Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Vũ Thị Hồng

NHÀ VĂN VŨ THỊ HỒNG

 

 

Tiểu sử:

Tên thật: Vũ Thị Hồng

Sinh năm: 1950

Nơi sinh: Quế Võ - Bắc Ninh

Bút danh: Nguyễn Thị Bắc Hà

Thể loại: truyện ngắn

Các tác phẩm:

  • Xóm biển (1983)

  • Tiếng rừng (1988)

  • Có một thời yêu (1990)

  • Trở lại là em (1990)

Giải thưởng văn chương:

  • Nhà văn đã được nhận giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng (1994).

  • Giải thưởng văn học Bộ Nội vụ (1990) với tiểu thuyết Trở lại là em.

  • Giải thưởng sáng tác về đề tài lâm nghiệp (1983) với tập Tiếng rừng.

Giới thiệu một tác phẩm:

Ở ấp Thạnh Mỹ

Chiếc xe bò chở hai má con tôi lăn lọc cọc trên con đường cái mới, thẳng hướng vô ấp chiến lược Thạnh Mỹ. Trên xe chất lủng củng những đồ đạc vặt vãnh cần thiết cho một gia đình: bộ ván ngựa may mắn còn sót lại sau bao lần Mỹ - Thiệu cày ủi, đốt nhà, cái chum sành đựng gạo đã sứt miệng; đôi mủng bỏ quần áo, mùng mền và cả ba ông táo bằng đất sét nung...

Mới sáng ra mà nắng đã gay gắt. Con đường chạy qua những cánh đồng hoang, trơ trụi không một bóng cây, mỗi cơn gió thổi tới, bụi bốc mù lên. Tôi quay mặt lại, vừa để tránh bụi, vừa hỏi con gái tôi:

- Thuỷ, răng mi không đội nón?

Từ lúc ngồi lên xe, hai má con tôi đều im lặng. Tôi có suy nghĩ của tôi, nó có suy nghĩ của nó - nó đã mười hai tuổi rồi, lớn chưa thể gọi là lớn, nhưng bảo là bé chẳng biết gì, cũng không phải nữa. Suốt cả ngày hôm qua, mặc dù tôi đã bao lần trả lời nó: “Con im lặng để má dọn dẹp”, mà nó cứ hỏi lại miết một câu: “Răng lại vô ấp chiến lược, má?”. Thường ngày, tôi làm chi, nó ráng sức đỡ đần, vậy mà từ lúc biết chuyện dời nhà, nó chả chịu mó tay, mó chân vào chuyện gì hết. Nó cứ ngồi thu lu một chỗ, ôm lấy mái tóc sém nắng, đỏ cạch, thắt khăn ngang, in hệt như bây giờ nó ngồi thu lu trên mủng quần áo giữa lòng xe bò kia. Thấy nó không trả lời, tôi cầm cái nón bọc nhựa úp lên đầu nó.

- Má vô ấp thì má vô mình má! Con không thể ở được với thằng Gạt, với ba thằng nguỵ! - Nó hất cái nón bật vào ngực tôi rồi nhảy tọt xuống đường, chững lại, giương cặp mắt đầy nước nhìn thẳng vào tôi nghẹn giọng - Má đi... Con trở lại núi... vô núi cùng các cô chú đây! - Rồi nó quay mình, bỏ chạy.

Tôi hoảng hốt nhảy xuống xe, đuổi theo nó. Nước mắt tôi đổ ròng. Tôi vừa tức vừa thương con, lại vừa thương cả mình. “Làm thế nào để không hỏng việc đây!”. Chân đuổi theo con, miệng gọi tên con mà đầu óc tôi cứ rối cả lên.

Đuổi được nó rồi, giữ được nó rồi, đẩy nó lên được xe rồi, mà tôi cứ đứng lặng bên xe, tay nắm chặt dải khăn tang, mắt trân trân nhìn nó. Mười ngày qua, đã nhiều lần, tôi cũng đứng trân trân nhìn nó như thế này đây. Bây giờ nó ngồi trên xe, có lẽ cặp mắt của tôi đã khiến nó như hiểu được vì hành động không vâng lời của nó đã gây buồn giận cho tôi, nên nó đưa bàn tay nhỏ bé ra kéo tôi, miệng khẽ kêu:

- Má!... Má... á!

Tôi lên xe, vừa lau nước mắt vừa bảo nó:

- Thôi, nín đi con!

Nó không nói gì, cầm chiếc nón bọc nhựa úp sụp lên đầu, trông như một cây nấm.

Con bò thiến - thiến mà gầy khô - vươn cái cổ dài nhẵng ra kéo chiếc xe lọc cọc chở má con tôi lắc lư, lắc lư trên con đường vô ấp Thạnh Mỹ chạy qua những cánh đồng hoang, trơ trụi không một bóng cây, một cơn gió thổi, bụi bốc mù mù...

- Ủa bà Năm Dừa, bà vô ấp hồi nào mà tôi không hay? Thằng Gạt vừa ........ nhìn tôi.

Trông nó độ rày khác quá. Mới hồi tháng hai năm ngoái, nó còn cùng anh Bản - chồng tôi - chung tổ Đảng, chung công việc thôn xã, mặt mũi khá sáng sủa, nhất là đôi mắt nó trong trẻo lạ lùng. Vợ chồng tôi quý mến nó lắm. Thấy nó với dì Huệ có vẻ “bén” nhau, chúng tôi đều mừng. Cái Thuỷ thì một điều “cậu Gạt” hai điều “cậu Gạt” và còn đòi chúng tôi nhường cho cậu và dì hẳn một chái bên nhà khi nào cậu dì cưới nhau... Rồi không ngờ trong một trận giặc càn xúc dân lập ấp, nó bị bắt...

Dì Huệ được phân công vô ấp nắm dân và giữ liên lạc với anh Bản. Dì cũng có ý tìm nó, nhưng không rõ nó bị đưa đi đâu mất tích. Sáu tháng sau nó về ấp. Nó về đêm trước, rạng ngày dì Huệ đột ngột gặp nó ở nhà hội đồng. Chả rõ ngay, gian ra sao, dì Huệ chỉ chào nó quày quả, rồi mật báo cho anh Bản, qua lối bỏ thư ở Gò Mả, phía Tây Nam ấp. Lần sau đúng hẹn, anh Bản tới Gò Mả lấy tin. Nhưng lạ, mảnh thư cũ anh viết cho dì Huệ vẫn còn đó. Mấy lượt nữa, tối đi, nửa đêm hoặc gần sáng mới về, cũng thế. “Có điều chi không hay đến với dì Huệ rồi!”. Anh quyết định vô hẳn ấp để tìm.

Nơi xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên, 2004