Sách » Văn Học Trong Nước » Các nhà văn Việt Nam thế kỷ 20

Văn Lê

NHÀ VĂN VĂN LÊ

 

Tiểu sử:

Tên thật: Lê Chí Thuỵ

Năm sinh: 1949

Nơi sinh: Gia Viễn, Ninh Bình

Thể loại: Thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết

Các tác phẩm:

Một miền đất, một con người (1976)

Những ngày không yên tĩnh (1978)

Chuyện một người du kích (1980)

Bão đen (1980)

Đồng chí đại tá của tôi (1981)

Người gặp trên tàu (1982)

Khoảng thời gian tôi biết (1983)

Ngôi chùa ở Prátthana (1985)

Khoảng rừng có những ngôi sao (1985)

Hai người còn lại trong rừng (1989)

Tỉnh  yêu cả cuộc đời (1989)

Khi toà chưa tuyên án (1989)

Tiếng rơi của hạt sương khuya (1993)

Phải lòng (1994)

Nếu anh còn được sống (1994)

Chim Hồng Nhạn bay về (1996)

Những cánh đồng dưới lửa (1997)

Đồng dao thời chiến tranh (1999)

Cao hơn bầu trời (2004)

Những câu chuyện làng quê (2005)

Câu chuyện của người lính binh nhì (2006)

Giải thưởng văn chương:

Giải A cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ (1975-1976)

Giải B thơ  tạp chí Văn nghệ quân đội 1984

Giải A về thơ của Hội đồng văn học chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang , Hội nhà văn 1994

Tặng thưởng văn học của Bộ quốc phòng, 1994

Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng, 1999.

Giới thiệu một tác phẩm:

Đồng dao thời chiến tranh

 

Sau đợt pháo cuối cùng đánh trùm lên cánh rừng tràm thưa thớt dọc đôi bờ kênh Tám Ngàn, đại đội trưởng.

Lê Sỹ Quý mơ thấy mình trở về làng Hiền Lương - một ngôi làng nhỏ nhoi, mỏng manh với những mái rạ bạc phếch, nằm bên này dòng sông Đáy, tục gọi là sông Hát - nơi túm nhau của anh được chôn ở đó.

Đại đội trưởng đi theo lối mòn vắt qua vệ đê hướng đến con đường đất chạy ngoằn ngoèo giữa những hàng xoan nở hoa trắng ngắt, tỏa mùi hương hắc mù, dẫn tới nhà anh.

Mẹ anh - bà Bùi Thị Son - đang vớt bèo dưới ao, bất chợt ngửng lên, nhìn anh chằm chằm. Tim đại đội trưởng đập nhanh.

- Kìa mẹ! - Đại đội trưởng cất tiếng - Mẹ không nhận ra con sao? Con đây! Thằng cún Quý của mẹ đây mà!

- Anh đừng nên lừa mụ già lẩm cẩm này mà phải tội! - Bà nói một cách dửng dưng - Mụ không mắc lừa anh đâu. Anh không phải là thằng Quý. Thằng Quý con tôi đã chết rồi. Nó chết ở mặt trận phía Nam. Trong giấy báo tử, người ta đã viết như vậy.

- Họ nhầm đấy mẹ ạ! - Đại đội trưởng phân bua - con chính là thằng Quý đây mà. Con vừa mới được đơn vị cho về phép thăm mẹ. Mẹ lên đây, nhìn kỹ xem, con có phải là thằng Quý của mẹ không?

- Tôi không tin. - Bà mẹ khăng khăng - anh chẳng phải là con tôi. Con tôi là một thanh niên lễ phép. Nó không bao giờ dám ra lệnh cho mẹ nó cả.

Sự chối bỏ của người mẹ đã làm đại đội trưởng tỉnh giấc. Anh dụi mắt, nằm im, ráng nhớ lại những gì đã xảy ra trong cơn mơ, lòng bồi hồi, tiếc rẻ.

Có thể nói, kể từ ngày vào Nam chiến đấu đến nay, đây là lần đầu tiên đại đội trưởng mơ thấy mẹ và làng quê của mình. Giấc mơ có vẻ ảm đạm nhưng lại có sức xoa dịu kỳ lạ, làm cho anh cảm thấy vợi đi phần nào sự tàn khốc của chiến tranh.

Làng Hiền Lương, quê của đại đội trưởng ở cách làng Văn Cú nổi tiếng chừng năm cây số về phía đông. Khi sông Đáy chảy đến Kẽm Trống, thì bị núi Hồi Hạc chặn lại, làm cho dòng nước co thắt, tạo thành một cái vực xoáy, rút nước xuống âm ti.

Vào mùa lũ, cái vực ấy đã nhấn chìm vô số thuyền bè qua lại. Nhưng khi chảy đến làng Hiền Lương thì dòng nước lại trở nên êm đềm, trong vắt.

