ứng các tiêu chuẩn y tế và an toàn, nguồn gốc của sản phẩm có thể được tìm ra. Nhà máy sản xuất loại rượu này có thể bị điều tra và bị buộc phải cải thiện chất lượng. Nhưng với rượu giả, điều đó là không thể, bởi vì nguồn gốc của sản phẩm là không rõ.

SMITH: Điều này gắn với nhận thức của công chúng. Chính phủ có thể đóng vai trò trong việc giáo dục người dân rằng việc bảo vệ sở hữu trí tuệ không chỉ là một vấn đề kinh tế mà nó còn là vấn đề y tế và an toàn nữa. Thực phẩm làm giả và thuốc giả đã từng gây chết người. Hoặc là chúng không chứa các thành phần cần thiết hoặc chúng chứa những thành phần có thể gây chết người mà người ta vô tình mua chúng.

Hoặc chúng ta hãy xem xét các phụ tùng máy bay, một sản phẩm giả hoặc sản phẩm ăn cắp bản quyền được dán nhãn là đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn, song thực tế thì chúng lại có những chi tiết sai sót.

Các vấn đề y tế và an toàn có thể đưa cuộc thảo luận của chúng ta tới cấp độ cá nhân nhiều hơn là về các khía cạnh kinh tế của việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, vì chúng đề cập đến cuộc sống của con người.

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí