Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Xuân Cang

NHÀ VĂN XUÂN CANG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Nguyễn Xuân Cang  

Sinh năm: 1932

Nơi sinh: Gia Lâm - Hà Nội 

Bút danh: Ánh Xuân  

Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn

Các tác phẩm:

·           Suối gang (1960)

·           Lên cao (1962)

·           Đôi cánh (1967)

·           Những vẻ đẹp khác nhau (1971)

·           Trước lửa (1983)

·           Hạt máu (1970)

·           Chặng đường nóng bỏng (1985)

·           Dấu vết khác thường (1982)

·           Những ngày thường đã cháy lên (1987)

·           Con bé mùa thu vàng (1990)

·           Dấn thân (1992).

Giải thưởng văn chương:

·               Tặng thưởng văn học đề tài công nhân - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam lần 1 (1969 - 1971), lần 2 (1972 - 1974).

Giới thiệu một tác phẩm:

Suối gang 

Lúc bấy giờ vào khoảng mùa hạ năm 1951. Thắng lợi giòn giã ở biên giới còn vang động. Khẩu hiệu "kháng chiến trường kỳ, tự lực cánh sinh, gian khổ nhưng tất thắng" đã ăn sâu trong lòng mọi người. Các chiến sỹ tràn về miền Trung du mở những chiến dịch lớn, tát vào mồm tên nói khoác Đờ Tát xi nhi những cái nên thân ở những khu Việt Bắc, khu Ba…Tiền tuyến cần vũ khí đạn dược như cần cơm áo. Giữa đêm khuya có những điện hoả tốc bay về địa phương: cần 15 quả mìn lớn theo mẫu vẽ, cần 5000 lựu đạn về địa điểm X…

Nhưng hậu phương từ lâu đã vấp phải một vấn đề nan giải: nạn thiếu gang. Người ta đã tìm trăm phương nghìn kế để có được từng thỏi gang bỏ vào lò đúc, để rồi từ lò đúc đẻ ra mìn, lựu đạn. Ở liên khu Năm, có người chiến sỹ mò gang đáy biển. Ở liên khu Ba, có xưởng quân giới chế mìn bằng…sành. Ở Việt Bắc, người ta thử đắp mấy cái lò cổ sơ nấu quặng, nhưng chỉ có rỉ ra một ít sắt lổn nhổn lẫn xỉ. Lùi lại máy ngàn năm lịch sử rồi đó, mà chưa ăn thua gì cả.

           Các chiến sỹ quân giới, anh em của những Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa đâu có chịu. Một quyết định táo bạo tung ra: Xây dựng lò cao, nấu quặng ra gang để phục vụ cho tiền tuyến. Đó thật là chuyện không ai có thể ngờ tới. Người viết truyện này không được biết xung quanh quyết định ấy đã nổ ra bao nhiêu cuộc tranh luận, bàn bạc, cãi vã gay go, bao nhiêu cuộc đấu tranh tư tưởng rức đầu rức óc, bao nhiêu lo lắng ngờ vực, bao nhiêu phấn khởi tin tưởng. Chỉ biết rằng, cuối mùa thu năm 1949, các chiến sỹ quân giới đã xây dựng một cơ sở lò cao ở bên bờ sông Lam, đã thí nghiệm, đã thất bại và đã đổ ít nhiều xương máu trong một trận bom tàn phá của quân giặc.

Nhưng năm ngoái, vào một buổi sáng giá lạnh, núi rừng Nghinh Xuân này đang im lìm, bỗng bừng tỉnh giấc ngàn năm. Những con rắn xanh lè ẩn mình trong đám dây leo rậm rạp bỗng ngóc đầu chạy trốn. Núi đá Hùng Sơn cao vòi vọi như sắp đổ sập xuống đầu cũng thức dậy âm vang trả lời những tiếng hú dài, tiếng cười nói lạ lùng từ đâu đến. Đoàn người ào ạt, đạp cây giẫm lá, băng theo con đường mòn tiến vào. Dưới bức tường thành màu xanh bao la của núi rừng, đã bắt đầu mở một công trường mới, dài hơn nửa cây số chạy thoải ra tận bến sông, một con sông nhỏ lặng lẽ trôi giữa hai bờ núi.

Ròng rã, gần một năm mới hoàn thành. 

 

Nơi xuất bản: NXB Văn học, 2003