Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Xuân Đức

NHÀ VĂN XUÂN ĐỨC

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Xuân Đức

Sinh năm: 1947

Nơi sinh: Vĩnh Linh,Quảng Trị

Bút danh: Xuân Đức

Thể loại: Tiểu thuyết, kịch

Các tác phẩm:

·           Cửa gió (2 tập, 1980 - 1984)

·           Người không mang họ (1984)

·           Hồ sơ một con người (1985)

·           Tổ quốc (1985)

·           Những mảnh làng (1987)

·           Người mất tích (1990)

Giải thưởng văn chương:

·           Giải thưởng Bộ Nội vụ (tiểu thuyết Người không mang họ - 1995) 

·           Giải thưởng Bộ Quốc phòng (Người mất tích - 1990)

Giới thiệu một tác phẩm:

Những dòng anh chưa viết

Chính ủy Lân có một lối nói rất sư phạm, bao giờ cũng dễ dàng với nụ cười nửa khép, nửa mở:

- Nhiệm vụ của tiểu đoàn Lê Hồng Phong chuyến này rất đặc biệt.  - Chính uỷ phát âm từng tiếng chậm và kỹ. - Mặt trận chọn tiểu đoàn này làm đơn vị mở màn co chiến trường. "Nó" phải nhanh chóng lọt vào khu vực này … - Chính uỷ xoay người ra tấm bản đồ treo sát tường đất. -  Từ lâu, bọn địch ở Quảng Trị khiếp vía vì "Nó" rồi. Nhất định lần này chúng sẽ xúm vào, dồn sức vây hãm "Nó". Đó là cơ hội cho cả mặt trận nổ súng.

Chính uỷ rút chiếc khăn trong túi, gỡ chiếc kính trắng xuống, hai ngón tay kẹp khăn vào mắt kính miết nhẹ. Miệng anh như tủm tỉm cười:

- Mà khi cả mặt trận nổ súng thì tình thế đã khác lắm rồi. Mùa xuân này có nhiều chuyện bất ngờ đấy. Các nhà văn vẫn thường thích nói mùa xuân. Lần này thì tha hồ.

Nhưng trước mắt là một chuyến đi quyết liệt như thế nào, ngồi ở đây không hình dung hết được. Mặt trận rất tin vào "Lê Hồng Phong". Bọn tôi cũng rất tin vào sự có mặt của các nhà báo. Anh Hồ Thừa, anh Nhu … Các anh có hỏi gì thêm không?

Người có tên là Hồ Thừa hơi ngẩng mặt nhìn chính uỷ một tí rồi lại cúi xuống. Mắt anh dán chặt vào bản đồ nhỏ lót dưới tấm mi - ca như tìm trong đó một câu trả lời nào khác. Người anh cao và gầy. Nước da xanh xám. Cái miệng hơi móm nhưng có duyên. Nhưng nước da ấy, tôi thầm đoán anh đã ở lâu trong chiến trường. Suốt từ lúc đó cho đến khi chia tay chính uỷ, Hồ Thừa không hỏi thêm một câu nào. Chỉ có anh Nhu đề nghị chính uỷ giải thích thêm một số chi tiết về địa hình của trận đánh và quá trình thành lập, xây dựng tiểu đoàn Lê Hồng Phong. Anh Nhu có khuôn mặt vuông vắn. Anh cười xởi lởi:

- Thế thì chúc các anh may mắn nhé!

Trời chuyển vào đêm chậm chạp. Suốt ngày hôm nay, kể từ 3 giờ 15 phút sáng, khi toàn tiểu đoàn tập kết quân vào thôn Lâm Xuân cho đến bây giờ, chúng tôi phải đánh trả hai mươi mốt lần tấn công của địch. Theo ước tính của các tổ trinh sát, chúng nó có chừng năm đến bảy tiểu đoàn Mỹ, Nguỵ hỗn hợp. Dự kiến của Bộ tư lệnh rất chính xác. Phát hiện được mũi thọc sâu này, bọn địch đã dồn hết lực lượng từ Quáng Ngang, Ái Tử, Cửa Việt tập trung bao vây. Cả bốn đại đội của tiểu đoàn đều đã nổ súng. Đại đội 12 ly 7 phối thuộc cũng đã bắn cháy được 5 xe tăng. Nhưng súng lại bị hư hai khẩu. Máy bay phản lực AD.6 thay nhau quần nát bầu trời. Bom sát thương, bom cháy bừa từng vạt dày như B52. Lửa cháy rần rật. Tre nổ lốp bốp. Khói cuộn lên từng đụn. Địch chưa vào nổi khu vực tiểu đoàn bộ. Nhưng hầm thông tin đã bị bom lật tung.

Cho đến phút này thì tiếng súng gần như ngừng hẳn. Tôi nhảy lên một mô đất cao để quan sát. Bầu trời xám dần lại trong màn mây đục và khói bom. Trời tối chậm. Tiếng sóng biển nghe mỗi lúc một nặng nề. Hình như biển sắp động, gió tự nhiên ngừng bặt. Khói và mây cứ quấn lại không tan. Bỗng nhiên tôi thấy bụng cồn cào. Hai nhà báo chạy từ chiều xuống các đại đội vẫn chưa thấy ai trở lại. Buổi sáng nay, suýt nữa thì tôi mang tội. Khi tiếng súng rộ lên phía bãi ngô bên trái tiểu đoàn, tôi vội nhô đầu ra chiếc hầm chữ A thì Hồ Thừa và anh Nhu đã lăm lăm súng ngắn chạy ra bờ tre để chuẩn bị giáp chiến. Tôi cố dướn mắt nhìn ra xa. Một toán lính chừng hơn trăm thằng xếp hàng ngang cách tuyến của ta độ 800 mét đến một cây số. Chúng nó cứ đứng vậy mà bắn đại vào làng. Tôi chạy vụt ra bờ tre túm lấy áo anh Hồ Thừa mà giật:

- Vào đi! Vào ngay đi! Chết bây giờ.

Hồ Thừa găm thẳng vào tôi một cái nhìn như dao chém:

- Sao? Chịu vào hầm à?

- Không! .. - Tôi cố giảng giải thật nhẹ nhưng giọng nói hình như vẫn cáu gắt. - Các anh chẳng biết gì cả. Nó đã đứng vậy thì không bao giờ vào. Muốn vào thì phải bí mật kia.

Có lẽ khuôn mặt và tiếng nói của tôi lúc ấy đầy vẻ mệnh lệnh nên cả hai buộc phải nhổm dậy rút lui vào hầm. Trời ơi, thật quá may mắn. Vừa rời luỹ tre chừng mười bước chân, thì một tràng pháo dây đã căn khá chính xác …

Nơi xuất bản: NXB Thanh niên - 2004