Vào thời nhà Mạc, Trình Quốc Công đi qua đây, thấy sông núi xum vầy, ưng ý lắm. Ngài nói với các vị bô lão trong làng rằng vùng đất này có "Long mạch hội tụ, vượng khí tuôn tràn, ngày sau tất sinh ra lắm hiền tài".

Vài năm sau, quan phủ An Viễn cho gọi thợ đá đến, sai làm một tấm bia, dựng trước miếu thờ thổ thần sát bến sông. Tấm bia đã bị thất lạc, nhưng lời lẽ văn vẻ của nó vẫn được các bậc cao niên trong vùng truyền tụng một cách rành rọt. Bia viết rằng: "Tổng Thanh Quyết và vùng phụ cận nằm ở ngã ba sông Hoàng Long và Hát Giang, phía tây có Lân Sơn và Phụng Sơn ngậm ngọc; phía đông bắc lại có Long Sơn, Quy Sơn phun châu, điềm báo ngày sau tất có lắm trạng nguyên".

Năm Minh Mạng thứ tư, mùa thu, tháng tám, Nguyễn Thánh Tổ Hoàng đế đi tuần du Bắc Hà, đến làng Hiền Lương, thấy cảnh sơn thủy hữu tình, ngài cho xa giá dừng lại, ngắm mãi vẫn không chán. Ngài cho gọi thổ ti lại hỏi chuyện và được biết là ngài đang ngự tại làng Thượng Chùa, tổng Thanh Quyết, phủ An Viễn, nguyên thuộc Thanh Hoa ngoại trấn.

- Có phải đất này có tứ linh, như Trình Tuyền Hầu từng phán đó không? Đức vua hỏi.

- Bẩm, phải, tâu Hoàng thượng! - Các thổ ti khúm núm nói.

- Có phải đây cũng là nơi mà Tả Ao thần đoán và Bùi Dám Trạch khâm sai từng ca ngợi trong cuốn "An Nam phong thủy" đó chăng?

- Tâu Hoàng thượng, đúng thế ạ!

Nghe chuyện, Đức Vua tỏ vẻ không vui. Ngài biết rằng đất này mai sau sẽ sinh ra "Thập bát quận công", những kẻ thâu tóm thiên hạ.

Suốt đêm ấy, Đức Vua trằn trọc, không ngủ. Sớm hôm sau, ngài giáng chiếu cho dân trong vùng đào một con sông dài chừng ba cây số, nói là để nắn lại khúc cong của dòng sông Đáy, nhưng tình thực là ngài muốn cắt long mạch, không cho vùng Thanh Hoa ngoại trấn phát tiết hiền tài.

Người ta đồn rằng: khi khởi công, trời nổi giông gió, sấm chớp đùng đùng, sóng dưới sông dựng ngược như gươm kề, giáo dựng.

Những con giải chồm lên, mắt sáng như đèn, miệng to như chậu, mình đầy những gai, vật vã trên sóng. Phu đào đất dàn thành hàng

ngang, kẻ cuốc, người khuân, đêm ngày nườm nượp. Khi khai lò được hơn một trượng thì đụng long mạch. Nước từ lòng đất trào tuôn, đỏ như máu, sau đó thẫm đen, có mùi tanh.

Mấy bữa sau, con voi của nhà vua đang cưỡi ăn phải kiến, đau bụng rồi lăn ra chết. Vua cho an táng trọng thể sát bên đường thiên lý.

Quan phủ An Viễn lo lắm, ra lệnh cho dân trong vùng đan một cái rọ bằng tre hình con voi, rồi bắt dân đem tiền bỏ vào cho đầy, để tạ lỗi với đức vua. Khốn thay, tiền bỏ vào rọ bao nhiêu cũng không đủ. Dân làng Thượng Chùa phải bán một nửa núi Long Sơn cho làng

Miễu Giáp mới đủ tiền. Sau này, làng Miễu Giáp yểm bùa, dựng lên một cây thánh giá cao hơn mười trượng tại đấy.

Trước tấm lòng của dân trong vùng, Đức Vua cảm động lắm. Ngài cho đổi tên làng Thượng Chùa thành làng Hiền Lương và làng Bột ở bên kia sông thành làng Đoan Vĩ.

Khi khúc sông đào gần xong, thì nước ập vào, dìm chết hơn một trăm dân đinh trong vùng. Đức Vua rất lấy làm đau xót. Ngài cho lập đàn tràng ở ven sông, tế lễ suốt bảy ngày liền. Lại sai dân hàng mã làm thuyền bè, đàn ông, đàn bà, quần áo, nón mũ bằng giấy, thả xuống sông để an ủi người quá cố. Trong buổi lễ, bọn trẻ con trong làng cũng bắt chước người lớn lấy mo cau, bọ bèn, thả xuống sông.

 

 

 

 

PDFHero.com - Chuyển đổi PDF sang Word miễn phí